Một vụ nổ đã xảy ra tại kho vũ khí hoàng gia vào đầu tháng Năm. Sau này, tôi nghe kể rằng một viên lính gác đã bất cẩn đặt ngọn đuốc nhầm chỗ và một phút sau, khối tổng hợp thuốc súng cùng súng trường lớn nhất tại Paris nổ tung, tạo nên tiếng ầm chấn động khiến bẩy bồ câu ở Notre Dame[1] cũng phải giật mình.
Tôi không nghe thấy tiếng nổ tại nơi làm việc, bên trong nhà thương Des Anges, nhưng chắc chắn tôi có nghe thấy tiếng vang của nó. Mặc dù bệnh viện nằm ở phía bên kia thành phố, nhưng khi những bệnh viện khác đã quá tải thì rất nhiều nạn nhân đã được chuyển đến chỗ chúng tôi. Với vết thương hở hoặc bị bỏng, họ rên rỉ trong lòng những chiếc xe goòng hay trên những cái cáng tạm do bạn bè khiêng đi qua các con phố.
Trời đã tối mịt trước khi nạn nhân cuối cùng được chăm sóc và thi thể quấn băng gạc cuối cùng được nhẹ nhàng đặt xuống giữa dãy xác người vô danh đã sinh dòi trong bệnh viện.
Sau khi thấy lượng công việc đồ sộ đang chờ đợi các xơ tại bệnh viện, tôi phái Fergus chuyển lời nhắn mình sẽ về trễ. Cậu nhóc quay lại cùng với Murtagh, cả hai thơ thẩn trên các bậc thang phía bên ngoài chờ đợi để hộ tống chúng tôi về nhà.
Mary và tôi uể oải bước ra từ sau đôi cánh cửa lớn, thấy Murtagh đang biểu diễn cho Fergus xem thuật phi dao của mình.
“Tiếp theo,” ông nói, vẫn đang quay lưng về phía chúng tôi. “Đứng thẳng hết mức có thể, rồi đếm đến ba. Một… hai… ba!” Vào lúc tiếng “ba” vang lên, Fergus ném ra củ hành lớn màu trắng đang cầm trong tay làm nó rơi xuống đất, bật lên và nẩy dài trên mặt đất gồ ghề.
Murtagh đứng thả lỏng, một cánh tay đưa ra sau trông y như một con gà trống còn con dao găm thì được kẹp giữa các đầu ngón tay. Khi củ hành nẩy lên, cổ tay ông phất một cái, nhanh và mạnh mẽ. Ngoài cổ tay, toàn thân ông đều bất động, ngay cả nếp vải trên chiếc váy, nhưng củ hành đã bị con dao xuyên thủng, nẩy bật lên và rơi xuống một cú trí mạng, khẽ lăn yếu ớt trên lớp đất bụi dưới chân.
“T-tuyệt vời, ông Murtagh!” Mary hô to và mỉm cười. Murtagh bị giật mình, quay lại, tôi có thể thấy đôi má hóp của ông hơi ửng hồng, dưới ánh sáng từ cánh cửa đôi lớn phía sau lưng.
“Ừm,” ông đáp.
“Thật xin lỗi vì để hai người phải chờ lâu,” tôi nói. “Sắp xếp chu đáo cho mọi người tốn khá nhiều thời gian.”
“Ồ, phải,” người tộc viên nhỏ bé trả lời cộc lốc. Ông quay sang Fergus. “Này nhóc, tốt nhất chúng ta nên kiếm một cái xe ngựa, giờ này đã quá muộn để các quý cô dạo bộ.”
“Chẳng có chiếc nào ở đây đâu,” Fergus nhún vai đáp. “Cháu đã đi ngược đi xuôi con phố này cả tiếng qua; mọi xe trống trong thành phố đều tới kho vũ khí cả. Có thể chúng ta sẽ đón được một chiếc trên đường Faubourg St.-Honoré đấy.” Cậu nhóc chỉ xuôi theo con phố, lối đi tới con phố kế bên là một khoảng không hẹp tối tăm nằm giữa các tòa nhà. “Đường kia sẽ đi nhanh hơn.”
Sau một thoáng ngập ngừng suy nghĩ, Murtagh gật đầu đồng ý. “Được rồi, nhóc. Vậy thì đi thôi.”
Bên trong con hẻm, không khí thật lạnh lẽo. Mặc dù đêm không trăng nhưng tôi có thể thấy hơi thở của mình bay lên thành nhiều đám sương nhỏ màu trắng. Dẫu Paris có tối tăm đến mấy thì vẫn luôn tồn tại ánh sáng ở một nơi nào đó, những tia sáng từ đèn hay ánh nến len qua các cánh cửa chớp và khe hở trên các bức tường của tòa nhà bằng gỗ, ánh sáng tụ lại quanh các quầy hàng của những người bán dạo, hay tỏa ra từ những chiếc lồng đèn nhỏ bằng sắt và sừng tấm, được treo nơi đuôi xe kéo hai bánh hoặc trên những cây móc của xe ngựa bốn bánh.
Phố tiếp theo là một khu buôn bán. Dù bên này hay bên kia đường, các ông chủ của dãy sạp hàng phong phú đều treo những chiếc đèn lồng bằng sắt thủng lỗ, ở phía trên cánh cửa cũng như lối vào bãi hàng. Bởi họ không tin lực lượng cảnh vệ có thể bảo đảm an toàn cho tài sản của mình nên vài thương nhân thường cùng nhau thuê chung một người trông nom, chuyên canh giữ tài sản của họ vào ban đêm. Lúc trông thấy bóng dáng của một người gác đêm trước tiệm làm buồm, đang ngồi khom lưng trong bóng tối phía trên đỉnh chồng vải bọc, tôi gật đầu đáp lại lời chào ngắn ngủn của ông ta: “Bonsoir[2], ông bà.”
Nhưng khi chúng tôi đã đi qua đó, tôi bỗng nghe thấy một tiếng thét cảnh báo từ người bảo vệ ấy.
“Ông! Bà!”
Murtagh quay phắt lại để đối đầu với thách thức, thanh kiếm đã rút ra khỏi vỏ. Phản xạ của tôi chậm hơn, nên xoay được nửa vòng thì đã thấy ông bước tới. Ánh mắt của tôi chỉ kịp bắt lấy một cái bóng lao ra từ khung cửa sau lưng ông. Cú đánh giáng xuống Murtagh từ phía sau, trước khi tôi kịp hét lên cảnh báo thì ông đã nằm dài trên mặt đường, hai cánh tay cùng đôi chân buông thõng, bất lực, còn thanh kiếm và con dao găm bay khỏi tay ông, lách cách trên mặt đá.
Tôi cúi gập người khi con dao trượt qua chân, nhưng một đôi tay đã tóm lấy tôi từ phía sau.
“Xem thằng cha đó thế nào,” giọng ra lệnh vang lên đằng sau tôi. “Nhanh lên!”
Tôi giật mạnh người khỏi bàn tay đang siết lấy mình, nhưng đôi tay đó đã nắm cổ tay tôi và vặn xoắn chúng thật chặt, khiến tôi khóc thét lên. Một vệt trắng tựa bóng ma xuất hiện trên con phố mờ ảo, “gã bảo vệ” khom người trên cơ thể sõng soài của Murtagh, hai tay hắn kéo lê dải vải trắng.
“Cứu!” Tôi hét lên. “Để ông ấy yên! Cứu! Bọn cướp! Lũ giết người! CỨU!”
“Yên nào!” Một cái tát đột ngột giáng xuống làm đầu óc tôi quay cuồng trong chốc lát. Khi nước mắt đã ngừng chảy, tôi nhận ra một cái bọc dài màu trắng, có hình dáng tựa thanh xúc xích đang nằm trong rãnh nước; Murtagh bị bọc và trói gọn trong chiếc túi vải buồm. Tên bảo vệ giả cúi lom khom trên người ông, sau đó hắn đứng thẳng dậy, cười ngoác miệng đến tận mang tai. Giờ thì tôi có thể thấy hắn đeo mặt nạ, một mảnh vải tối màu kéo dài từ trán đến môi trên.
Khi hắn nhổm dậy, tia sáng yếu ớt từ chiếc đèn lồng treo gần đó rọi xuống cơ thể hắn. Bất chấp cái lạnh buổi đêm, tên này chỉ mặc độc chiếc áo sơ mi màu xanh ngọc lục bảo, ánh sáng nhập nhoạng phản chiếu từ lớp vải bóng, bên dưới nó là một cái quần lửng cài khóa ở đầu gối, hai chiếc tất lụa cùng đôi giày da làm tôi kinh ngạc, bởi tôi đã tưởng tượng hắn đi chân trần hay mang guốc. Vậy thì hắn không phải kẻ cướp đơn thuần.
Tôi liếc sang Mary ở bên cạnh. Một kẻ bịt mặt đang kẹp chặt cô ấy từ đằng sau. Một cánh tay ôm ngang bụng, tay kia sục sạo phía dưới những lớp váy như con thú đang đào bới.
Gã ở trước mặt đưa bàn tay ra sau đầu tôi một cách duyên dáng và kéo tôi lại gần. Chiếc mặt nạ che phủ đầu hắn từ trán tới môi trên, chỉ để hở phần miệng bởi một lý do hiển nhiên. Lưỡi của hắn chọc vào miệng tôi, đẫm vị rượu và hành. Tôi thấy buồn nôn, cắn nó và nhổ nước bọt ngay khi cái lưỡi được rút ra. Hắn tát tôi một cái thật mạnh, đánh tôi quỵ gối xuống rãnh nước.
Đôi giày cài khóa bạc của Mary đang tung cước loạn xạ gần mũi tôi, trong lúc tên vô lại giữ cô ấy không màng phép lịch sự, tốc mạnh váy của cô lên trên phần eo. Tiếng vải xa tanh bị xé, rồi một tiếng thét lớn vang lên lúc ngón tay hắn ta thọc vào giữa cặp đùi run rẩy của cô.
“Một trinh nữ! Tôi bắt được một con trinh nữ!” Hắn vui mừng kêu. Một trong số chúng khom người trước Mary với vẻ mỉa mai.
“Thưa quý cô, tôi xin chúc mừng! Chồng của cô sẽ phải cảm ơn chúng tôi trong đêm tân hôn, khi anh ta nhận ra rằng không có vật khó chịu nào cản trở niềm hân hoan của mình. Nhưng chúng tôi là người vị tha - chúng tôi chẳng yêu cầu lời cảm ơn nào cho màn thể hiện bổn phận này. Sự phục vụ này có niềm vinh hạnh riêng của nó.”
Nếu tôi cần điều gì khác ngoài một đôi tất lụa, để hiểu ra bọn người tấn công chúng tôi không phải những tên cướp đường, thì đó chính là lời phát biểu này - cùng những tràng cười vang. Nhưng khớp những cái tên với các khuôn mặt đeo mặt nạ lại là một chuyện khác.
Hai bàn tay đang kéo tôi đứng dậy được cắt tỉa móng cẩn thận, với một nốt ruồi nhỏ giữa ngón trỏ và ngón cái. Tôi phải ghi nhớ điều này, dứt khoát phải nhớ. Nếu chúng tôi sống sót sau mọi chuyện, chi tiết đó có thể hữu dụng.
Có kẻ túm lấy cánh tay tôi từ phía sau rồi kéo mạnh làm tôi khóc thét. Tư thế này khiến bộ ngực của tôi nổi rõ qua phần cổ áo khoét sâu như thể chúng được bày ra trên đĩa.
Gã đàn ông có vẻ là kẻ cầm đầu cuộc tấn công mặc một chiếc áo sơ mi rộng thùng thình màu nhạt, được điểm xuyết bằng những đốm tối màu hơn - có lẽ chúng được thêu vào đó. Chiếc áo khiến hình ảnh của hắn mơ hồ trong bóng tối và khó nhìn rõ. Khi hắn khom người, đưa một ngón tay chạy ngang qua hai đầu nhũ hoa của tôi, tôi thấy mái tóc đen bóng nhẫy nằm bẹt trên trán hắn và ngửi được mùi sáp thơm nồng nặc. Hắn có đôi tai lớn nên có thể giữ hai bên dây đeo của chiếc mặt nạ rất chắc chắn.
“Đừng lo cho bản thân, quý bà ạ,” Áo Đốm nói. “Chúng tôi không định làm hại bà; chúng tôi chỉ muốn tặng bà một bài tập nhỏ, nhẹ nhàng thôi - phu quân hay chồng sắp cưới của bà sẽ chẳng bao giờ biết - rồi chúng tôi sẽ thả bà ra.”
“Trước nhất, bà có thể ban cho chúng tôi được ưu ái bờ môi ngọt ngào kia, thưa quý bà,” hắn ta nói, bước lùi ra sau và giật mạnh sợi dây buộc quần.
“Không được đâu,” Áo Xanh phản đối, chỉ vào tôi. “Ả cắn đấy.”
“Không đâu, nếu ả ta muốn giữ lại răng của mình,” bạn hắn đáp. “Quỳ xuống, quý bà, xin vui lòng.” Hắn ấn mạnh vai tôi xuống, nhưng tôi lùi bước, lảo đảo trượt chân. Hắn đưa tay ra kéo tôi lại, phần mũ trùm kín đầu trên chiếc áo khoác rơi ra, tóc tôi xõa tung. Các ghim cài đã bị nới lỏng trong lúc giằng co, chiếc mũ rơi xuống hai vai tôi, mấy sợi dây buộc bay phấp phới như những tấm băng rôn trong gió đêm, che mắt tôi mỗi khi chúng quất ngang qua mặt.
Tôi loạng choạng bước xa dần gã tấn công và lắc đầu để hai mắt nhìn rõ. Tuy con phố tối đen nhưng tôi có thể trông thấy một vài thứ dưới ánh sáng mờ nhạt của những chiếc đèn lồng đang lách qua các khe chớp trên những ô cửa sổ của các quầy hàng, hay dưới ánh sao sáng xuyên qua bóng tối chiếu xuống con phố.
Đôi giày cài khóa bạc của Mary bắt sáng khi cô bé đá vung loạn xạ. Cô nằm ngửa, cố gắng chống cự một gã đàn ông đang đè lên người mình, trong khi hắn ta vừa chửi thề vừa tìm cách tụt quần xuống mà vẫn giữ cô trong tầm kiểm soát. Tiếng xé vải vang lên, cái mông của hắn trắng lờ nhờ dưới ánh sáng tỏa ra từ một cổng vườn.
Có hai cánh tay bỗng ôm chầm lấy eo tôi, kéo tôi giật lùi lại, cùng lúc đó, nhấc tôi lên khỏi mặt đất. Tôi đập gót chân vào ống quyển của hắn, khiến hắn kêu ré lên oán giận.
“Giữ lấy ả!” Áo Đốm ra lệnh, bước ra khỏi bóng tối.
“Mày đi mà làm!” Tên bắt giữ quăng tôi một cách thô lỗ vào vòng tay của gã bạn, ánh sáng từ khu vườn chiếu thẳng vào, khiến tôi nhất thời bị lóa mắt.
“Mẹ kiếp!” Hai bàn tay đang tóm lấy cánh tay tôi buông ra, tôi liền giằng mạnh và thấy Áo Đốm há hốc miệng sửng sốt bên dưới chiếc mặt nạ. Hắn lùi xa dần khỏi tôi, làm dấu thánh giá trong khi di chuyển.
“In nomine Patris, et Filii, et Spiritus Sancti[3],” hắn lắp bắp và làm dấu thánh giá hết lần này tới lần khác. “La Dame Blanche!”
“La Dame Blanche!” Gã phía sau tôi lặp lại tiếng thét đó bằng giọng điệu khiếp đảm.
Áo Đốm vẫn bước giật lùi, lúc này gã làm những biểu tượng mang ít tính chất Công giáo hơn dấu thập tự ở giữa không trung, nhưng có lẽ chúng có cùng một mục đích. Vừa chỉ vào tôi bằng mấy ngón tay theo một biểu tượng cổ xưa tạo nên hình tượng một cái sừng nhằm chống lại loài quỷ dữ, hắn ta vừa liệt kê đều đều danh sách các thế lực tâm linh, từ Chúa Ba Ngôi đến các quyền năng có cấp bậc thấp hơn nhiều, hắn lẩm bẩm những cái tên Latin quá nhanh khiến cho các âm tiết líu ríu không rõ ràng.
Tôi đứng trên phố, run rẩy và bàng hoàng, tới khi một tiếng hét kinh hãi từ mặt đường gần đó gọi ý thức của tôi quay trở lại. Bởi quá bận rộn với công việc của bản thân mà gã đàn ông trên người Mary không để tâm đến những chuyện quanh mình, hắn phát ra một tiếng rên từ yết hầu thể hiện sự thỏa mãn và bắt đầu di chuyển hông thật nhịp nhàng, kéo theo đó là những tiếng thét xé họng của Mary.
Tôi hành động hoàn toàn theo bản năng, tiến một bước tới chỗ hai người, đưa chân ra sau và đá mạnh hết mức có thể vào mạng sườn hắn. Hắn giật mình, thở hắt ra “hộc!” một tiếng rồi vật người sang bên.
Một gã bạn lao tới, chộp lấy cánh tay hắn, hét lên giục giã: “Nhanh! Nhanh! Là La Dame Blanche! Chạy thôi!”
Nhưng hắn vẫn còn chìm trong trạng thái mê loạn, đôi mắt đờ đẫn cố gắng quay lại nhìn Mary, cô ấy đang quằn quại, vặn vẹo điên loạn, cố phủi phẳng những nếp nhăn trên chiếc váy bị đè bẹp. Cả Áo Xanh và Áo Đốm cùng kéo hai cánh tay gã tấn công cô, đỡ hắn đứng dậy. Chiếc quần ống túm bị rách của hắn rũ xuống ngang bắp đùi, còn “cây gậy” vấy máu của hắn đang run rẩy trong niềm say mê vô tri, giữa hai vạt áo dài.
Cuối cùng thì tiếng chân người chạy lộp cộp đã đánh thức được hắn. Hai kẻ giúp đỡ hắn nghe thấy tiếng động liền thả cánh tay của gã bạn ra, hấp tấp chạy trốn, bỏ mặc tên này cho số phận định đoạt. Hắn buông một tiếng chửi thề, cũng tìm đường lẩn vào con ngách gần nhất, vừa tưng tưng vừa tập tễnh[4], cố gắng kéo mạnh chiếc quần ống túm lên quanh eo.
“Au secours! Au secours! Gendarmes![5]” Một giọng thất thanh vang lên từ con ngách nhỏ, kêu gọi sự giúp đỡ, trong khi chủ nhân giọng nói đó dò dẫm tìm đường tới chỗ chúng tôi, rồi vấp ngã trên đống rác. Tôi không nghĩ rằng một tên cướp đường hay một gã vô lại khác sẽ lảo đảo bước ra từ con ngách và hét gọi cảnh binh, dù trong tình trạng chấn động hiện tại thì không một điều gì có thể khiến tôi ngạc nhiên cả.
Nhưng tôi đã ngạc nhiên, khi bóng đen lao ra khỏi con ngách dần hiện rõ là Alexander Randall, trong chiếc áo choàng không tay màu đen với chiếc mũ bẻ vành. Anh ta đưa mắt nhìn như điên dại quanh con đường cụt nhỏ, từ Murtagh trông như một túi rác rưởi đến tôi đang tê liệt và thở hổn hển tựa vào tường, rồi đến hình thù co rúm của Mary gần như vô hình giữa những cái bóng xung quanh. Anh ta đứng sững một lúc, lao tới, trèo lên cái cổng sắt mà bọn tấn công hiện ra từ đó. Tại đỉnh cánh cổng, anh ta có thể chạm tới chiếc đèn đường treo ở xà nhà phía trên cao.
Ánh sáng là một nguồn an ủi; cho dù khung cảnh hiện ra thật chua xót, nhưng ít nhất nó đã trục xuất đi thứ bóng tối đang lẩn khuất mà bất cứ lúc nào cũng lăm le trở thành những mối nguy hiểm mới.
Mary đang quỳ gối trên đường và cuộn tròn người lại. Cô vùi đầu vào hai cánh tay, toàn thân run lẩy bẩy và không phát ra âm thanh nào. Trên lớp sỏi bên cạnh, một chiếc giày có khóa bạc lấp lánh dưới ánh sáng đung đưa của chiếc đèn lồng.
Như loài chim báo điềm dữ, Alex sà xuống bên cạnh cô.
“Cô Hawkins! Mary! Cô Hawkins! Cô có sao không?”
“Những câu hỏi ngớ ngẩn chết tiệt,” tôi cộc cằn nói. Cô ấy bắt đầu rên rỉ và thu mình lánh xa anh ta. “Tất nhiên là cô ấy có sao. Cô ấy vừa bị cưỡng hiếp.” Cố gắng hết sức mình, tôi buộc bản thân phải rời khỏi bức tường thoải mái đang tựa sau lưng để đi tới chỗ họ, nhưng dù không để tâm thì tôi vẫn nhận thấy hai đầu gối của mình đang chao đảo.
Chúng hoàn toàn khuỵu xuống khi một dáng người to lớn tựa loài dơi khổng lồ sà chân xuống lớp sỏi trước mặt tôi, một tiếng uỵch chắc nịch vang lên.
“Chà, chà, xem ai ghé qua đây!” Tôi nói, bật cười chếnh choáng. Đôi bàn tay to lớn tóm lấy hai vai tôi, lắc mạnh.
“Yên nào, Sassenach,” Jamie nói, đôi mắt xanh u ám và dữ tợn hiện ra dưới ánh sáng đèn lồng. Anh đứng thẳng dậy, những nếp vải nhung xanh đổ xuống sau vai khi anh giơ hai cánh tay về phía mái nhà mà anh vừa từ đó nhảy xuống. Nếu kiễng chân thì anh sẽ nắm được gờ của nó.
“Được rồi, xuống đây đi!” Anh sốt ruột gọi và ngước nhìn. “Đặt bàn chân lên hai vai ta và cháu có thể trượt lưng xuống.” Tiếng những viên ngói bị long rin rít và dáng người nhỏ bé màu đen vặn vẹo bước thật cẩn thận, trèo xuống thân hình cao lớn của Jamie, tựa như con khỉ trên cành cây.
“Tốt lắm, Fergus!” Jamie thuận tay vỗ lên vai cậu nhóc, dù trong ánh sáng lờ mờ tôi cũng có thể thấy hai má cậu bé bừng sáng bởi hạnh phúc. Jamie xem xét khung cảnh xung quanh bằng ánh mắt của một nhà chiến lược, sau đó sai chú bé chạy ra đầu ngách để tiếp tục chờ cảnh binh đến. Chuyện bọn tấn công đã được giải quyết, anh đến ngồi bên tôi.
“Em ổn chứ, Sassenach?” Anh hỏi.
“Em rất vui vì được anh hỏi thăm,” tôi lịch sự đáp. “Em ổn, cảm ơn. Nhưng cô ấy thì không.” Tôi hất tay về phía Mary. Cô ấy vẫn cuộn tròn như một quả bóng, rùng mình và run rẩy tựa như miếng thạch đang tan chảy trong khi Alex vụng về cố gắng an ủi cô.
Jamie chỉ liếc mắt nhìn cô ấy một lần. “Anh thấy rồi. Murtagh ở chốn quái quỷ nào thế?”
“Bên đó,” tôi đáp. “Giúp em đứng dậy.”
Tôi lảo đảo bước đến chỗ rãnh nước mà cái bao đựng Murtagh bị kéo tới, nó đang cựa quậy như một con sâu bướm bị kích động và phát ra một hỗn hợp những tiếng chửi tục tĩu bằng ba thứ ngôn ngữ.
Jamie lôi ra con dao găm, rạch cái bọc từ đầu này tới đầu kia, có vẻ chẳng mấy quan tâm đến sự an toàn của người bên trong. Murtagh bật ra khỏi lỗ hổng như hình nộm bật ra khỏi hộp. Nửa mái tóc đen trên đỉnh đầu của ông đã dính bết thứ chất lỏng hôi thối ở chỗ cống vừa nằm. Phần tóc còn lại dựng đứng lên làm khuôn mặt đã biểu hiện đầy đủ sự hiếu chiến bởi một vết bầm tím lớn trên trán và một con mắt thâm quầng càng tăng thêm phần dữ tợn.
“Ai đánh ta?” Ông ta quát.
“Chà, không phải cháu,” Jamie trả lời, nhướng một bên lông mày. “Đến đây, ông bạn già, chúng ta không có cả đêm đâu.”
•••
“Chuyện này không thể được,” tôi càu nhàu, đâm bừa những chiếc ghim cài đính kim cương lên tóc. “Cô ấy phải được chăm sóc y tế đã. Cô ấy cần một bác sĩ!”
“Cô ấy có mà,” Jamie khẳng định, hếch cằm lên, nhìn xuống qua sống mũi trong khi soi gương để thắt khăn cà vạt quanh cổ. “Em.” Chiếc khăn được buộc xong, anh cầm lấy lược, vội vã chải mái tóc dày gợn sóng màu hung đỏ của mình.
“Không có thời gian để bện tóc nữa,” anh cằn nhằn, túm lấy đuôi tóc dày sau đầu rồi lục lọi trong ngăn kéo. “Em có mảnh ruy băng nào không, Sassenach?”
“Để em.” Tôi nhanh chóng đi ra sau lưng anh, gập phần đuôi tóc lại, bọc nó bằng dải ruy băng xanh. “Giữa đêm đẫm máu lại tổ chức một tiệc tối!”
Không chỉ là một bữa tiệc tối thôi đâu. Công tước Sandringham vốn là khách mời danh dự nên bữa tiệc tuy nhỏ nhưng là để dành riêng chào đón ông ta. Ông Duverney đang đến cùng con trai lớn, một chủ ngân hàng nổi tiếng. Louise và Jules de La Tour tới cùng vợ chồng d’Arbanville. Để làm mọi việc thêm phần thú vị, Bá tước St. Germain cũng được mời tới.
“St. Germain!” Tôi đã rất ngạc nhiên khi nghe Jamie thông báo hồi tuần trước. “Để làm gì cơ chứ?”
“Anh có việc với hắn,” Jamie nói. “Hắn từng đến dùng bữa tối với Jared. Nhưng điều anh muốn là có cơ hội quan sát khi hắn nói chuyện với em. Từ những gì anh thấy trong công việc, hắn không phải là người che giấu được suy nghĩ của mình.” Anh nhặt lên viên pha lê trắng mà ông Raymond đã cho tôi, thận trọng xem xét nó trong lòng bàn tay.
“Nó đủ đẹp,” anh nói. “Anh sẽ đặt nó vào một mặt dây chuyền bằng vàng để em có thể đeo trên cổ. Hãy nghịch sợi dây trong bữa tiệc cho tới khi có người hỏi chuyện, Sassenach. Kể với họ công dụng của nó và phải đảm bảo rằng em quan sát được khuôn mặt của St. Germain khi đó. Nếu hắn là người đầu độc em ở Versailles thì anh nghĩ chúng ta sẽ thu được vài biểu hiện nào đó.”
Điều tôi muốn lúc này là được yên tĩnh và cách biệt hoàn toàn, trốn ở một nơi có thể run rẩy như một chú thỏ. Nhưng điều tôi có hiện giờ lại là bữa tiệc tối cùng vị Công tước là người theo phái Jacobite hoặc một mật vụ Anh, một Bá tước có thể là kẻ đầu độc và một nạn nhân bị cưỡng hiếp đang giấu mình trên gác. Hai tay tôi run lẩy bẩy, không thể cài khóa sợi dây có mặt đá pha lê. Jamie bước tới đằng sau và chỉ với một cú gõ nhẹ bằng ngón tay cái, anh đã gài xong.
“Anh không lo sợ chút nào sao?” Tôi gặng hỏi. Anh nhăn nhó với tôi ở trong gương và đặt hai bàn tay lên bụng.
“Có chứ. Nhưng nó ở trong lòng, không phải ở trên tay. Em có thứ gì trị chứng đau bụng không?”
“Bên đó.” Tôi phẩy tay về phía hộp thuốc trên bàn, vẫn để mở từ lúc lấy thuốc cho Mary. “Chai nhỏ màu xanh. Một thìa đầy.”
Anh bỏ qua chiếc thìa, nghiêng chai và uống liền mấy ngụm thuốc, rồi hạ cái chai xuống và hé mắt nhìn vào dung dịch bên trong.
“Chúa ơi, thứ này hôi quá! Em sắp xong chưa, Sassenach? Khách khứa sẽ đến sau ít phút nữa.”
Bây giờ, Mary đang được giấu trong một căn phòng trống trên tầng hai. Tôi đã kiểm tra các vết thương của cô ấy thật cẩn thận, hình như chỉ có những vết thâm tím và cú sốc, tôi cho cô ấy một liều lớn si rô anh túc để có hiệu quả ngay tức thì.
Alex Randall đã từ chối mọi cố gắng của Jamie muốn đưa anh ta về nhà. Thay vào đó, anh ta được cắt cử canh gác Mary với những hướng dẫn chặt chẽ và dặn dò phải tìm tôi khi cô ấy tỉnh dậy.
“Làm thế quái nào mà gã ngốc đó lại tình cờ có mặt nhỉ?” Tôi hỏi, sục sạo trong ngăn kéo để tìm một hộp phấn.
“Anh có hỏi anh ta chuyện đó,” Jamie đáp. “Có vẻ chàng ngốc tội nghiệp đã phải lòng Mary Hawkins. Anh ta theo chân cô ấy đi lại khắp thành phố và ủ rũ như một bông hoa héo khi hay tin cô ấy sẽ cưới Marigny.”
Tôi làm rơi hộp phấn trang điểm.
“A-a-anh ta phải lòng cô ấy?” Tôi khục khặc nói, phe phẩy tay để xua đi đám mây phấn đang lơ lửng bay trong không khí.
“Anh ta nói thế và anh không thấy có lý do nào để nghi ngờ,” Jamie đáp, vội vàng phủi lớp bụi trên ngực áo của tôi. “Khi kể với anh, anh ta hơi quẫn trí.”
“Đáng lẽ em phải nhận ra điều đó mới phải.” Giờ đây, giữa một đám cảm xúc hỗn độn đang lấp đầy tâm trí, tôi còn thêm vào đó lòng thương cảm đối với Alex Randall. Tất nhiên anh ta sẽ không thổ lộ với Mary, hãy nghĩ về sự thành tâm của một viên thư ký bần hàn, chẳng có gì để so sánh với gia sản cũng như địa vị của nhà Gascogne. Vào lúc này, anh ta cảm thấy thế nào khi chứng kiến cô ấy phải chịu sự tấn công hung bạo gần như ngay trước mặt mình?
“Tại sao anh ta không nói ra chứ? Cô ấy sẽ ngay lập tức bỏ trốn cùng anh ta mà.” Vị cha phó người Anh nhợt nhạt đó hiển nhiên chính là đối tượng “tinh thần” của lòng sùng kính không lời của Mary.
“Randall là một quý ông,” Jamie đáp, trao cho tôi chiếc lông vũ và hộp phấn.
“Anh muốn nói anh ta là một con lừa đần độn?” Tôi nhận xét khắt khe.
Jamie mím môi. “Chà, có thể,” anh đồng tình. “Anh ta còn là một người nghèo; chẳng có thu nhập để nuôi vợ, nên gia đình cô ấy sẽ từ cô ấy thôi - họ chắc chắn sẽ làm vậy nếu cô ấy bỏ trốn cùng Alex Randall. Vả lại, sức khỏe của anh ta cũng yếu nên rất khó để kiếm được một công việc khác, có khả năng ngài Công tước sẽ sa thải anh ta mà không cần suy nghĩ.”
“Chắc họ sẽ sai gia nhân đi tìm cô ấy,” tôi nói, quay trở lại với nỗi lo ban đầu để tránh phải nghĩ tới tấn bi kịch mới này.
“Không đâu. Tất cả đều đang bận phục vụ và sáng mai cô ấy có thể hồi phục đủ để quay về nhà chú mình. Anh đã gửi tin rồi,” anh nói thêm, “thông báo rằng cô ấy đang ở nhà một người bạn và giờ đã trễ nên họ không cần đi tìm cô ấy.”
“Vâng, nhưng…”
“Sassenach!” Anh đặt tay lên hai vai để ngăn tôi lại, nhìn thẳng vào mắt tôi trong gương. “Chúng ta không thể để bất kỳ ai phát hiện ra cô ấy trước khi cô ấy có thể nói năng và hành xử như bình thường. Nếu để mọi người biết chuyện đã xảy ra thì thanh danh của cô ấy sẽ bị hủy hoại hoàn toàn.”
“Thanh danh của cô ấy! Đó không phải lỗi của Mary khi cô ấy bị cưỡng hiếp!” Giọng tôi khẽ run, hai bàn tay trên vai tôi siết chặt thêm.
“Đúng là thế, Sassenach, nhưng thói thường là vậy. Nếu để người ta biết việc này thì cô ấy cũng không hơn gì một ả hầu gái và sẽ không người đàn ông nào muốn cưới cô ấy. Cô ấy sẽ bị ruồng bỏ và sống như một bà cô tới những ngày cuối đời.” Hai bàn tay anh lại siết chặt vai tôi, sau đó chuyển sang giúp tôi gài một cây ghim lên mái tóc đang được giữ nếp tạm thời.
“Đó là tất cả những gì chúng ta có thể làm cho cô ấy, Claire,” anh nói. “Giữ cô ấy tránh khỏi tổn thương, chữa trị hết mức có thể và tìm ra tên khốn nạn bẩn thỉu đã gây ra chuyện này.” Anh quay đi, bới tìm chiếc ghim cài trong cái tráp nhỏ. “Chúa ơi,” anh khẽ nói thêm, “em nghĩ anh không biết chuyện này là thế nào đối với cô ấy sao? Hay đối với anh ta?”
Tôi đặt tay mình lên tay anh và nắm lấy những ngón tay đang dò dẫm tìm kiếm. Anh cũng nắm chặt tay tôi rồi nâng lên, đặt một nụ hôn lên đó.
“Trời ạ, Sassenach! Tay của em lạnh như tuyết vậy.” Anh xoay người tôi để nhìn thẳng vào mặt tôi một cách nghiêm túc. “Em ổn chứ, em yêu?”
Điều gì đó trên nét mặt tôi khiến anh phải lẩm bẩm “Chúa ơi” lần nữa, rồi khuỵu gối và kéo tôi tựa vào vạt áo xếp nếp trên ngực mình. Tôi từ bỏ việc giả bộ dũng cảm mà níu chặt lấy anh, vùi mặt vào hơi ấm từ nếp áo hồ bột kia.
“Ôi, Chúa ơi, Jamie. Em sợ. Em đang rất sợ. Ôi, Chúa ơi, em ước gì anh có thể yêu em ngay lúc này.”
Lồng ngực của anh rung lên bên dưới má tôi bởi một tràng cười lớn, nhưng anh ôm tôi chặt hơn.
“Em nghĩ nó giúp ích được à?”
“Vâng.”
Thực ra, tôi cho rằng mình sẽ chẳng thể cảm thấy an toàn lần nữa, cho đến khi được nằm trong sự che chở của chiếc giường, với ngôi nhà yên tĩnh bảo vệ chúng tôi, cảm nhận sức mạnh và hơi nóng của anh bao quanh và ở bên trong người mình, củng cố lòng dũng cảm của bản thân bằng niềm hoan lạc, quét sạch nỗi kinh hãi vì sự bất lực cùng việc suýt bị cưỡng hiếp bằng cảm giác chắc chắn có được khi sở hữu nhau.
Anh ôm lấy khuôn mặt tôi bằng hai tay và hôn lên môi, chỉ trong giây lát, cả nỗi lo sợ tương lai lẫn cảm giác kinh hoàng của đêm nay đã rơi đâu mất. Sau đó, anh thu mình về và mỉm cười. Tôi có thể thấy nỗi lo của chính anh được khắc lên những đường nét khuôn mặt, nhưng chẳng có điều gì vương trong đôi mắt kia ngoài hình ảnh phản chiếu nhỏ bé của tôi.
“Ghi nợ nhé!” Anh khẽ nói.
•••
Chúng tôi dùng đến món thứ hai mà không gặp rắc rối gì. Tôi bắt đầu thư giãn hơn mặc dù bàn tay vẫn run run ngay phía trên bát xúp.
“Hết sức lôi cuốn!” Tôi đáp lại câu chuyện của Duverney con, dù tôi không thực sự lắng nghe, bởi hai tai đang căng lên để phát hiện bất kỳ tiếng động đáng ngờ nào trên gác. “Kể tôi nghe thêm đi!”
Tôi bắt gặp ánh mắt của Magnus, khi ông ta phục vụ Bá tước St. Germain đang ngồi phía đối diện, và tươi cười chúc mừng ông ta trong khi miệng đang ăn đầy cá. Ông ta đã được huấn luyện quá hoàn hảo để mỉm cười giữa đám đông, nên chỉ cúi đầu khoảng nửa phân thật kính cẩn, sau đó tiếp tục công việc. Tôi đưa tay lên viên pha lê trên cổ, vuốt ve nó một cách phô trương, trong khi gã Bá tước xúc món cá hồi với hạnh nhân và không có lấy một biểu hiện lo lắng nào thoảng qua trên khuôn mặt rầu rĩ ấy.
Jamie cùng ngài Duverney cha đang ghé sát vào nhau để trao đổi gì đó phía cuối bàn bên kia, thức ăn bị phớt lờ trong khi Jamie dùng một mẩu than viết vội những con số lên mảnh giấy bằng tay trái. Đánh cờ hay công việc vậy? Tôi băn khoăn tự hỏi.
Là vị khách danh dự nên Công tước ngồi tại trung tâm bàn tiệc. Ông ta tận hưởng món khai vị với tâm trạng thích thú của một kẻ phàm ăn tự nhiên và giờ bị thu hút vào cuộc đối thoại sôi nổi cùng quý bà d’Arbanville bên tay phải. Công tước hiển nhiên là người Anh nổi bật nhất đất Paris ở thời điểm này, Jamie đã nghĩ bữa tiệc sẽ vun đắp xứng đáng cho các mối quan hệ của anh và hy vọng sẽ phát hiện được bất kỳ lời đồn đại nào dẫn đến người gửi tin nhắn âm nhạc cho Charles Stuart. Dù vậy, sự chú tâm của tôi đi lạc từ Công tước tới quý ông ngồi đối diện ông ta - Silas Hawkins.
Tôi đã nghĩ mình sẽ chết ngay tại chỗ và kéo theo tất cả những rắc rối xung quanh khi ngài Công tước bước qua ngưỡng cửa, bất chợt ra hiệu qua vai và nói: “Ta bảo này, phu nhân Fraser, cô có biết ông Hawkins đây không?”
Đôi mắt bé nhỏ nồng ấm màu xanh của ngài Công tước nhìn vào tôi với niềm tin ngây thơ rằng, ý tưởng bất chợt của mình sẽ được chiếu cố, tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài việc mỉm cười và gật đầu, sau đó sai Magnus sắp xếp một chỗ ngồi mới. Khi Jamie trông thấy ông Hawkins bước qua cửa phòng khách, dường như anh lại cần thêm một liều thuốc đau dạ dày khác, nhưng rồi anh vẫn lấy lại đủ điềm tĩnh để đưa tay ra với ông ta và bắt đầu trao đổi về chất lượng các nhà trọ trên đường tới Calais.
Tôi liếc nhìn chiếc đồng hồ dây cót nhỏ trên bệ lò sưởi. Còn bao lâu nữa họ sẽ về hết? Tôi nhẩm đếm những món ăn đã được phục vụ và những món sắp tới. Tiếp theo là tới món ngọt. Sau đó là sa lát và phô mai. Rượu brandy và cà phê, rượu poóc-tô cho đàn ông, rượu mùi cho các phu nhân. Một hoặc hai tiếng để khuấy động buổi trò chuyện. Đừng quá hào hứng, xin Chúa, không họ sẽ lần lữa đến rạng đông.
Giờ họ đang nói chuyện về mối đe dọa của những kẻ du thủ du thực trên đường phố. Tôi bỏ mặc món cá và nhặt lên một ổ bánh mỳ nhỏ.
“Và tôi nghe nói vài băng nhóm lang bạt này không được thành lập từ dân đen như mọi người nghĩ, mà từ một số thành viên trẻ của giới quý tộc!” Tướng d’Arbanville bĩu môi khi nghe đến điểm vô lý của ý kiến này. “Họ làm thế để giải trí - giải trí! Như thể việc cướp của các quý ông đứng đắn và cưỡng hiếp các quý cô không khác gì một cuộc chọi gà!”
“Thật kỳ lạ,” ngài Công tước lên tiếng, với vẻ lãnh đạm của người không bao giờ ra ngoài nếu thiếu một đội hộ vệ đông đảo. Món mặn cuối cùng đang được bưng tới ngang lưng chừng, ông ta liền xúc nửa tá vào đĩa.
Jamie liếc nhìn tôi và đứng dậy.
“Nếu các vị cho phép, thưa quý bà, quý ông,” anh cúi đầu, nói. “Tôi có thứ này khá đặc biệt trong dòng rượu poóc-tô và tôi rất muốn Đức ngài nếm thử. Tôi sẽ xuống hầm rượu đem nó lên.”
“Chắc là Belle Rouge,” Jules de La Tour nói, liếm môi vẻ thèm thuồng. “Ông có một của báu hiếm có trong kho cá nhân đấy, thưa Đức ông! Tôi chưa từng nếm loại rượu ngon như vậy ở nơi khác.”
“A! Ông sẽ sớm được thưởng thức, thưa Hoàng thân,” Bá tước St. Germain chen vào. “Thậm chí còn ngon hơn.”
“Chắc chắn không có thứ gì ngon hơn Belle Rouge!” Tướng d’Arbanville thốt lên.
“Có đấy,” Bá tước tuyên bố với vẻ tự mãn. “Tôi đã tìm thấy một loại poóc-tô mới, được sản xuất và đóng chai tại hòn đảo vùng Gostos, ngoài khơi Bồ Đào Nha. Màu rượu thì lóng lánh như ruby, còn hương vị của nó khiến Belle Rouge chỉ như một thứ nước màu. Tôi đã có hợp đồng chuyển về toàn bộ rượu vang chính vụ vào tháng Tám.”
“Thật ư, ngài Bá tước?” Silas Hawkins nhướng đôi lông mày rậm màu xám, hướng về phía cuối bàn của chúng tôi. “Ngài đã tìm được đối tác mới cho chuyện đầu tư ư? Theo như tôi biết thì các nguồn tài chính của ngài… nói thế nào nhỉ, đã cạn kiệt. Sau vụ con thuyền Patagonia đáng thương bị phá hủy.” Ông ta đưa miếng pho mát từ đĩa lên và nhét nó vào miệng một cách khéo léo.
Cơ hàm của Bá tước phình lên. Một luồng gió lạnh bỗng thổi xuống đầu bàn phía chúng tôi. Từ cái liếc mắt đầy ẩn ý của ông Hawkins với tôi cho đến nụ cười mỉm náu mình sau khuôn miệng bận rộn nhai thức ăn kia đều thể hiện rõ rằng, ông ta biết tất cả vai trò của tôi trong chuyện phá hủy con thuyền Patagonia bất hạnh.
Bàn tay của tôi lại chạm vào viên pha lê, nhưng Bá tước không nhìn tôi. Một màu ửng hồng lan dần từ mép cổ cồn viền ren lên mặt hắn, hắn trừng mắt nhìn Hawkins với vẻ khó chịu. Jamie nói đúng; hắn không phải là kẻ biết che giấu cảm xúc.
“Tiếc thay, thưa ông,” Bá tước nói, cố gắng thấy rõ để kiểm soát cơn tức giận của bản thân, “tôi đã tìm được một đối tác, người đó ao ước được đầu tư vào thương vụ này. Một người đồng hương, thực vậy, của vị chủ nhà lịch thiệp đây.” Hắn gật đầu mỉa mai hướng tới lối vào, nơi Jamie vừa xuất hiện, theo sau là Magnus đang mang chiếc bình lớn chứa rượu poóc-tô Belle Rouge.
Hawkins dừng nhai trong chốc lát, miệng ông ta mở to thích thú nhưng kém phần duyên dáng. “Một người Scotland? Ai vậy? Tôi không nghĩ có người Scotland nào trong ngành buôn bán rượu tại Paris ngoài gia đình Fraser.”
Cái nhìn thích thú sáng bừng trong mắt Bá tước, hắn liếc từ phía ông Hawkins tới Jamie. “Tôi cho rằng vào thời điểm này, việc nhà đầu tư trong câu hỏi có được coi là một người Scotland hay không là một vấn đề có thể gây tranh cãi, nhưng dù sao ngài ấy cũng là bạn đồng hương của Lãnh chúa Broch Tuarach đây. Charles Stuart là tên của ngài ấy.”
Mẩu tin mới này có sức ảnh hưởng tới tất cả mọi người như Bá tước mong đợi. Silas Hawkins ngồi thẳng dậy và kêu lên một tiếng cảm thán, ông ta bị nghẹn chỗ thức ăn còn lại trong miệng. Jamie định lên tiếng nhưng giờ cũng giữ miệng, ngồi xuống, trầm ngâm quan sát Bá tước. Jules de La Tour bắt đầu phun ra những từ ca thán, kèm theo trận mưa nước bọt phì phì và cả hai người nhà d’Arbanville cùng thốt ra tiếng kêu kinh ngạc. Thậm chí Công tước cũng dời mắt khỏi cái đĩa của mình mà chớp chớp nhìn Bá tước với vẻ thích thú.
“Thật sao?” Công tước nói. “Ta thấy người nhà Stuart nghèo rớt như bầy chuột nhà thờ[6] vậy. Ông có chắc người đó không lừa bịp chứ?”
“Tôi không muốn nói lời vu khống, hay khơi gợi lòng nghi kị,” Jules de La Tour thêm vào, “nhưng trong triều, nhà Stuart nổi tiếng là tay trắng. Chuyện những kẻ ủng hộ người Jacobite đang cố gắng tìm nguồn tài chính trong thời gian gần đây là sự thực, tuy nhiên họ không gặp may, theo những gì tôi nghe được.”
“Đúng vậy,” Duverney con xen vào, nghiêng người tới trước với vẻ hào hứng. “Chính Charles Stuart đã bí mật nói chuyện với hai chủ ngân hàng mà tôi quen biết, nhưng không ai sẵn sàng cho vay một số tiền lớn trong điều kiện hiện tại của cậu ta.”
Tôi phóng ánh mắt về phía Jamie và anh đáp trả bằng một cái gật đầu khó nhận thấy. Điều này sẽ được xếp vào dạng tin tức tốt. Nhưng câu chuyện của Bá tước về vụ đầu tư là sao đây?
“Điều đó là sự thật,” hắn hùng hổ nói. “Điện hạ được bảo đảm một khoản tiền vay là mười lăm nghìn livre từ một ngân hàng Ý và đã giao toàn bộ món tiền cho tôi toàn quyền sử dụng, nó được dùng để đặt hàng một con thuyền và giao dịch việc đóng chai tại vườn nho Gostos. Tôi có bức thư được ký ngay tại đây.” Hắn vỗ vào ngực áo khoác với vẻ thỏa mãn, sau đó ngả người ra sau, hân hoan đưa mắt nhìn quanh bàn rồi dừng tại chỗ Jamie.
“Chà, thưa ngài,” hắn nói, phẩy tay về phía chiếc bình được đặt trên tấm vải trắng trước mặt Jamie, “ngài sẽ cho phép chúng tôi thưởng thức loại rượu trứ danh này chứ?”
“Vâng, tất nhiên,” Jamie lẩm bẩm. Anh máy móc đưa tay ra để lấy chiếc ly đầu tiên.
Louise vốn im lặng dùng món suốt bữa tối, nhưng giờ cô ấy có vẻ nhận ra nỗi lo lắng của Jamie. Bởi là một người bạn tốt, cô ấy bèn quay sang tôi, cố gắng chuyển hướng cuộc trò chuyện sang một đề tài trung lập.
“Viên đá cô mang trên cổ thật đẹp, ma chère,” cô ấy nói, ra hiệu về phía viên pha lê của tôi. “Cô có nó từ đâu vậy?”
“Ồ, cái này à?” Tôi nói. “Chà, thực ra…”
Tôi bị ngắt lời bởi một tiếng thét nhức nhối, chấm dứt mọi cuộc đối thoại. Tiếng vang lanh lảnh hòa với âm thanh rung rinh của những viên pha lê trên chiếc đèn chùm.
“Mon Dieu[7],” Bá tước St. Germain thốt lên giữa khoảng không yên lặng. “Điều…”
Tiếng thét lặp lại, rồi lặp lại thêm lần nữa. Âm thanh tràn xuống cầu thang lớn, ùa vào phòng giải lao.
Các vị khách nhổm dậy khỏi bàn ăn tựa như một đàn chim cút xôn xao, họ đổ sang phòng giải lao và trông thấy Mary Hawkins xuất hiện. Cô ấy mang trên người những mảnh vụn còn sót lại của chiếc váy lót, lảo đảo bước vào tầm nhìn trên đầu cầu thang. Ngay tại đó, cô ấy dừng lại, đứng yên như muốn tạo ấn tượng tối đa, miệng mở lớn, hai bàn tay che ngang phần ngực, những mảnh vải rách tả tơi ở nơi này đã phô bày rõ ràng các vết bầm tím còn lưu lại, dấu bàn tay nắm trên bộ ngực và ở cả hai cánh tay cô.
Đôi con ngươi co lại nhỏ xíu dưới ánh sáng từ cây đèn nến, khiến đôi mắt cô tựa như hai hồ nước trống rỗng phản chiếu nỗi kinh hoàng. Cô nhìn xuống, nhưng rõ ràng không trông thấy các bậc thang cũng như đám đông người xem đang kinh ngạc.
“Không!” Cô la hét. “Không! Để tôi đi! Làm ơn, tôi van anh! ĐỪNG CHẠM VÀO TÔI!” Tuy bị lóa mắt bởi chỗ thuốc đã dùng, nhưng qua hành động bên ngoài, có thể thấy cô vẫn cảm nhận được sự chuyển động sau lưng mình, bởi thế cô quay người và đập tay dữ dội, cào lên cơ thể của Alex Randall, trong khi anh ta cố gắng vô ích nhằm níu giữ giúp cô bình tĩnh.
Thật không may, từ góc nhìn bên dưới, những cố gắng này trông giống hành động của một kẻ gạ gẫm bị cự tuyệt nhưng vẫn nhất quyết sàm sỡ.
“Nom de Dieu[8],” Tướng d’Arbanville thốt lên. “Racaille[9]! Thả cô ấy ra ngay!” Viên lính già nhảy lên bậc thang với vẻ nhanh nhẹn không ngờ ở tuổi của ông, bàn tay chạm vào thanh kiếm theo bản năng - may thay ông đã đặt nó tại cửa.
Tôi vội vàng dùng thân mình cùng những lớp váy đồ sộ chắn ngang phía trước Bá tước và Duverney con khi họ có biểu hiện muốn theo sau vị tướng để giải cứu cô gái, nhưng tôi không thể làm gì hơn với ông chú của Mary, Silas Hawkins. Nhà buôn rượu đứng sững trong chốc lát, hai con mắt như muốn nhảy ra khỏi hốc mắt. Sau đó, ông ta cúi thấp đầu và lao tới như một con bò mộng, đi xuyên qua đám người quan sát.
Tôi đưa mắt khắp nơi tìm kiếm Jamie và thấy anh đang đứng bên rìa đám đông. Tôi bắt gặp ánh mắt của anh, liền nhướng mày, bày tỏ một câu hỏi câm lặng; vào lúc này, bất luận tôi nói gì, anh đều không thể nghe thấy giữa đám đông ồn ào trong phòng giải lao, đôi lúc nó bị ngắt quãng bởi những tiếng thét như còi hơi của Mary từ trên cao.
Jamie nhún vai đáp trả, rồi đưa mắt nhìn xung quanh. Tôi thấy ánh mắt của anh sáng lên trong giây lát khi dừng lại ở chiếc bàn ba chân gần tường, trên bàn bày một cái bình cao cổ cắm hoa cúc. Anh hơi ngước lên để ước chừng khoảng cách, nhắm hai mắt một chốc như thể phó thác linh hồn mình cho Chúa Trời. Sau đó, anh di chuyển dứt khoát.
Anh bật nhảy từ sàn nhà lên chiếc bàn, nắm lấy thanh rào chắn lan can và đu qua nó để lên cầu thang, đứng chắn vài bậc trên đường đi lên của Tướng quân. Anh di chuyển như đang thực hiện một ngón nghề nhào lộn điêu luyện, khiến mấy vị phu nhân phải há hốc miệng kinh ngạc, một vài âm thanh khe khẽ bày tỏ lòng khâm phục hòa lẫn với những tiếng la lớn xuất phát từ nỗi khiếp sợ.
Những tiếng la hét trở nên to hơn khi Jamie nhảy vọt lên các bậc thang còn lại. Anh hích người vào giữa Mary và Alex, sau đó khống chế người phía sau bằng vai, nhắm đích thật cẩn thận, tung một cú đấm chính xác vào một điểm trên quai hàm của anh ta.
Alex đang há hốc miệng ngạc nhiên và chăm chú nhìn ông chủ ở bên dưới, bỗng nhẹ nhàng khuỵu gối, đổ sụp thành một đống trên sàn, hai mắt của anh ta vẫn mở lớn nhưng đột nhiên trở nên thất thần, trống rỗng như đôi mắt của Mary.
[1] Tiếng Pháp: Nhà thờ Đức Bà.
[2] Tiếng Pháp: Buổi tối tốt lành.
[3] Tiếng Pháp: Nhân danh Cha, Con và Thánh Thần.
[4] Chơi chữ: hopping and hobbling.
[5] Tiếng Pháp: Giúp với! Giúp với! Các ngài cảnh binh!
[6] Nguyên văn: poor as church mice, ám chỉ sự nghèo khó tới mức chết đói hay phải ăn xin. Dựa theo một cụm từ xuất hiện trước đó, hungry as a church mouse, bắt nguồn từ việc các nhà thờ của châu Âu vào thế kỷ mười bảy trước đó không tích trữ hay cung ứng lương thực, nên một con chuột sống tại đây cũng vô cùng thiếu thốn.
[7] Tiếng Pháp: Chúa ơi!
[8] Tiếng Pháp: Vì Chúa.
[9] Tiếng Pháp: Quân đê tiện.