Scotland, tháng Chín năm 1745
Sau cuộc hành quân suốt bốn ngày đường, chúng tôi đã đến đỉnh đồi gần Calder. Một bình nguyên trải ra dưới chân đồi, nhưng chúng tôi cắm trại dưới tán cây trên cao. Hai dòng suối nhỏ chảy vắt qua tảng đá phủ rêu bên sườn đồi và thời tiết đầu thu khô hanh khiến đội quân giống như đi picnic hơn là hành quân chiến đấu. Nhưng hôm đó là ngày Mười bảy tháng Chín và nếu kiến thức sơ sài của tôi về lịch sử của người Jacobite là chính xác thì chiến tranh sẽ nổ ra sau vài ngày tới.
“Kể anh nghe lần nữa đi, Sassenach,” Jamie nói đến lần thứ mười hai trong lúc chúng tôi đi men theo những con đường mòn quanh co và đường lớn bẩn thỉu. Tôi vốn cưỡi Donas, còn Jamie đi bộ bên cạnh, nhưng bây giờ tôi xuống ngựa và đi bên anh để nói chuyện dễ dàng hơn. Tôi cùng Donas đã đạt tới một dạng giao tiếp gần như thấu hiểu. Cậu chàng là kiểu ngựa yêu cầu bạn phải tập trung hoàn toàn vào việc cưỡi. Nếu không, nó sẽ hất bạn xuống bằng cách chạy qua bên dưới cành cây thấp.
“Em đã nói với anh, em không biết nhiều,” tôi đáp. “Những cuốn sách lịch sử viết rất ít về nó và không phải lúc nào em cũng chú tâm vào chúng. Tất cả những gì em có thể kể là trận chiến đã xảy ra - không, sẽ xảy ra - gần thị trấn Preston, nên được gọi là Trận chiến Prestonpans, mặc dù người Scotland đã gọi nó là Trận chiến Gladsmuir, bởi một lời tiên tri từ xa xưa có nói rằng, nhà vua sẽ giành chiến thắng ở Gladsmuir. Nếu Gladsmuir có tồn tại thì chỉ có Chúa mới biết nó thực sự ở đâu.”
“Đúng vậy. Và?”
Tôi cau mày, cố gắng nhớ lại mọi mảnh thông tin còn sót. Tôi có thể dựng lên trong đầu hình ảnh của cuốn Lịch sử nước Anh cho thiếu nhi màu nâu rách nát mà tôi đã đọc dưới ánh sáng lập lòe của ngọn đèn dầu, trong một túp lều làm bằng bùn ở một nơi nào đó của Ba Tư. Những trang sách chập chờn trong tâm trí, tôi hồi tưởng một phần dài hai trang mà tác giả dành riêng cho cuộc nổi dậy thứ hai của người Jacobite, mà các nhà sử học gọi là “cuộc nổi dậy năm 1745”, trong đó có một đoạn miêu tả trận chiến chúng tôi sắp tham gia.
“Người Scotland chiến thắng,” tôi đưa ra thông tin hữu ích.
“Đúng vậy, đó là điểm mấu chốt,” anh đồng tình, có chút mỉa mai, “nhưng sẽ có ích hơn nếu biết được thêm thông tin.”
“Nếu anh muốn một lời tiên đoán thì anh nên gặp một nhà tiên tri,” tôi đáp trả, sau đó dịu đi. “Ừm, em xin lỗi! Chỉ là em không biết nhiều hơn và điều đó khiến em rất nản lòng.”
“Phải, đúng vậy.” Anh cầm lấy tay tôi, siết nhẹ và mỉm cười với tôi. “Đừng tự làm mình khó chịu, Sassenach ạ! Em không thể nói nhiều hơn những điều em biết, nhưng hãy nói anh nghe tất cả, thêm một lần nữa.”
“Được rồi.” Tôi đáp lại bằng cách siết tay anh, chúng tôi đi bộ, tay trong tay. “Đó là một chiến thắng đáng nhớ,” tôi bắt đầu đọc từ trang giấy trong ký ức, “bởi quân Jacobite ít hơn quân Anh rất nhiều. Họ khiến đội quân của Tướng Cope bị bất ngờ vào lúc bình minh - em nhớ là họ tấn công ngay lúc mặt trời mọc - và đánh cho quân Anh chạy tan tác. Bên phía quân Anh có hàng trăm người thương vong nhưng chỉ có vài người Jacobite bị chết - ba mươi người. Chỉ ba mươi người bị chết.”
Jamie liếc ra sau chúng tôi, những người đàn ông Lallybroch đi lại không theo trật tự, họ dàn thành hàng dài, thoải mái trò chuyện và hát theo từng nhóm nhỏ. Chúng tôi mang theo ba mươi người từ Lallybroch. Nếu chỉ nhìn vào họ, tôi không nghĩ đây là số lượng nhỏ. Tuy nhiên, tôi từng trông thấy các bãi chiến trường ở Alsace-Lorraine, hàng mẫu cỏ đã chuyển thành những bãi xương xám ngoét bởi hàng ngàn xác chết bị thiêu đốt tại đó.
“Hãy nhìn tổng thể,” tôi nói, cảm thấy có lỗi, “em sợ rằng, lời lịch sử kể thực ra… không quan trọng.”
Jamie chu miệng và thở ra, nhìn tôi chán chường.
“Không quan trọng. Được, vậy thì thôi.”
“Em xin lỗi,” tôi nói.
“Không phải lỗi của em, Sassenach!”
Thế nhưng không hiểu sao, tôi không thể nguôi dằn vặt.
•••
Những người đàn ông ngồi quanh đống lửa sau bữa tối, hưởng thụ cảm giác no nê, nói chuyện và gãi sồn sột. Việc gãi ngứa đã trở thành đặc trưng ở đây, một phần do các doanh trại dựng quá gần nhau, phần khác do họ thiếu vệ sinh nên chấy rận sinh sôi nảy nở mà không được quan tâm đúng mức, một người đàn ông đã gỡ một con rận ra khỏi nếp áo choàng và ném nó vào trong lửa. Con rận cháy trong chốc lát, tạo thành tia lửa lốp bốp, sau đó biến mất.
Chàng trai trẻ được mọi người gọi là Kincaid - tên của cậu ta vốn là Alexander, nhưng có quá nhiều người tên Alexander nên phần lớn chỉ được gọi bằng biệt danh hoặc tên đệm - có vẻ rất khó chịu với tai họa ấy vào tối nay. Cậu ta thọc tay vào đám lông nách màu nâu xoăn tít bên dưới một cánh tay, sau đó - với một cú liếc nhanh xem tôi có nhìn về phía cậu ta hay không - cậu ta thò tay vào trong váy.
“Thật khó chịu, phải không, chàng trai?” Người thợ rèn tên Ross theo dõi, tỏ thái độ đồng cảm.
“Đúng,” cậu ta trả lời, “những con bọ bé xíu này đang ăn sống tôi.”
“Bỏ tay ra đi,” Wallace Fraser quan sát, bàn tay cũng gãi giống cậu. “Nhìn mày khiến tao phát ngứa, thằng nhóc!”
“Cậu có biết cách tốt nhất để giải thoát khỏi bọn quái vật tí hon này là gì không?” Sorley McClure hỏi, sau khi Kincaid lắc đầu, anh ta cúi xuống, cẩn thận cầm lấy một que củi trong đống lửa.
“Vén cái váy lên một lúc, chàng trai, tôi sẽ hun khói để chúng chạy khỏi người cậu,” anh ta đề nghị và nhận được tiếng huýt sáo cùng tiếng cười chế giễu từ đám đàn ông.
“Đồ nông dân chết tiệt,” Murtagh càu nhàu. “Cậu thì biết gì về bệnh này chứ?”
“Ông biết cách khác tốt hơn sao?” Wallace nhướng đôi lông mày rậm một cách ngờ vực, nhăn cái trán hói rám nắng.
“Tất nhiên.” Murtagh vung con dao một cách điệu nghệ. “Giờ thì, chàng trai này đã là một người lính, hãy để cậu ta làm như một người lính.”
Khuôn mặt to bè của Kincaid vừa ngây thơ, vừa hào hứng. “Làm thế nào?”
“Chà, rất đơn giản. Cầm lấy con dao, vén áo choàng len lên và cạo một nửa chỗ lông ở dưới đó.” Ông giơ con dao lên vẻ cảnh cáo. “Chỉ một nửa, rõ chưa?”
“Một nửa ư? Được rồi...” Tuy Kincaid còn nghi ngờ, nhưng tỏ ra tập trung. Tôi có thể thấy nụ cười nhe nhởn trên gương mặt của những người ngồi quanh đống lửa, nhưng chưa ai cười thành tiếng.
“Sau đó…” Murtagh ra hiệu về phía Sorley và cái que lửa của anh ta. “Sau đó, chàng trai, cậu hãy đốt cháy nửa còn lại, những con rận sẽ chạy ra rồi cậu sẽ đâm chết chúng bằng con dao găm.”
Mặt Kincaid đỏ lựng ngay cả dưới ánh sáng của đống lửa khi vòng tròn đàn ông xung quanh cười rú lên. Một cuộc xô đẩy rất lớn đã diễn ra khi hai người đàn ông giả bộ thử dùng lửa để chữa trị cho nhau, vung vẩy mấy thanh củi đang cháy. Ngay khi cuộc nô đùa vượt quá tầm kiểm soát và chuẩn bị trở thành một vụ đánh nhau thực sự thì Jamie từ chỗ buộc chân ngựa quay lại. Anh bước vào giữa vòng tròn, ném cái chai trong tay cho Kincaid. Một chai nữa được ném cho Murtagh, vụ xô xát chấm dứt.
“Mấy người đúng là đồ ngốc,” anh tuyên bố. “Cách tốt thứ nhì để giải thoát bản thân khỏi lũ rận là đổ whisky vào chúng cho chúng say mèm. Khi chúng gục xuống ngáy thì hãy đứng dậy để chúng rơi thẳng xuống.”
“Cách tốt thứ nhì ư?” Ross mạnh dạn lên tiếng. “Vậy cách tốt nhất là gì, thưa ngài, tôi có thể hỏi không?”
Jamie mỉm cười bao dung, nhìn quanh vòng tròn người, như bậc cha mẹ bị chọc cười vì trò hề của con cái.
“Hãy để vợ của mấy người nhặt chúng ra, từng con một.” Anh khuỳnh tay ra và cúi đầu về phía tôi, một bên lông mày nhướng lên. “Chẳng hay phu nhân có giúp đỡ không, thưa phu nhân của tôi?”
•••
Mặc dù Jamie nêu ra giải pháp này như một lời nói đùa, nhưng thực tế bắt từng con một là cách duy nhất có hiệu quả để loại bỏ chấy rận. Tôi chải tóc mình bằng lược bí vào mỗi sáng và mỗi tối, gội đầu với cỏ thi bất cứ lúc nào chúng tôi dừng chân ở gần nguồn nước có thể tắm gội và cho tới lúc này, tôi vẫn chưa bị lây tí chấy rận nào. Bởi vì hiểu rằng tôi chỉ giữ được tình trạng này chừng nào Jamie còn giữ được nên tôi cũng áp dụng liệu pháp này với anh, bất kỳ lúc nào tôi có thể giữ anh ngồi yên đủ lâu.
“Loài khỉ đầu chó lúc nào cũng làm thế này,” tôi nhận xét, khéo léo gỡ một cọng cỏ đuôi cáo ra khỏi bờm tóc đỏ dày dặn của anh. “Nhưng em lại nghĩ chúng ăn hoa quả trong lúc bắt rận.”
“Đừng để anh phải ngăn cản em, Sassenach ạ, em có vẻ sẵn sàng bắt chước,” anh trả lời. Anh khom hai vai vì thích thú khi cái lược chải qua những món tóc dày bóng bẩy. Ánh sáng từ đống lửa đổ tràn trên hai bàn tay tôi. “Ừm! Em không nghĩ rằng có người chải tóc cho mình là một cảm giác rất tuyệt ư?”
“Hãy đợi đến khi em làm xong,” tôi nói và cấu yêu, khiến anh cười khúc khích. “Mặc dù em cũng muốn thử làm theo lời khuyên của Murtagh.”
“Thử làm thế xem, anh sẽ làm tương tự với em đấy,” anh hăm dọa. “Louise de La Tour đã nói gì về mấy cô gái trụi thùi lụi nhỉ?”
“Khêu gợi.” Tôi đổ người tới trước, cắn nhẹ vành tai trên của anh.
“Ừmmmm!”
“Chà, mỗi người có một sở thích khác nhau,” tôi nói. “Chacun à son gout[1].”
“Một câu ẩn ý bằng tiếng Pháp và anh chưa từng nghe lần nào.”
“Chưa từng nghe?”
Một tiếng gầm lớn, vang rền cắt ngang công việc của tôi. Tôi đặt chiếc lược xuống và ra vẻ nhìn chăm chú vào những cái bóng trong rừng cây rậm rạp.
“Có gấu trong rừng này,” tôi nói, “hay là… Tại sao anh chưa ăn nhỉ?”
“Anh còn bận rộn với lũ ngựa,” anh đáp. “Một con ngựa Pony có móng bị nứt nên anh phải đắp thuốc và cột chặt chỗ đó. Với lại, anh không có cảm giác thèm ăn lắm, nhất là khi chủ đề của cuộc nói chuyện này lại là nhấm chấy rận.”
“Anh thường đắp cho ngựa loại thuốc nào?” Tôi hỏi, phớt lờ lời nhận xét ấy.
“Nhiều thứ khác nhau; có khi là một ít phân tươi. Lần này, anh nhai lá đậu tằm trộn với mật ong.”
Hai cái túi đeo bên yên ngựa được vứt xuống bên cạnh đống lửa của chúng tôi, gần mép bãi cỏ trống, nơi cánh đàn ông dựng lều. Trong khi tôi đinh ninh phải ngủ dưới bầu trời sao thì họ đã tất bật dựng lều và tôi phải thừa nhận một lòng biết ơn khó tả về chốn riêng tư nhỏ bé mà tấm lều bạt tạo ra. Khi tôi cảm ơn Murtagh vì đã giúp đỡ dựng lều, ông nói thẳng thừng như thường lệ rằng sự chuẩn bị này không phải chỉ dành cho tôi.
“Nếu cậu ấy có được cảm giác dễ chịu giữa cặp đùi của cô mỗi đêm thì cũng chẳng có ai ghen tỵ,” người tộc viên nhỏ bé đáp, hất đầu về phía Jamie đang trò chuyện say sưa với mấy người đàn ông khác. “Tuy nhiên, không cần làm cho các chàng trai trẻ nghĩ nhiều đến những cặp đùi mà họ không thể có vào lúc này, phải không?”
“Đồng ý,” tôi đáp, gần như giận dữ. “Ông rất sâu sắc.”
Một nụ cười hiếm hoi nở trên khuôn miệng có cặp môi mỏng của ông.
“Ồ, đúng,” ông nói.
Tôi lục lọi trong cái túi đeo bên yên ngựa, lấy ra một miếng phô mai và mấy quả táo. Tôi đưa chúng cho Jamie, anh nhìn nó với vẻ hoài nghi.
“Không có bánh mỳ ư?” Anh hỏi.
“Bánh mỳ ở trong một túi khác. Ăn những thứ này trước, chúng sẽ tốt cho anh.” Anh giống mọi người dân vùng cao nguyên khác, có sự nghi ngờ bẩm sinh với hoa quả và rau củ, mặc dù cảm giác ngon miệng khiến anh sẵn sàng đánh chén gần như mọi thứ.
“Ừm,” anh đáp, cắn một miếng táo. “Nếu em nói thế, Sassenach.”
“Em nói rồi. Nhìn này!” Tôi nhe răng. “Anh biết bao nhiêu phụ nữ ở độ tuổi của em còn giữ được hàm răng nguyên vẹn không?”
Anh cười, nhe ra hàm răng tuyệt đẹp của mình.
“Thôi được, anh phải thừa nhận em gìn giữ thân thể rất tốt, Sassenach ạ, so với độ tuổi bà già của mình.”
“Vì em có đầy đủ chất dinh dưỡng,” tôi vặn lại. “Một nửa số người sống trên đất của anh đang phải chịu đựng bệnh scorbut ở mức độ nhẹ, từ những gì em thấy trên đường đi, ở nhiều nơi bệnh này còn nặng hơn. Chính vitamin C đã ngăn chặn bệnh scorbut và chúng có rất nhiều trong táo.”
Anh cầm quả táo và cau mày nhìn nó vẻ ngờ vực.
“Táo ư?”
“Đúng, chính là táo,” tôi khẳng định. “Cùng rất nhiều trái cây khác - cam, chanh là tốt nhất, nhưng tất nhiên anh không kiếm được chúng ở vùng đất này - nhưng hành tây, bắp cải và táo… nếu ăn chúng mỗi ngày thì sẽ không bị mắc bệnh scorbut. Thậm chí thảo mộc màu xanh và cỏ cũng có vitamin C.”
“Ừm. Đây là lý do loài hươu không bị rụng răng khi chúng già?”
“Em khẳng định là thế.”
Anh quay quả táo trước sau, nhìn ngắm kĩ lưỡng, sau đó nhún vai.
“Thôi được,” anh nói và cắn một miếng nữa.
Tôi quay người định đi lấy bánh mỳ thì một tiếng răng rắc nhỏ thu hút sự chú ý của tôi. Tôi liếc thấy một bóng mờ chuyển động trong đêm tối cùng ánh lửa lóe lên gần đầu Jamie. Tôi xoay người, lao tới chỗ anh và hét to. Ngay lúc đó, anh ngã ra phía sau khúc gỗ, rồi biến mất trong bóng đêm trống rỗng.
Đêm nay không trăng nên chỉ có tiếng xào xạc trong đống lá tống quán sủi khô nói cho tôi biết chuyện gì đang diễn ra, cùng với tiếng động từ những người đàn ông đang nỗ lực chiến đấu hết mình trong im lặng, tiếng càu nhàu thở gấp và thi thoảng là tiếng chửi rủa nghẹn lời. Một tiếng thét ngắn, rõ ràng vang lên, sau đó là khoảng tĩnh lặng tuyệt đối. Nó kéo dài chỉ trong vài giây mà tôi cứ tưởng như mãi mãi.
Tôi vẫn đứng cạnh đống lửa, chết sững nguyên vị trí ban đầu khi Jamie xuất hiện trở lại từ trong bóng tối ảm đạm của rừng cây, kẻ bị bắt giữ đi phía trước anh, một cánh tay bị vặn ra sau. Anh nới lỏng tay, xoay cái hình người đen sì lại và bất ngờ đẩy hắn va vào một thân cây.
Người đàn ông va mạnh vào thân cây, làm một đợt lá cùng quả đấu rơi rụng, sau đó từ từ trượt xuống, nằm sõng soài giữa đống lá.
Nghe thấy tiếng ồn, Murtagh, Ross và hai người đàn ông mang họ Fraser khác hiện ra bên đống lửa. Họ lôi kẻ tấn công đứng dậy, kéo xềnh xệch vào vòng tròn ánh sáng. Murtagh nắm lấy tóc của kẻ tấn công và giật đầu hắn ra sau, để lộ khuôn mặt hắn.
Đó là một khuôn mặt bé nhỏ, mảnh khảnh với đôi mắt to, hàng lông mi dài chớp chớp đầy kinh ngạc, quan sát những khuôn mặt xung quanh.
“Nó chỉ là một thằng bé!” Tôi kêu lên. “Nó không quá mười lăm tuổi!”
“Mười sáu!” Cậu bé nói. Cậu ta lắc đầu, các giác quan dần hoạt động trở lại. “Nhưng điều đó cũng chẳng tạo nên điều gì khác biệt,” cậu ta tỏ ra ngạo mạn, nói bằng giọng Anh. Tôi nghĩ, đó là giọng vùng Hampshire. Cậu ta đang ở rất xa nhà.
“Không,” Jamie dứt khoát đồng tình. “Dù mười sáu hay sáu mươi, cậu đã làm một việc rất đáng khen ngợi là cố gắng cắt cổ ta.” Anh tuyên bố trong lúc ấn chiếc khăn tay bị nhuốm đỏ vào một bên cổ.
“Ta sẽ không khai điều gì,” cậu bé nói. Đôi mắt to như hai hồ nước màu đen trên gương mặt nhợt nhạt, dù ánh sáng từ đống lửa làm mái tóc vàng sáng chói. Cậu ta đang ôm chặt một cánh tay ở phía trước người. Tôi nghĩ đó là một vết thương. Rõ ràng, cậu ta đang cố gắng đứng lên giữa những người đàn ông, đôi môi mím chặt để không lộ ra biểu hiện sợ hãi hay đau đớn.
“Cậu không cần nói gì,” Jamie tiếp tục, quan sát thằng nhóc thật cẩn thận. “Một, cậu là người Anh, nên có khả năng cậu đi với đội quân đóng ở gần đây. Và hai, cậu đang ở một mình.”
Dường như cậu ta giật mình. “Làm sao ngươi biết được?”
Jamie nhướng đôi lông mày. “Ta nghĩ cậu sẽ không tấn công, trừ phi cậu cho rằng ta và phu nhân đây đang ở riêng. Nếu cậu đi với người khác, họ có thể đến trợ giúp ngay lập tức - là tay bị gãy, phải không? Ta đã nghe thấy thứ gì đó kêu răng rắc. Nếu cậu đi cùng người khác và biết bọn ta không ở một mình, họ đã ngăn cậu làm điều dại dột.” Tuy anh phỏng đoán như vậy nhưng tôi nhận ra có ba người đàn ông biến mất một cách kín đáo trong khu rừng, thực hiện mệnh lệnh từ Jamie, đảm bảo ngăn chặn những kẻ xâm nhập khác.
Biểu hiện của cậu bé càng cứng rắn khi nghe anh miêu tả hành động của mình như một kẻ ngốc. Jamie vỗ nhẹ lên cổ, sau đó xem xét chiếc khăn tay.
“Nếu cậu cố gắng giết một người từ phía sau, cậu bé, hãy chọn người nào không ngồi trên một đống lá khô,” anh khuyên. “Và nếu cậu sử dụng dao với người lớn hơn mình thì hãy chọn một điểm chắc chắn, cắt cổ là trò may rủi, trừ phi đối tượng ngồi yên cho cậu thực hiện.”
“Cảm ơn về lời khuyên quý giá,” cậu bé cười khinh bỉ. Cậu ta đang làm tốt công việc giữ vững can đảm, mặc dù đôi mắt chớp liên hồi vì sợ hãi, nhìn các khuôn mặt râu ria, đầy vẻ đe dọa. Không một người vùng cao nào có thể chiến thắng giải thưởng sắc đẹp dưới ánh sáng ban ngày và vào ban đêm, họ không phải là kiểu người bạn muốn gặp ở nơi tối tăm.
Jamie trả lời lịch sự: “Rất hân hạnh. Nhưng thật không may, cậu sẽ không có cơ hội thực hiện trong tương lai. Tại sao cậu lại chọn tấn công ta, ta đã muốn hỏi cậu?”
Những người đàn ông bị thu hút bởi tiếng ồn bắt đầu tiến vào từ khu trại bên ngoài, họ nhẹ nhàng rời khỏi rừng cây như những hồn ma. Cậu bé nhìn thoáng qua vòng tròn người ngày càng đông, cuối cùng dừng lại ở tôi. Cậu ta ngập ngừng một lúc rồi trả lời: “Ta hy vọng có thể cứu thoát phu nhân đây khỏi tay các người.”
Một sự xôn xao, thích thú lan khắp vòng người và chỉ được dẹp yên khi Jamie thoáng ra hiệu. “Ta hiểu,” anh nói lấp lửng. “Cậu nghe thấy bọn ta nói chuyện và xác định được phu nhân đây là người Anh, có xuất thân danh giá. Trong khi ta…”
“Trong khi, thưa ông, ông là người sống ngoài vòng pháp luật, nổi danh vì tội ăn cắp và bạo lực! Gương mặt ông cùng lời miêu tả có trên mọi tờ rơi ở khắp Hampshire và Sussex! Ta nhận ra ông ngay lập tức, ông là một kẻ phản loạn và là một kẻ dâm ô vô đạo!” Cậu bé tuôn ra một tràng, khuôn mặt càng đỏ hơn dưới ánh sáng của đống lửa.
Tôi cắn môi, nhìn xuống giày, không dám nhìn vào mắt Jamie.
“Được, vậy thì cứ như cậu nói,” Jamie đồng ý. “Trong trường hợp đó, cậu có thể đưa thêm lý do để ta không giết cậu ngay lập tức không?” Anh nhẹ nhàng rút con dao găm ra khỏi vỏ, khéo léo xoay nó để nó nhoáng lên ánh lửa.
Khuôn mặt cậu bé cắt không còn giọt máu, khiến cậu trông như một hồn ma trong bóng tối, thế nhưng sau đó cậu đứng thẳng dậy, thu mình khỏi những kẻ bắt giữ đang đứng hai bên. “Ta mong chờ điều đó. Ta rất sẵn sàng hy sinh,” cậu nói và giữ vững hai vai.
Jamie gật đầu vẻ nghĩ ngợi, anh cúi xuống, đặt lưỡi dao găm vào giữa đống lửa. Một làn khói có hình lông chim bay quanh lưỡi kim loại đang cháy đen, tỏa ra mùi hăng hắc như trong lò rèn. Chúng tôi quan sát ngọn lửa màu xanh quanh lưỡi dao trong sự mê đắm không lời. Dường như sức nóng bừng bừng của ngọn lửa đã giúp lưỡi kim loại vô hồn kia trở nên có sức sống.
Jamie bọc bàn tay bằng tấm vải nhuốm máu, sau đó kéo lưỡi dao khỏi ngọn lửa một cách cẩn trọng. Anh bước chầm chậm tới chỗ cậu bé, để phần lưỡi dao chúc xuống, tựa như nó có ý chí riêng, cho đến khi nó chạm vào áo choàng của cậu bé. Mùi vải cháy sém bốc ra từ chiếc khăn tay bao bọc một nửa cán dao càng trở nên nồng nặc hơn khi lưỡi dao chạy dọc phần thân áo phía trước, tạo thành một vết cháy nhỏ. Lưỡi dao chuyển sang đen sì khi nguội đi và dừng lại ngay dưới cái cằm đang căng ra phía trên. Tôi trông thấy những dòng chảy của mồ hôi lấp lánh chỗ hõm cổ của cậu ta.
“Chà, ta e rằng ta chưa chuẩn bị tinh thần để giết cậu.” Giọng nói của Jamie tuy nhẹ nhàng nhưng đầy đe dọa và còn đáng sợ hơn bởi sự kiềm chế của anh.
“Cậu hành quân với ai?” Câu hỏi vút ra như một chiếc roi, khiến người nghe nao núng. Mũi dao đang lơ lửng gần người cậu bé và làn khói bay theo gió đêm.
“Ta sẽ… ta sẽ không nói!” Cậu mím chặt môi, trả lời lắp bắp, cơn rùng mình lan xuống cái cổ mảnh mai.
“Cậu cũng không nói các bạn của cậu đóng quân cách đây bao xa ư? Không nói có bao nhiêu người? Không nói cả hướng hành quân?” Những câu hỏi được thốt ra thật khẽ, mũi dao chạm vào và di chuyển men theo quai hàm. Hai con mắt cậu bé trắng dã như một con ngựa khiếp sợ, nhưng cậu ta lắc đầu kịch liệt, những lọn tóc vàng bị hất tung. Ross và Kincaid siết chặt bàn tay gông kìm quanh cánh tay cậu bé.
Lưỡi dao đen đột nhiên ép sát vào bên dưới xương quai hàm. Cậu ta thét lên yếu ớt, nghe rõ cả tiếng thở và mùi da cháy.
“Jamie!” Tôi hét lên, bị choáng váng ngoài sức chịu đựng. Anh không quay lại nhìn tôi, hai mắt vẫn gắn chặt vào tên tù nhân vừa được buông lơi và bây giờ anh dùng đầu gối đè cậu ta xuống đống lá khô, bàn tay nắm lấy cái cổ mảnh mai.
“Bà không cần bận tâm, thưa bà,” anh nói qua hàm răng nghiến chặt. Anh tóm lấy phần thân áo của cậu bé, rồi lôi cậu ta đứng dậy. Lưỡi dao múa may giữa hai người họ và cuối cùng dừng lại ngay phía dưới mắt phải của cậu bé. Jamie nghiêng đầu, đặt một câu hỏi trong im lặng và nhận lại cái lắc đầu từ chối rất khẽ nhưng rõ ràng.
Giọng cậu ta không hơn gì một lời thì thầm run rẩy, hay cậu ta đang lầm bầm cho chính mình nghe. “K-không,” cậu ta nói. “Không. Ông không thể làm gì để bắt ta nói được đâu.”
Jamie giữ cậu ta một lúc, mắt đối mắt, sau đó, anh thả nắm vải nhăn nhúm ra và lùi bước. “Không,” anh chậm rãi nói, “ta không cho là vậy. Ta sẽ không làm gì cậu. Thế còn phu nhân đây thì sao?”
Đầu tiên, tôi không nhận ra anh đang ám chỉ mình, cho tới lúc anh nắm lấy cổ tay tôi và kéo giật tôi lại phía anh, làm tôi vấp chân trên nền đất gồ ghề. Tôi ngã nhào về phía trước và anh vặn tay tôi ra đằng sau.
“Cậu có thể thờ ơ với bản thân mình, nhưng có thể cậu quan tâm đến danh dự của phu nhân đây, kể từ lúc cậu sẵn sàng đặt mình vào đau đớn như thế này nhằm giải cứu bà ấy.”
Anh quay người tôi hướng về phía mình, sau đó luồn tay vào mái tóc, ngửa đầu tôi ra sau và hôn tôi mãnh liệt, khiến tôi vô thức oằn người để phản kháng.
Anh thả tóc tôi ra rồi kéo tôi lại gần, đối diện với cậu nhóc phía bên kia ngọn lửa. Đôi mắt cậu ta mở lớn, thất kinh, hai con mắt to sẫm màu phản chiếu hình ảnh ngọn lửa trước mặt.
“Thả bà ấy ra!” Cậu ta yêu cầu bằng giọng khàn khàn. “Ông định làm gì bà ấy?”
Bàn tay Jamie lần xuống cổ váy tôi. Anh bất ngờ xé toạc lớp vải khiến cặp mông của tôi gần như hở trần toàn bộ. Theo bản năng, tôi đá vào ống quyển của anh. Cậu bé phát ra một âm thanh không rõ ràng và lao đến phía trước, nhưng một lần nữa bị giữ lại bởi Ross cùng Kincaid.
“Bởi cậu đã hỏi,” Jamie thích thú nói phía sau tôi. “Ta có ý định cưỡng hiếp phu nhân đây trước mặt cậu. Sau đó, ta sẽ để bà ấy cho đám tay chân, để họ làm cái việc mà họ sẽ làm. Biết đâu cậu sẽ được hưởng một lượt trước khi ta giết cậu? Một người đàn ông không nên chết khi còn trinh, cậu có nghĩ vậy không?”
Giờ thì tôi giãy giụa thực sự, cánh tay bị giữ chặt trong nắm tay cứng như thép phía sau. Lời phản đối của tôi bị lòng bàn tay to và ấm của Jamie chặn lại. Tôi cắn chặt răng vào gan bàn tay của anh, nó có vị như máu. Anh giật mạnh tay ra và kìm lại không bật kêu thành tiếng, nhưng ngay lập tức ấn một miếng vải vào miệng tôi. Tôi bị nắm vải chặn họng, trong lúc hai tay anh nắm lấy vai tôi, cố gắng xé chiếc váy rộng ra. Anh xé toạc lớp vải đến tận hông, giữ chặt hai cánh tay tôi ở hai bên thân mình. Tôi trông thấy Ross liếc nhìn rồi nhanh chóng quay đi, gắn ánh mắt kiên định vào tù nhân, hai má đỏ lựng. Kincaid, không quá mười chín tuổi, thì nhìn trân trân vì bị sốc, miệng mở lớn như cái bẫy ruồi.
“Dừng lại!” Giọng cậu bé run run, nhưng ngoài nỗi sợ còn có sự giận dữ. “Ngươi… ngươi là đồ hèn hạ ghê tởm! Sao ngươi dám làm nhục một quý bà như thế, thằng lừa đảo Scotland!” Cậu ta đứng im một lát, lồng ngực phập phồng bởi những cảm xúc đang dâng trào, sau đó đưa ra quyết định. Cậu ta hất cằm lên.
“Thôi được. Ta thấy mình không có lựa chọn trong vấn đề danh dự. Hãy thả phu nhân ra và ta sẽ nói những gì ngươi muốn biết.”
Một bàn tay của Jamie thả vai tôi ra ngay tức thì. Tôi không thấy anh ra hiệu, nhưng Ross buông cánh tay bị thương của cậu bé, vội vã đi lấy áo choàng cho tôi, nó đã rơi trên nền đất mà không ai chú ý tới vì không khí phấn khích khi bắt được cậu bé. Jamie kéo hai tay tôi ra sau và giật mạnh thắt lưng của tôi, dùng nó để trói tay. Anh nhận lấy chiếc áo choàng từ Ross, phủ lên vai tôi và buộc dây cẩn thận. Anh bước lùi lại, cúi chào mỉa mai, rồi quay sang kẻ bị bắt giữ.
“Cậu đã có được lời hứa từ ta, quý bà đây sẽ được an toàn,” anh nói. Giọng anh tỏ ra căng thẳng bởi cơn giận và sự thèm khát trong vô vọng. Tôi nhận ra giọng nói kia vốn để kiềm chế tiếng cười và tôi cảm thấy mình có thể vui vẻ giết anh.
Cậu bé mang khuôn mặt lạnh như đá, đưa ra thông tin được yêu cầu, rất nhỏ và nhanh.
Tên của cậu ta là William Grey, con trai thứ hai của Tử tước Melton. Cậu ta cùng một đội quân hai trăm người đi tới Dunbar để sáp nhập với đội quân của Tướng Cope. Các bạn của cậu ta hiện đang cắm trại cách đây khoảng ba dặm về hướng tây. Cậu ta, William, đang đi dạo qua cánh rừng thì nhìn thấy đống lửa của chúng tôi và tới thám thính. Không, cậu ta không đi cùng ai. Đúng vậy, đội quân của cậu ta mang theo vũ khí hạng nặng, mười sáu khẩu đại bác có xe ngựa kéo và hai khẩu súng cối bốn mươi phân. Phần lớn đội quân được trang bị súng hỏa mai và ba mươi con ngựa.
Cậu bé bắt đầu rũ xuống bởi cuộc tra hỏi căng thẳng và cánh tay bị thương, nhưng kiên quyết từ chối lời mời ngồi. Thay vào đó, cậu ta tựa người vào thân cây, dùng lòng bàn tay trái ôm lấy khuỷu tay phải.
Cuộc thẩm vấn kéo dài gần một tiếng đồng hồ, công việc hỏi đáp mệt mỏi lặp lại hết lần này đến lần khác để xác định những điểm khác biệt, miêu tả rõ hơn các chi tiết, vạch ra các điểm bị bỏ sót và những phần trọng yếu bị lảng tránh. Cuối cùng, Jamie thở dài thỏa mãn và quay đi, cậu nhóc ngồi thụp xuống giữa những cái bóng đung đưa của cây sồi. Jamie đưa một tay ra mà không nói lời nào. Murtagh đã đoán được mục đích của anh, liền đưa anh một khẩu súng.
Anh quay lại chỗ tù nhân, kiểm tra thuốc nhồi. Khẩu súng bằng kim loại dài hơn bốn mươi phân với cái báng có đuôi hình trái tim tỏa ánh sáng lờ mờ trong bóng tối, ánh sáng từ đống lửa làm lóe lên những tia màu bạc ở cò súng và chốt khai hỏa. “Đầu hay tim đây?” Jamie thản nhiên hỏi, cuối cùng anh cũng ngẩng đầu lên.
“Ơ?” Miệng cậu bé há hốc vì không hiểu chuyện gì.
“Ta sẽ bắn cậu,” Jamie kiên nhẫn giải thích. “Gián điệp thường bị treo cổ, nhưng xét đến sự can đảm của cậu, ta sẽ cho cậu đi thật nhanh gọn. Cậu thích nhận đạn ở đầu hay tim?”
Cậu bé nhanh chóng đứng thẳng người, nâng cao vai. “Ồ, phải, tất nhiên.” Cậu ta liếm môi và nuốt nước miếng. “Ta nghĩ… vào… vào tim. Cảm ơn,” cậu ta nói thêm, như chợt nghĩ ra. Cậu ta hếch cằm, bặm đôi môi vẫn còn nét mềm mại, non trẻ.
Jamie gật đầu và lên cò súng đánh cạch một tiếng, vang khắp khoảng lặng dưới tán cây sồi.
“Đợi đã!” Tù nhân nói. Jamie nhìn cậu ta dò hỏi, khẩu súng chĩa vào lồng ngực xẹp lép.
“Làm sao tôi có thể biết chắc phu nhân sẽ không bị xâm hại sau khi tôi bị - sau khi tôi ra đi?” Cậu ta gặng hỏi, nhìn quanh đám đàn ông với vẻ thù địch. Bàn tay không bị thương của cậu ta nắm chặt nhưng run rẩy. Ross phì cười một tiếng, nhưng khéo léo chuyển thành tiếng hắt hơi.
Jamie hạ thấp khẩu súng, cố kiềm chế để giữ vẻ mặt nghiêm nghị.
“Chà,” anh nói bằng giọng Scotland đặc sệt mỗi khi căng thẳng, “dĩ nhiên là cậu đã có lời hứa của ta, nhưng tất nhiên, ta thấy cậu còn nghi ngờ lời nói của một...” - bất chấp sự kiềm chế, miệng anh khẽ nhếch lên - “của một kẻ Scotland hèn hạ. Có thể cậu sẽ chấp nhận sự bảo đảm của chính phu nhân kia?” Anh nhướng một bên lông mày về phía tôi và ngay lập tức Kincaid thả tôi ra, lúng túng bỏ miếng giẻ khỏi miệng tôi.
“Jamie!” Khi miệng đã được tự do, tôi hét lên giận dữ. “Đây là hành động vô lương tâm! Sao anh có thể làm một việc như vậy? Anh… anh...”
“Kẻ hèn hạ,” anh nói thêm, “hay kẻ lừa đảo, nếu em thích gọi thế hơn. Bác nghĩ sao, Murtagh,” anh quay sang người đội phó của mình, “cháu là một thằng hèn hạ hay kẻ lừa đảo?”
Murtagh mở miệng chua chát. “Cháu sẽ tàn đời nếu cởi trói cho người phụ nữ của mình mà không nắm sẵn con dao găm trong tay.”
Jamie quay sang nhìn tù nhân bằng vẻ mặt áy náy. “Ta lấy làm tiếc khi vợ ta bị ép tham gia vào trò dối trá này. Ta đảm bảo với cậu việc cô ấy tham gia là do bị ép buộc.” Anh buồn bã kiểm tra bàn tay bị cắn trong ánh sáng của ngọn lửa.
“Vợ ngươi!” Cậu nhóc trừng trừng giận dữ nhìn Jamie.
“Ta cũng cam đoan với cậu rằng, tuy vị phu nhân này xuất hiện trên giường ta theo nghĩa vụ, nhưng cô ấy sẽ không làm gì nếu bị ép buộc. Và bây giờ cũng vậy,” anh nói thêm, “nhưng đừng cởi trói cho cô ấy vội, Kincaid!”
“James Fraser,” tôi rít lên qua hai hàm răng nghiến chặt. “Nếu anh làm gì cậu bé thì chắc chắn anh sẽ không bao giờ được nằm cùng giường với em nữa!”
Jamie nhướng một bên lông mày. Những chiếc răng nanh của anh sáng lấp lánh. “Chà, một lời đe dọa nghiêm trọng đối với một kẻ ham thích khoái lạc bất chấp luân thường như ta đây, nhưng trong trường hợp này, ta không nghĩ mình có thể quan tâm đến những lợi ích của mình. Xét cho cùng, chiến tranh vẫn là chiến tranh.” Khẩu súng đã được hạ xuống, giờ lại giương lên lần nữa.
“Jamie!” Tôi hét.
Anh hạ thấp khẩu súng và quay về phía tôi, tỏ ra hết sức kiên nhẫn. “Sao?”
Tôi hít thở sâu để giữ giọng nói khỏi run rẩy vì tức giận. Tôi đoán anh đã đưa ra quyết định và hy vọng điều mình đang làm là đúng đắn. Đúng hay sai thì khi cuộc chiến này kết thúc… Tôi chặn đứng cái ảo tưởng dễ chịu là mình đang giẫm chân lên yết hầu của Jamie trong lúc anh quằn quại trên mặt đất để tập trung vào vai trò hiện tại của mình.
“Anh không có bằng chứng rằng cậu ta là gián điệp,” tôi nói. “Cậu ta nói rằng cậu ta vô tình nhìn thấy anh. Có ai không tò mò nếu thấy một đống lửa trong rừng chứ?”
Jamie gật đầu, chấp nhận lý lẽ đó. “Phải, thế còn việc cố gắng giết anh? Dù là gián điệp hay không, cậu ta đã cố gắng giết anh và thừa nhận nhiều lần.” Anh đưa ngón tay sờ vào vết cắt lởm chởm trên cổ.
“Tất nhiên, cậu ta đã làm vậy,” tôi giận dữ đáp. “Cậu ta bảo cậu ta biết anh từng là kẻ sống ngoài vòng pháp luật. Có một cái án truy nã chết tiệt treo trên đầu anh, vì Chúa!”
Jamie xoa cằm tỏ vẻ hoài nghi, cuối cùng quay sang tù nhân. “Thôi được, điều đó hợp lý,” anh nói. “Này William Grey, thầy cãi của cậu đã đưa ra lý do chính đáng để biện hộ cho cậu. Chính sách của Đức Hoàng tử Charles và tôi là không hành quyết người vô tội, dù là kẻ địch hay không.” Anh vẫy tay gọi Kincaid.
“Kincaid, cậu và Ross hãy đưa cậu chàng này đi theo hướng mà cậu ta khai rằng đội quân của cậu ta đang cắm trại. Nếu thông tin cậu ta cung cấp là chính xác, hãy trói cậu ta vào một cái cây cách đó một dặm, trên đường hành quân. Ngày mai, các bạn của cậu ta sẽ tìm thấy cậu ta. Nếu cậu ta nói sai thì…” - anh dừng lại, đôi mắt lạnh lùng nhìn tù nhân - “hãy cắt cổ cậu ta.”
Anh nhìn thẳng vào mặt cậu bé và nói, không có ý giễu cợt. “Ta cho cậu mạng sống. Ta hy vọng cậu sẽ sử dụng nó thật tốt.”
Anh đi tới sau lưng tôi và cắt dải vải quấn quanh cổ tay. Trong khi tôi giận dữ quay lại, anh đã quay sang phía cậu bé và ngồi thụp xuống nền đất bên dưới cây sồi. “Có lẽ em đủ khỏe để chăm sóc cánh tay của cậu ta trước khi cậu ta đi?” Anh không còn quắc mắt giả bộ dữ tợn, khuôn mặt anh trống rỗng như một bức tường. Anh khép mắt để ngăn tôi nhìn vào chúng.
Tôi không nói gì, đi thẳng tới chỗ cậu bé và quỳ xuống bên cạnh. Cậu ta có vẻ sững sờ nhưng không phản kháng khi tôi kiểm tra hay xử lý cánh tay, mặc dù việc cố định lại xương chắc chắn rất đau.
Vạt váy bị rách cứ trượt khỏi vai tôi, tôi lầm bầm rủa thầm trong lúc giật vai áo bên này hoặc bên kia lên đến lần thứ mười hai. Xương cẳng tay của cậu ta gầy nhom và khá nhẹ, da cậu ta cũng mỏng như da tôi. Tôi nẹp cánh tay và làm băng đeo bằng chính chiếc khăn quàng cổ của mình. “Nó gãy rất gọn,” tôi nói với cậu ta, vẫn giữ giọng thờ ơ. “Cố gắng giữ yên cánh tay trong ít nhất hai tuần.” Cậu bé gật đầu, không nhìn tôi.
Jamie yên vị trên khúc gỗ và quan sát tôi chăm sóc cậu bé. Tôi thở hổn hển, bước tới chỗ anh và tát một cái thật mạnh. Cú tát để lại một dấu tay trắng trên má và khiến anh chảy nước mắt, nhưng anh không né tránh hay thay đổi biểu cảm.
Kincaid kéo cậu bé đứng dậy, đẩy cậu ta tới mép bãi đất trống. Khi họ tới mép cánh rừng, cậu bé ngừng bước và quay lại. Cậu ta tránh nhìn vào tôi và chỉ nói với Jamie.
“Tôi nợ ông một mạng,” cậu ta trịnh trọng nói. “Tôi thích cái chết hơn, nhưng vì ông ép tôi nhận món quà này, nên tôi xem nó như một món nợ danh dự. Tôi hy vọng có cơ hội trả món nợ trong tương lai và một khi đã trả được...” Giọng cậu ta run run bởi lòng căm thù bị kìm nén, đánh mất vẻ giả bộ trịnh trọng bởi cảm xúc chân thật trong lòng. “… Tôi sẽ giết ông!”
Jamie đứng thẳng dậy. Khuôn mặt anh điềm tĩnh, mọi nét thích thú đã biến mất. Anh trịnh trọng gật đầu trước tù nhân đang bị giải đi. “Trong trường hợp đó, thưa ông, tôi hy vọng chúng ta sẽ không gặp lại nhau.”
Cậu bé đứng thẳng người, cứng nhắc cúi đầu đáp lại. “Một người nhà Grey không bao giờ quên nghĩa vụ của mình, thưa ông,” cậu ta đáp và biến mất trong bóng tối. Kincaid nắm lấy khuỷu tay của cậu ta.
Sau một lúc nín thở chờ đợi, khi âm thanh lá khô xào xạc dưới chân họ không còn vọng lại nữa, tiếng cười bắt đầu vang lên, ban đầu chỉ là tiếng phì nhẹ nhàng, phát ra từ lỗ mũi của một người đàn ông, rồi đến tiếng khúc khích ngập ngừng từ những người khác. Tuy không ồn ào, nhưng âm lượng đang dần tăng lên.
Jamie tiến một bước vào trong vòng tròn, đứng đối diện với những người lính của anh. Tiếng cười im bặt. Anh liếc tôi và nói nhanh: “Đi vào lều!”
Trông thấy biểu cảm của tôi, anh liền tóm lấy cổ tay tôi trước khi tôi kịp giơ tay lên.
“Nếu em định tát anh lần nữa thì ít nhất để anh chìa má bên kia ra đã,” anh lạnh lùng nói. “Anh có thể giúp em thoát khỏi nỗi khó chịu. Nhưng anh khuyên em nên đi vào lều đã.”
Anh thả tay tôi, sải bước đến bên đống lửa, hất đầu dứt khoát và tập hợp những người đàn ông đang đứng rải rác thành một nhóm, họ miễn cưỡng và có phần thận trọng tụ lại đứng trước mặt anh. Những khuôn mặt sở hữu đôi mắt to và hai hốc mắt tuyền một màu đen.
Tôi không hiểu tất cả những gì Jamie nói vì anh nói theo kiểu kỳ lạ đan xen tiếng Gaelic và tiếng Anh. Nhưng tôi tập trung các giác quan và nhận ra anh đang dò hỏi bằng chất giọng đều đều, nhẹ nhàng, đủ để biến người nghe thành đá. Anh muốn biết lính canh đêm nay là ai.
Họ lén lút liếc mắt trước sau, khi phải đối mặt với hiểm nguy, tất cả đoàn kết thành một khối chặt chẽ. Nhưng sự liên kết bị tan rã và hai người đàn ông bước ra, cả hai ngước nhìn - một lần - rồi vội vàng cúi xuống, bốn con mắt dán chặt xuống đất, họ đứng cạnh nhau bên ngoài sự bảo vệ của đồng bạn.
Đó là anh em nhà McClure, George và Sorley. Họ gần bằng tuổi nhau, khoảng ngoài ba mươi. Cả hai đều xấu hổ, những ngón tay cứng cáp do tôi rèn qua thời gian làm việc đang co rúm lại, tìm cách đan cài vào nhau như một biện pháp bảo vệ trước cơn bão lớn.
Jamie dừng lại một lát, không nói năng gì, chỉ nhìn hai người lính canh có tội. Năm phút khó nhọc trôi qua, mọi sự giận dữ đã được kiểm soát, giọng nói của anh nhẹ nhàng và đều đều như trước. Nhóm đàn ông không dám tạo ra một tiếng động nào và cả hai anh em nhà McClure, tuy vạm vỡ nhưng đều co rúm lại, trở nên nhỏ bé dưới sức nặng lời nói của anh. Tôi quệt hai lòng bàn tay ướt mồ hôi vào váy, cảm thấy vui mừng vì mình không hiểu toàn bộ và hối tiếc vì không nghe lời Jamie đi vào trong lều.
Tôi còn hối tiếc hơn khi một lúc sau, Jamie bỗng quay sang Murtagh. Ông đang đợi lệnh và chuẩn bị sẵn một sợi dây da dài khoảng sáu mươi phân, được thắt một đầu để làm tay cầm.
“Cởi áo ra và tới đứng cạnh ta, cả hai người!” Hai anh em nhà McClure hành động ngay lập tức, những ngón tay dài lần mò các nút thắt, có vẻ họ hăng hái làm theo lệnh vì yên tâm rằng bước mở đầu đã qua và việc đền tội đã đến.
Dù biết mức độ này là nhẹ nhàng so với các hình phạt đối với những tội tương tự, nhưng tôi vẫn cảm thấy buồn nôn. Bãi đất trống không một tiếng động, chỉ có tiếng roi quất và tiếng thở ngắt quãng từ những người bị đánh.
Sau cú đánh cuối cùng, Jamie thả sợi dây xuống bên cạnh. Anh toát mồ hôi đầm đìa và lớp vải sơ mi bẩn thỉu bám dính vào lưng. Anh gật đầu cho hai anh em nhà McClure giải tán và lau gương mặt ướt đầm bằng ống tay áo. Một người trong số họ đau đớn, cúi xuống nhặt mấy chiếc áo vừa cởi, người còn lại thì run rẩy đứng tựa một bên.
Trong suốt thời gian thực thi hình phạt, những người có mặt trên bãi đất trống như đã ngừng thở. Và lúc này, một cơn rùng mình lan qua đám đông, như thể họ đồng thời thở phào nhẹ nhõm.
Jamie nhìn họ, hơi lắc đầu. Gió đêm đang nổi lên, khuấy động và thổi món tóc trên đỉnh đầu của anh bay bồng bềnh.
“Chúng ta không cho phép sự bất cẩn,” anh dịu dàng nói. “Từ bất kỳ ai.” Anh hít thật sâu, nhếch miệng nhăn nhó. “Bao gồm cả ta. Chính ngọn lửa bất cẩn này đã kéo thằng bé đến chỗ chúng ta.” Thêm những giọt mồ hôi rơi khỏi lông mày anh và anh quệt một tay ngang mặt rồi lau vào váy. Anh gật đầu với Murtagh, đang đứng tách biệt với những người đàn ông khác và đưa cây roi da cho ông.
“Ngài bắt tôi phải làm ư, thưa ngài?”
Sau một lúc ngập ngừng, bàn tay xương xẩu của Murtagh nhận lấy cây roi. Một tia sáng, có thể là thích thú, lóe lên trong đôi mắt đen của người tộc viên nhỏ bé.
“Thật hân hạnh… thưa ngài!”
Jamie quay lưng về phía người của mình và bắt đầu cởi áo sơ mi. Khi mắt anh nhìn thấy tôi, đang đứng chết trân giữa những thân cây, lông mày anh nhướng lên, ngầm đặt một câu hỏi châm biếm. Tôi muốn xem ư? Tôi lắc đầu quầy quậy, quay người bỏ đi, làm theo lời khuyên của anh dù đã quá muộn.
•••
Trên thực tế, tôi không quay lại lều. Tôi không thể chịu đựng được không gian bí bách của nó. Lồng ngực tôi cảm thấy nghẹt thở và tôi cần không khí.
Tôi tìm thấy không khí trong lành trên đỉnh một cái gò nhỏ, ngay bên kia túp lều. Tôi sẩy chân và dừng lại giữa một không gian rộng mở. Tôi nằm ra đất, đưa hai tay lên đầu. Tôi không muốn nghe những tiếng vọng dù là nhỏ nhất từ cảnh cuối cùng trong vở kịch bên đống lửa.
Bãi cỏ lởm chởm dưới cơ thể tôi chọc vào phần da trần và truyền sang tôi một cảm giác lạnh lẽo, tôi liền gập người, bọc cái áo choàng quanh mình. Được bao phủ và cách ly khỏi âm thanh đó, tôi nằm yên, lắng nghe trái tim đập, chờ đợi tâm trạng xáo trộn trở nên bình lặng.
Một lúc sau, tôi nghe thấy tiếng những người đàn ông đi qua thành từng nhóm nhỏ, khoảng bốn hoặc năm người, trở lại chỗ ngủ của họ. Vì bị bọc trong tấm áo choàng, tôi không thể phân biệt được lời họ nói, nhưng họ phát ra âm thanh khẽ khàng, có thể là lòng tôn kính. Sau một lúc, tôi nhận ra anh đang ở đó. Anh không nói hay tạo ra tiếng động, nhưng tôi chợt biết rằng anh đang ở kế bên. Sau khi lăn người ngồi dậy, tôi thấy bóng anh đổ lên một tảng đá, đầu tựa vào hai cẳng tay ôm quanh đầu gối.
Tôi bị giằng xé giữa thôi thúc xoa đầu anh hoặc phang một tảng đá làm nó bẹp rúm, nhưng cuối cùng, tôi chẳng làm gì cả.
“Anh ổn chứ?” Tôi hỏi bằng giọng đều đều, sau một khoảng im lặng.
“Ừ, anh ổn.” Anh chầm chậm buông tay, thận trọng duỗi thẳng người rồi thở dài.
“Anh xin lỗi về chuyện cái váy của em,” anh nói. Tôi nhận ra anh có thể thấy làn da trần của tôi sáng lờ mờ trong bóng tối, liền kéo các mép áo choàng lại.
“Ồ, vì cái váy ư?” Tôi giận dữ đáp.
Anh thở dài lần nữa. “Đúng, và cả phần còn lại.” Anh dừng một lát rồi nói tiếp. “Anh nghĩ em sẵn sàng hy sinh tính e thẹn của mình để ngăn cản anh làm hại thằng bé, nhưng trong hoàn cảnh đó, anh không có thời gian để xin phép em. Nếu anh sai, xin em hãy tha thứ, phu nhân của anh!”
“Ý anh là anh sẽ tra tấn thằng bé nhiều hơn?”
Anh không buồn che giấu sự giận dữ. “Tra tấn! Anh còn không làm thằng bé bị thương.”
Tôi kéo áo choàng chặt hơn quanh mình. “Ồ, anh không nghĩ rằng việc bẻ tay thằng bé và đóng dấu lên nó bằng con dao nung đỏ sẽ làm nó đau, phải không?”
“Không, anh không nghĩ vậy.” Anh bước tới và tóm lấy khuỷu tay tôi, kéo tôi đối diện với anh. “Nghe này! Thằng bé tự làm gãy tay mình khi cố gắng thoát khỏi thế khóa tay không thể phá vỡ của anh. Nó dũng cảm như những người đàn ông của anh, nhưng nó không có kinh nghiệm đánh tay đôi.”
“Vậy con dao thì sao?”
Jamie khịt mũi. “Cái đó! Thằng bé có một vết thương nhỏ dưới tai, đến sau bữa tối ngày mai là nó sẽ hết đau liền. Anh nghĩ nó có khó chịu một chút, nhưng anh chỉ định dọa nó chứ không muốn làm nó bị thương.”
“Ồ!” Tôi bỏ đi, quay lại cánh rừng tối và tìm căn lều của chúng tôi. Giọng anh theo sát phía sau.
“Anh có thể làm suy sụp ý chí của nó, Sassenach! Thằng bé sẽ trở nên rối loạn rất lâu sau này. Nhưng anh không thích làm điều tồi tệ đó, nếu không bị bắt buộc. Xin nhớ lấy lời anh, Sassenach ơi” - từ trong bóng tối, giọng anh chạm đến chỗ tôi và có ý khiển trách - “một lúc nào đó, anh có thể phải làm điều anh không muốn. Anh đã biết người của cậu ta ở đâu, vũ khí của chúng và những thứ tương tự. Nhưng anh không thể dọa cậu ta, phải dùng cách lừa cậu ta hoặc bẻ gãy ý chí.”
“Thằng bé nói anh không thể bắt nó khai.”
Giọng Jamie tỏ ra mệt mỏi. “Chúa ơi, Sassenach, tất nhiên anh có thể. Em có thể bẻ gãy ý chí của ai đó nếu em gây ra đủ tổn thương cho họ. Anh biết rõ điều đó.”
“Phải,” tôi nói khẽ, “em cũng nghĩ vậy.”
Không ai trong chúng tôi di chuyển hay nói chuyện suốt một lúc lâu. Tôi nghe thấy tiếng càu nhàu của những người đang dọn chỗ ngủ, thi thoảng cả tiếng giày trên nền đất cứng và tiếng lá xào xạc rơi thành đống, như một chướng ngại vật chặn lại cơn gió lạnh của mùa thu. Đôi mắt tôi đã điều chỉnh để thích nghi với bóng tối, do đó bây giờ tôi có thể thấy đường nét căn lều của chúng tôi cách đây ba mươi bước chân, ở chỗ trú dưới một cây thông rụng lá. Tôi cũng có thể thấy Jamie, cơ thể anh đen thẫm và tương phản với bóng tối sáng hơn phía sau.
“Được rồi,” cuối cùng tôi lên tiếng. “Được rồi. Anh đã lựa chọn giữa việc nên làm và việc có thể làm… Vâng, được rồi.”
“Cảm ơn em!” Tôi không nhìn ra anh có mỉm cười hay không, nhưng nghe giống như vậy.
“Anh đã có một cơ hội chết tiệt để lựa chọn,” tôi nói. “Nếu em không cho anh cái cớ để tránh giết thằng bé thì anh sẽ làm gì?”
Hình người to lớn đó cử động và nhún vai, một tiếng cười khúc khích khẽ vang lên trong bóng tối.
“Anh không biết, Sassenach ạ! Anh đoán em sẽ nghĩ ra cách gì đó. Nếu không - chà, anh nghĩ anh phải bắn thằng bé. Không thể làm nó thất vọng bằng việc thả nó đi, đúng không?”
“Anh là đồ Scotland chết tiệt,” tôi nói mà không cảm thấy giận dữ.
Anh thở dài đánh thượt. “Sassenach ơi, anh đã bị đâm, bị cắn, bị tát và bị quất roi kể từ bữa tối - anh đã không được nghỉ ngơi. Anh không thích dọa trẻ con, không thích quất roi đàn ông, vậy mà anh vẫn phải làm cả hai việc đó. Có hai trăm lính Anh đang cắm trại cách đây ba dặm và anh không biết làm gì với chúng. Anh mệt, anh đói và đau đớn. Nếu em có điều gì giống như lòng thương cảm của phụ nữ thì cho anh xin một ít đi!”
Anh nói rất thương tâm khiến tôi bật cười dù không muốn. Tôi đứng dậy và bước tới chỗ anh.
“Em nghĩ mình có thể cho anh một ít. Lại đây, để em xem em có thể tìm được nó cho anh không.” Áo anh bị tuột khỏi hai vai mà anh không buồn kéo lên. Tôi đưa tay vào bên trong, sờ lên làn da nóng nhạy cảm ở lưng anh. “Không bị trầy xước,” tôi nói, nhẹ nhàng lần tay lên trên.
“Một sợi dây da không gây thương tích, chỉ đau đớn thôi.”
Tôi cởi áo sơ mi của anh và ấn anh ngồi xuống, lau lưng cho anh bằng nước suối mát lạnh.
“Đỡ hơn chưa?” Tôi hỏi.
“Ừm!” Các cơ bắp trên vai anh thả lỏng, nhưng anh hơi co người khi tôi chạm vào một điểm nhạy cảm hơn rất nhiều.
Tôi quay sang chú ý tới vết thương dưới tai. “Anh sẽ không bắn thằng bé, đúng không?”
“Em nghĩ anh là ai, Sassenach?” Anh nói bằng giọng mỉa mai.
“Một tên Scotland hèn hạ. Hay đúng hơn là một kẻ sống ngoài vòng pháp luật vô lương tâm. Ai mà biết được một kẻ như thế sẽ làm gì? Lại còn là một kẻ háo sắc đốn mạt nữa chứ!”
Anh cười lớn, vai rung lên dưới tay tôi.
“Quay đầu lại đây! Nếu anh muốn lòng thương cảm của phụ nữ thì hãy ngồi yên trong lúc em trao nó cho anh.”
“Ừm!” Lại một thoáng yên lặng. “Không,” cuối cùng, anh lên tiếng. “Anh sẽ không bắn cậu ta. Nhưng anh phải bảo vệ danh dự của cậu ta, sau khi khiến cậu ta cảm thấy lố bịch. Cậu ta là một chàng trai dũng cảm, xứng đáng được ban cho một cái chết đáng giá.”
Tôi lắc đầu. “Em sẽ không bao giờ hiểu được đàn ông,” tôi lẩm bẩm, xoa thuốc mỡ cúc vạn thọ lên vết sây sát.
Anh cầm lấy hai bàn tay tôi và kéo chúng xuống dưới cằm.
“Em không cần hiểu anh, Sassenach,” anh nói khẽ. “Miễn là em yêu anh.” Anh cúi đầu và dịu dàng hôn lên hai bàn tay đang cài vào nhau của tôi.
“Và cho anh ăn,” anh nói thêm, thả tay tôi ra.
“Ôi, lòng thương cảm của phụ nữ, tình yêu và thức ăn?” Tôi thốt lên rồi bật cười. “Anh có cần nhiều hơn không?”
Trong chiếc túi treo bên yên ngựa có một cái bánh mỳ nướng vỉ, một ít phô mai và thịt xông khói. Tình trạng căng thẳng và những điều ngớ ngẩn của hai tiếng trước đã rút cạn sức lực của cơ thể tôi nhiều hơn tôi nghĩ và tôi ăn cùng anh một cách ngấu nghiến.
Tiếng những người đàn ông xung quanh chúng tôi đều đã tắt hẳn, chẳng còn âm thanh hay ánh lửa nào để cho chúng tôi biết rằng mình chẳng phải cách xa linh hồn loài người cả ngàn dặm. Chỉ có gió mải miết thổi giữa những tán lá, làm gãy rụng những cành con.
Jamie tựa lên một thân cây, khuôn mặt sáng mờ ảo dưới ánh sao, nhưng cơ thể toát lên vẻ tinh quái.
“Anh đã hứa với người hùng của em rằng anh sẽ không quấy rầy em bằng những trò tán tỉnh làm em chán ghét. Anh nghĩ trừ khi em mời anh nằm chung giường, nếu không anh sẽ phải ngủ cùng Murtagh và Kincaid. Mà Murtagh thì ngáy to.”
“Anh cũng vậy,” tôi đáp.
Tôi nhìn anh một lúc, rồi nhún vai, một bên vai áo bị xé rách trượt xuống. “Được rồi, anh đã khởi đầu rất tốt.” Tôi thả nốt bên vai còn lại và cái váy rách rơi xuống quanh eo. “Anh có thể đến và kết thúc công việc một cách thích đáng.”
Hơi ấm từ cánh tay anh như lớp lụa nóng, trượt trên làn da mát lạnh của tôi.
“Đúng vậy,” anh thì thầm giữa các lớp tóc của tôi, “chiến tranh là chiến tranh, phải không nào?”
•••
“Mình không giỏi về phần niên đại,” sau một lúc, tôi hỏi bầu trời sao. “Miguel de Cervantes đã ra đời chưa?”
Jamie - tất nhiên - đang nằm sấp bên cạnh tôi, đầu và vai anh nhô ra ngoài chiếc lều. Anh mở một bên mắt thật chậm rãi và nhìn về hướng chân trời đằng đông. Sau khi không thấy dấu hiệu của bình minh, ánh mắt anh dần chuyển về gần, dừng trên mặt tôi, thể hiện thái độ cam chịu hằn học.
“Đột nhiên em muốn thảo luận về tiểu thuyết Tây Ban Nha sao?” Anh nói, giọng khàn khàn.
“Không hẳn,” tôi đáp. “Em chỉ muốn biết anh có thấy thuật ngữ “quixotic[2]” thân quen không?”
Anh chống khuỷu tay để nhổm người dậy, dụi đầu vào hai bàn tay để tỉnh táo hoàn toàn, sau đó anh quay sang nhìn tôi, chớp mắt nhưng cảnh giác.
“Cervantes đã ra đời gần hai trăm năm trước, Sassenach ạ, và anh có điều kiện để hưởng nền giáo dục toàn diện, đúng, anh biết rõ quý ngài đó. Lời vừa rồi không có ý bóng gió chứ?”
“Lưng anh còn đau không?”
Anh ưỡn vai để kiểm tra. “Không nhiều. Chỉ còn một vài vết thâm tím nhỏ.”
“Vì Chúa, Jamie ơi, tại sao?” Tôi thốt lên.
Anh đặt cằm lên hai cẳng tay, khuôn mặt hướng về phía bên kia, vì thế cái liếc mắt càng trở nên nổi bật. Anh là người duy nhất mà tôi từng thấy nheo mắt nhưng vẫn mỉm cười.
“Chà, bởi Murtagh thích thế. Anh nợ ông ấy một trận đòn từ hồi lên chín. Anh đã nhét những mảnh sáp ong vào giày của ông ấy khi ông ấy cởi chúng để hong chân. Lúc đó Murtagh không bắt được anh, nhưng lúc ông ấy đuổi theo anh bằng chân trần, anh đã học được nhiều từ ngữ mới khá thú vị. Ông ấy...”
Tôi đấm mạnh vào vai anh để ngăn anh kể chuyện. Jamie ngạc nhiên, hai cánh tay đột ngột khuỵu xuống, anh kêu một tiếng “Ui da!” và lăn sang bên, quay lưng về phía tôi.
Tôi quỳ gối đằng sau, cánh tay ôm quanh eo anh. Tấm lưng rộng của anh xen vào tầm nhìn của tôi, che khuất các vì sao, ánh sáng lấp lánh tỏa ra từ những giọt mồ hôi toát ra sau khi hoạt động vất vả. Tôi hôn vào giữa hai xương bả vai của anh, sau đó lùi lại và thổi nhè nhẹ, thích thú cảm nhận làn da anh run rẩy dưới mấy đầu ngón tay tôi, những sợi lông mềm bé xíu dựng lên, gai ốc sởn dọc theo xương sống.
“Tại sao?” Tôi hỏi lại, úp mặt vào tấm lưng ấm áp, ướt mồ hôi. Bóng tối phủ lên những vết sẹo khiến tôi không thể nhìn thấy, nhưng tôi có thể cảm nhận chúng, mờ nhạt và thô ráp bên dưới má.
Anh im lặng một lát, lồng ngực nhô lên hạ xuống bên dưới cánh tay tôi theo từng nhịp thở sâu và chậm.
“Chà,” anh nói, lại rơi vào im lặng và suy nghĩ.
“Anh không biết, Sassenach ạ,” cuối cùng, anh cất lời. “Có lẽ anh nghĩ anh nợ em. Hoặc nợ chính mình.”
Tôi đặt tay lên mảnh xương bả vai của anh, nó to rộng và bằng phẳng, những đường viền hiện rõ bên dưới lớp da.
“Anh không nợ em.”
“Vậy sao? Cởi váy vợ mình trước sự có mặt của ba mươi người đàn ông là hành động của một quý ông ư?” Giọng anh đột nhiên chua chát, bàn tay tôi vẫn nằm yên, ấn lên anh. “Sử dụng bạo lực với một kẻ bị bắt giữ - và nó mới chỉ là một đứa trẻ - là hành động của kẻ hào hiệp sao?”
“Sẽ tốt hơn nếu anh tha cho em - hoặc cậu nhóc - và mất một nửa số người của anh trong vòng hai ngày ư? Anh biết mà. Anh biết là anh không thể - anh không thể để những khái niệm về một quý ông lịch thiệp ảnh hưởng đến mình.”
“Không,” anh nói khẽ. “Anh không thể. Anh phải đi cùng một người đàn ông - con trai của nhà vua - trách nhiệm và danh dự yêu cầu anh phải đi theo cậu ta - đồng thời phải tìm cách để làm thay đổi đại nghiệp của cậu ta mà anh đã thề sẽ phục tùng. Anh đã thề vì mạng sống của những người anh yêu - anh đã phản bội cái tên của danh dự để những người anh kính trọng có thể sống sót.”
“Danh dự là thứ chết tiệt đã giết vô số người,” tôi nói từ sau tấm lưng thâm tím của anh. “Danh dự mà vô nghĩa thì là… ngu ngốc. Một sự ngu ngốc đẹp mã, nhưng dù sao vẫn là ngu ngốc.”
“Đúng vậy. Và em đã nói - cái nhìn sẽ thay đổi. Nhưng nếu anh nằm trong số những người đầu tiên hy sinh danh dự cho lợi ích thiết thực… thì anh không cảm thấy xấu hổ vì việc mình làm ư?” Anh bỗng lăn qua để đối diện với tôi, đôi mắt băn khoăn hiện ra dưới ánh sao trời.
“Anh sẽ không quay lại - cũng không thể quay lại - nhưng Sassenach ơi, đôi khi anh cảm thấy buồn cho cái danh dự anh đã bỏ lại phía sau.”
“Đây là lỗi của em,” tôi nói khẽ. Tôi chạm vào khuôn mặt anh, vào đôi lông mày rậm, khuôn miệng rộng và những sợi lông lởm chởm chạy theo quay hàm dài, sạch sẽ. “Của em. Nếu em không đến… và nói với anh chuyện sẽ xảy ra…” Tôi thực sự đau lòng trước sự thay đổi của anh và cũng cảm nhận được chàng trai mộc mạc, ga lăng ngày nào đã không còn. Nhưng… khi là mình của ngày xưa, chúng tôi có những lựa chọn gì? Tôi phải nói với anh và anh phải thực hiện ngay lập tức. Một dòng kinh Cựu ước bỗng lướt qua tâm trí: “Khi tôi nín lặng, các xương cốt tôi tiêu mòn, và tôi rên xiết trọn ngày.”
Dường như trong suy nghĩ, anh cũng tìm thấy câu trích trong Kinh Thánh này, và mỉm cười vẻ uể oải.
“Phải rồi,” anh nói. “Anh không nhớ Adam có yêu cầu Chúa đưa Eve về không - hãy nhìn vào những điều bà ấy đã làm cho ông ta.” Anh cúi xuống, hôn lên trán tôi trong khi tôi bật cười khúc khích, rồi anh kéo chăn đắp lên đôi vai trần của tôi. “Ngủ đi, cái xương sườn bé nhỏ của anh. Anh sẽ cần một người bạn đời vào buổi sáng.”
•••
Tiếng kim loại kỳ lạ đã đánh thức tôi. Tôi ngóc đầu ra khỏi chăn và chớp mắt nhìn về hướng tiếng ồn, phát hiện mình chỉ cách cái đầu gối phủ áo choàng của Jamie khoảng một bàn chân.
“Em dậy rồi ư?” Thứ gì đó màu bạc, kêu lẻng xẻng rơi xuống trước mặt tôi và cùng lúc đó, tôi bị một thứ khá nặng tròng vào cổ.
“Cái quái gì thế này?” Tôi ngạc nhiên hỏi, ngồi bật dậy và chăm chú quan sát bên dưới. Có vẻ tôi đang đeo một cái vòng cổ được làm từ rất nhiều mảnh kim loại cỡ bảy phân, mỗi mảnh chia thành phần dưới có rãnh và phần trên hình tròn, được buộc lại với nhau bằng một sợi dây xỏ giày bằng da. Một vài chiếc trong số chúng bị gỉ ở phần đầu, một vài cái mới tinh. Tất cả các mảnh kim loại đều có những vết xước dọc theo chiều dài của phần dưới, như thể chúng bị vặn ra từ những vật thể lớn hơn.
“Chiến lợi phẩm, Sassenach ạ,” Jamie nói.
Tôi ngước nhìn anh và ngay lập tức thét lên.
“Ồ,” anh nói tiếp, đưa tay lên mặt. “Anh quên mất. Anh không có thời gian cọ rửa.”
“Anh dọa em sợ chết khiếp,” tôi nói, bàn tay ấn lên trái tim đập thình thịch. “Cái gì thế?”
“Than,” anh đáp, giọng nghẹn lại sau miếng vải lau mặt. Anh bỏ nó xuống và cười tươi. Cái khăn đã lau sạch những vết đen trên mũi, cằm và trán anh, giờ thì chúng có màu đồng ánh hồng lốm đốm bẩn, duy chỉ có đôi mắt anh vẫn có những quầng đen tròn như mắt loài gấu trúc Mỹ và dọc hai bên khóe miệng có những vệt than chạy dài. Bình minh đã gần kề. Trong ánh sáng mờ ảo của túp lều, khuôn mặt đen kịt và mái tóc của anh cũng trở nên nhạt màu, như sắc màu ảm đạm của bức tường vải đằng sau, tôi có một cảm giác không an tâm, giống như tôi đang nói chuyện với một cơ thể không đầu.
“Đó là ý kiến của em,” anh nói.
“Ý kiến của em ư? Anh không khác nào tay nói chuyện phiếm trong đoàn hát rong,” tôi đáp. “Anh đang làm cái quái gì vậy?”
Hàm răng trắng sáng lấp lánh nhe ra giữa khuôn mặt nhăn nhó đầy bồ hóng.
“Tập kích,” anh nói với vẻ thỏa mãn vô cùng. “Tập kích? Từ này đúng không nhỉ?”
“Ôi, Chúa ơi,” tôi kêu lên. “Anh đã đến trại lính Anh ư? Chúa ơi! Em hy vọng anh không đi một mình.”
“Anh không thể gạt người của mình ra khỏi trò vui, phải không nào? Anh để ba người ở đây bảo vệ em và số còn lại đã có một đêm rất hữu ích.” Anh tự hào, ra hiệu về phía cái vòng cổ.
“Chốt định vị của các giá súng đại bác. Bọn anh không thể lấy đại bác hay phá hủy chúng mà không gây ra tiếng ồn, nhưng chúng sẽ không thể đi xa mà không có bánh xe. Tướng Cope sẽ bị mắc kẹt trên trảng cỏ cùng với mười sáu khẩu pháo nhẹ.
Tôi xem xét kĩ càng cái vòng cổ của mình.
“Đây là chuyện tốt, nhưng họ không thể làm chốt định vị mới sao? Hình như anh định làm gì đó với cái dây kim loại nặng này.”
Anh gật đầu, sự tự mãn không giảm đi chút nào.
“Ồ, đúng vậy. Họ có thể. Nhưng họ sẽ không làm, vì không có bánh xe mới để lắp vào.” Anh nâng cửa lều lên, ra hiệu cho tôi nhìn xuống dưới chân đồi, ở đó, tôi trông thấy Murtagh đen sì như một con quỷ khô đét đang giám sát hoạt động của nhiều con quỷ cấp dưới ngụy trang giống nhau, hân hoan ném phần còn lại của ba mươi hai cái bánh xe gỗ lớn vào ngọn lửa cháy bừng bừng. Những vành sắt của bánh xe nằm chất đống một bên, Fergus, Kincaid và một chàng trai trẻ khác đang sáng tác trò chơi với một trong số đó, họ lăn chúng ra trước ra sau bằng gậy. Ross ngồi trên một khúc gỗ cách đó không xa, vừa uống nước từ chiếc cốc bằng sừng vừa xoay tròn một cái vành xe quanh cái cẳng tay vạm vỡ.
Tôi phì cười.
“Jamie, anh thật thông minh!”
“Anh có thể thông minh,” anh đáp, “nhưng em đang ở trần nửa người và chúng ta phải đi ngay bây giờ. Em có cái gì để mặc không? Bọn anh đã trói lính gác trong một bãi quây cừu bỏ hoang, nhưng những kẻ còn lại sắp dậy rồi, chúng cách không xa sau lưng chúng ta. Tốt nhất chúng ta nên đi.”
Như để nhấn mạnh vào lời nói của anh, căn lều đột ngột rung lắc ở phía trên, có người đang giật dây thép ở một bên lều. Tôi thét to cảnh báo và nhào tới chỗ túi treo bên yên ngựa, trong khi đó Jamie bỏ đi để giám sát việc khởi hành.
•••
Chúng tôi tới Tranent vào giữa buổi chiều. Ngôi làng vốn yên bình này được xây dựng trên một ngọn đồi sát biển, nhưng giờ đây quân đội vùng cao nguyên đã làm tất cả quay cuồng. Đội quân chính đóng trên một ngọn đồi đằng xa và bên dưới nó, một bình địa nhỏ chạy dài tới bãi biển. Việc đến và đi ở nơi này diễn ra thường xuyên và thiếu tổ chức; nhiều người dân ở Tranent đã rời khỏi vùng đất của họ, nhiều chi đội đã đến rồi đi trong những đội hình quân sự nhiều hoặc ít hơn ban đầu, nhiều người nhắn tin phóng ngựa đến rồi đi - một vài kẻ cưỡi ngựa Pony, vài kẻ đi bộ - và những bà vợ, con cái, những người dựng trại, tất cả đổ vào các nhà dân hoặc ngồi bên ngoài cửa, tựa lưng vào tường đá và cho con bú dưới ánh mặt trời khi có khi không; họ gọi nhau í ới và thông báo cho người đưa tin những động thái mới nhất.
Chúng tôi tạm dừng bên rìa của ngôi làng náo động. Jamie sai Murtagh tìm chỗ ở của Lãnh chúa George Murray, người chỉ huy của đội quân trong lúc anh rửa ráy qua loa trong một ngôi nhà dân.
Dù không bôi than như mọi người nhưng vẻ ngoài của tôi đã thay đổi đáng kể, khuôn mặt xuất hiện mấy chỗ cáu bẩn, là bằng chứng của nhiều đêm phải ngủ ngoài trời. Bà chủ nhà tốt bụng đã cho tôi mượn khăn và lược, tôi được ngồi ở bàn của bà ấy để chiến đấu với mớ tóc rối bất trị. Đúng lúc đó, cánh cửa mở ra và Lãnh chúa George xông vào, bỏ qua mọi nghi lễ rườm rà.
Ông ta xuất hiện trong bộ dạng không được chỉnh tề, chiếc váy hoàn hảo trở thành một đống vải nhàu, mấy cái khuy trên áo gi lê chưa được cài hết, viền cổ xếp nếp bị nới lỏng và một nịt bít tất tung ra, bộ tóc giả bị dúi vào trong túi và những lọn tóc xoăn màu nâu lưa thưa dựng đứng lên, như thể ông ta vừa vò đầu bứt tai vì thất vọng.
“Tạ ơn Chúa!” Ông ta nói. “Một gương mặt tỉnh táo!” Sau đó, ông ta nghiêng người tới trước, nheo mắt nhìn Jamie. Phần lớn bụi than trên mặt anh đã được rửa sạch, nhưng những dòng nước nhỏ chảy xuống cằm, rơi xuống phần trước áo và bởi vội vàng gội đầu mà đôi tai của anh vẫn bám bụi than đen.
“Chuyện...” Lãnh chúa George giật mình, nhưng ông ta đột nhiên ngừng lời, lắc đầu một, hai cái thật nhanh, như đang đuổi những điều tưởng tượng ra khỏi đầu và quay trở lại với cuộc nói chuyện, như thể không nhận ra điều gì khác thường.
“Mọi chuyện tiến triển thế nào, thưa ngài?” Jamie kính cẩn nói và xúc động đến mức không nhận ra phần đuôi dải ruy băng dùng để tô điểm cho bộ tóc giả đang đung đưa bên ngoài chiếc túi của Lãnh chúa George, nó ve vẩy như cái đuôi của một con chó nhỏ khi ông ta diễn tả bằng điệu bộ dữ dội.
“Mọi chuyện tiến triển thế nào à?” Ông ta nhắc lại. “Được, tôi sẽ kể hết, thưa ông! Nó đi sang hướng đông, rồi đi qua hướng tây, rồi một nửa xuống chân đồi ăn trưa, trong khi đó nửa còn lại bỏ đi đến nơi chỉ có quỷ thần biết! Mọi chuyện tiến triển thế đó!”
“Nó,” ông ta nói, thoáng trở nên nhẹ nhõm sau tràng bùng nổ, “là đội quân cao nguyên trung thành của Điện hạ.” Đến khi bình tĩnh hơn, ông ta bắt đầu kể cho chúng tôi nghe những sự kiện xảy ra từ khi đội quân tới Tranent.
Sau khi dẫn quân đến đây, Lãnh chúa George đã để lại phần lớn binh lính trong làng và dẫn một chi đội lên đây để chiếm đỉnh đồi phía trên bình địa. Hoàng tử Charles đến muộn hơn một chút, tỏ ra không bằng lòng với hành động này và nói điều đó một cách ầm ĩ và công khai. Thế là, Điện hạ lấy một nửa binh lính, bỏ về hướng tây, Công tước Perth - trên danh nghĩa là một vị chỉ huy tối cao khác - đi theo, phục tùng cậu ta và có thể họ đã quyết định tấn công qua Preston.
Vì lực lượng quân đội bị chia đôi nên khi chiếm cứ nơi đây, Lãnh chúa đã hỏi ý kiến dân làng, những người biết rõ về địa hình vùng này hơn cả Điện hạ hay Lệnh ngài, O’Sullivan, một trong số những người bạn Ireland thân thiết của Hoàng tử. Hắn ta đã tự nhận trách nhiệm và yêu cầu một nhóm tộc viên Cameron của Lochiel đi đến nghĩa trang Tranent.
“Tất nhiên, Cope mang theo hai khẩu pháo nhẹ và đã tấn công họ tới tấp,” Lãnh chúa George giải thích với giọng điệu dứt khoát. “Tôi đã phải nói chuyện với Lochiel vào chiều nay. Ông ta buồn bã, một nỗi buồn có thể hiểu được, vì rất nhiều người của ông ta bị thương mà không có mục đích rõ ràng. Ông ta hỏi, họ có được phép rút lui và dĩ nhiên tôi tán thành yêu cầu này. Thế là, gã ngốc của Điện hạ đến đây, gã O’Sullivan đó - Đồ tai họa! Chỉ vì hắn lên Eriskay với Điện hạ nên Người nghĩ hắn - thôi, bỏ qua chuyện đó, thế là hắn đến than vãn rằng, người Cameron có mặt ở nghĩa địa là việc thiết yếu - thiết yếu, cậu nghe rõ chứ! - nếu chúng ta định tấn công từ phía tây. Tôi nói rõ ràng với hắn rằng, dù trong hoàn cảnh nào chúng ta cũng sẽ tấn công từ phía đông. Điều đáng lo nhất vào thời điểm này là chúng ta không biết một nửa số quân của mình ở đâu - và cả Điện hạ nữa,” ông ta nói thêm, rõ ràng ông ta nghĩ việc tìm Hoàng tử Charles chỉ là một vấn đề học thuật.
“Lại còn mấy tên lãnh đạo! Những người Cameron của Lochiel đã rút thăm và nhận được vinh dự chiến đấu bên cánh phải - nếu trận chiến xảy ra - nhưng đám MacDonald, từng đồng ý với sự sắp xếp này, giờ lại chối bay chối biến và khăng khăng sẽ không chiến đấu nếu không được hưởng đặc quyền truyền thống là chiến đấu bên cánh phải.”
Lãnh chúa George bắt đầu câu chuyện với vẻ điềm tĩnh, nhưng càng kể cơn giận của ông ta càng tăng và đến cuối cùng, ông ta đứng phắt dậy, vuốt mặt thật mạnh bằng cả hai bàn tay.
“Người Cameron đã tập luyện suốt ngày. Cho đến giờ, họ đã hành quân tới lui rất nhiều lần, đến mức họ không thể phân biệt nổi của quý của mình với hậu môn - thứ lỗi cho tôi, thưa bà,” ông ta nói thêm, liếc về phía tôi, “và người của Clanranald đang đánh nhau tay không với người của Glengarry.” Ông ta tạm dừng, hàm dưới nhô ra, mặt đỏ bừng. “Nếu Glengarry không ở vị trí của hắn… A, được rồi!” Ông ta bỏ qua chuyện về Glengarry bằng một cái búng tay và tiếp tục đi đi lại lại.
“Điều duy nhất bù đắp cho tất cả,” ông ta nói, “là người Anh cũng bị buộc phải quay đầu vì những hành động của chúng tôi. Toàn bộ lực lượng của Cope quay đầu không dưới bốn lần và giờ thì ông ta đang kéo đội quân cánh phải ra gần phía biển, chắc chắn là đang thắc mắc chúng ta sẽ làm gì tiếp theo.” Ông ta quay đầu, nhìn chăm chăm ra ngoài cửa sổ, như thể đang đợi đích thân tướng Cope tiến xuống con đường chính để điều tra.
“Ơ… chính xác thì một nửa đội quân hiện nay đang ở đâu, thưa ngài?” Jamie tiến một bước, như thể muốn tham gia với Lệnh ngài vào cuộc hành trình đi quanh nhà của ông ta, nhưng tôi đã nắm lấy cổ áo anh. Tôi có trong tay hai thứ vũ khí là một cái khăn và một bát nước ấm, liền lao vào cuộc chiến lau sạch bụi than ở hai tai của anh, trong lúc ngài chỉ huy liên tục đưa ra những lời bình luận. Bây giờ, hai cái tai của anh đã trở nên hồng hào.
“Trên mỏm đá phía nam thị trấn.”
“Chúng ta vẫn giữ vị trí trên cao chứ?”
“Phải, nghe thật tuyệt, phải không?” Lệnh ngài mỉm cười chán chường. “Tuy vậy, nền đất cao không đem đến nhiều lợi thế cho chúng ta, nền đất ngay bên dưới mỏm đá có vô số hố nước và đầm lầy. Chúa ơi! Có một cái hào rộng gần hai mét chứa đầy nước, kéo dài cả trăm mét dọc theo chân của mỏm đá! Bây giờ hai đội quân cách nhau gần năm trăm mét và có thể là tám trăm mét.” Lãnh chúa George thọc một tay vào trong túi để tìm chiếc khăn tay, ông lôi nó ra và ngây người đứng nhìn bộ tóc giả ông định dùng để lau mặt.
Tôi đưa ông ta chiếc khăn tay đầy bồ hóng. Ông ta nhắm mắt, hít vào một hơi thật mạnh, sau đó mở mắt ra và cúi đầu với tôi theo lối xử sự nhã nhặn thường thấy.
“Cảm ơn bà.” Ông ta lau toàn bộ khuôn mặt bằng cái khăn bẩn, trao trả tôi với thái độ lịch sự và chụp mạnh bộ tóc giả bù xù lên đầu.
“Chết tiệt,” ông ta nói, “tôi sẽ không để cho tên ngốc đó làm chúng ta thua cuộc chiến này đâu.” Ông ta quả quyết và quay sang Jamie. “Ông có bao nhiêu người, Fraser?”
“Ba mươi, thưa ngài!”
“Ngựa?”
“Sáu, thưa ngài! Và bốn con ngựa thồ.”
“Ngựa thồ? À! Mang quân lương cho người của ông?”
“Vâng, thưa ngài! Và sáu mươi bao thức ăn lấy từ một chi đội của quân Anh vào đêm qua. Ồ, và một cây súng cối cỡ bốn mươi phân, thưa ngài!”
Jamie thông báo tin cuối cùng với thái độ tùy tiện, không khách sáo, khiến tôi muốn nhồi cái khăn tay vào họng anh. Lãnh chúa George nhìn anh chằm chằm một lúc, sau đó ông ta cười nhếch mép.
“A! Tốt, đi với tôi nào, Fraser! Ông có thể kể tôi nghe tất cả trên đường đi.” Ông ta quay người, hướng về phía cửa, Jamie liếc tôi bằng đôi mắt mở to, sau đó anh cầm lấy mũ và đi theo sau.
Vừa tới cửa, Lãnh chúa George bỗng ngừng bước và quay lại. Ông ta nhìn vẻ ngoài của Jamie, cổ áo sơ mi chưa đóng, áo khoác vắt vội trên cánh tay.
“Tuy tôi đang vội, Fraser, nhưng chúng ta có đủ thời gian để thực hiện phép lịch sự. Đi hôn tạm biệt vợ ông đi! Gặp tôi ở bên ngoài nhé!”
Sau đó, ông ta cúi đầu thật thấp với tôi, làm đuôi tóc giả rơi về phía trước.
“Cảm ơn bà.”
•••
Tôi biết đủ nhiều về quân đội để hiểu rằng, những việc không thể xảy ra thì chắc chắn sẽ không xảy ra. Những tốp lính ngẫu nhiên đi tuần xuôi ngược trên con đường chính ở Tranent. Những người vợ, người ủng hộ và cả các công dân bị trục xuất của Tranent lang thang vô định, không biết mình nên đi hay ở. Những người đưa tin chạy như bay ở một bên đám đông, mang theo các bức thư khẩn.
Trước kia, ở Paris, tôi từng gặp Lãnh chúa George, ông ta không phải người câu nệ lễ nghi mà thích hợp với việc hành động. Tuy nhiên, tôi cho rằng ông ta đích thân đến gặp mặt Jamie là vì tức giận trước những hành động của Hoàng tử Charles và mong muốn thoát khỏi mối liên kết với O’Sullivan hơn là vì sự khẩn trương và cẩn mật. Toàn bộ số quân hiện có của quân đội cao nguyên nằm trong khoảng một nghìn rưỡi đến hai nghìn người, do đó ba mươi người đàn ông này không đáng để quan tâm như một món quà từ Thượng Đế nhưng cũng không đáng để nhạo báng, coi thường.
Tôi liếc nhìn Fergus, thằng bé đang cựa quậy như một con cóc theo điệu nhảy của St. Vitus và tôi nghĩ mình có thể tự gửi tin nhắn. Có một câu nói thế này: “Thằng chột làm vua xứ mù.” Và từ đó, tôi sáng tạo ra câu tương tự, dựa trên kinh nghiệm của bản thân: “Khi không một ai biết phải làm gì thì bất kỳ người nào đưa ra lời đề nghị hợp lý sẽ được lắng nghe.”
Giấy và mực ở trong túi treo bên yên ngựa. Tôi ngồi xuống, soạn một bức thư ngắn gửi Jenny Cameron. Bà chủ nhà quan sát tôi với thái độ tôn sùng gần như mê tín, bởi bà ấy chưa bao giờ thấy một người phụ nữ nào viết chữ. Jenny là người đã dẫn dắt ba trăm tộc viên Cameron băng qua núi để tới hội quân với Hoàng tử Charles khi cậu ta giương cao lá cờ tại bờ biển Glenfinnan. Em trai của cô ấy trở về nhà muộn, sau khi nghe chuyện liền cấp tốc phi ngựa đến Glenfinnan để đảm đương vị trí tộc trưởng của mình. Tuy nhiên, Jenny từ chối về nhà và bỏ lỡ cuộc vui. Cô ấy đã tạm dừng ở Edinburgh, nơi Charles nhận được những tràng pháo tay hoan hô từ thần dân của mình, nhưng không về nhà mà sẵn sàng hộ tống Hoàng tử của mình ra chiến trận.
Tôi không có con dấu riêng, nhưng mũ của Jamie ở ngay trong túi, nó có một cái huy hiệu của thị tộc Fraser gồm con dấu và khẩu hiệu. Tôi lục tìm và chỉ cần ấn nó vào vết sáp nến còn ấm là tôi có thể niêm phong bức thư của mình một cách trang trọng.
“Gửi cho một quý cô người Scotland có nhiều tàn nhang trên mặt,” tôi ra chỉ thị cho Fergus và cảm thấy toại nguyện khi nhìn cậu bé lao ra khỏi nhà, hòa vào đám đông hỗn độn trên phố. Tôi không biết Jenny Cameron ở đâu, nhưng các chỉ huy được cấp chỗ ở gần nhà thờ và đó cũng là một địa điểm tốt để bắt đầu. Ít nhất thì việc tìm kiếm sẽ giữ Fergus tránh khỏi những trò tinh quái.
Việc thứ nhất đã được xử lý, tôi quay lại với bà chủ nhà.
“Bây giờ thì,” tôi nói. “Bà có chăn mền, khăn ăn và váy lót dài không?”
•••
Chẳng mấy chốc, tôi phát hiện mình đã đoán đúng về cá tính của Jenny Cameron. Một người phụ nữ có thể tập hợp được ba trăm người đàn ông và dẫn họ băng qua núi để chiến đấu cho một gã công tử bột nói giọng Ý thích rượu brandy thì chắc chắn cô ấy không thể chịu đựng sự buồn chán và có tài năng hiếm thấy là ép buộc người khác làm theo ý mình.
“Rất biết suy đoán,” cô ấy nói, sau khi nghe tôi trình bày kế hoạch. “Tôi đoán bác Archie đã sắp xếp mọi chuyện, tất nhiên, bác ấy muốn được ở cùng quân đội lúc này.” Cái cằm kiên định của cô ấy nhô ra thêm chút nữa. “Xét cho cùng, chiến trường là nơi có các trò vui,” Jenny nói vẻ nhạo báng.
“Tôi đã ngạc nhiên vì cô không đòi đi theo,” tôi nói.
Cô ấy cười, khuôn mặt nhỏ, thô kệch với hàm dưới chìa ra ngoài khiến cô ấy trông giống một con chó bun vui vẻ.
“Nếu có thể, tôi đã đòi làm vậy, nhưng tôi không thể,” cô ấy thẳng thắn thừa nhận. “Giờ thì Hugh đã về, nó cố gắng đưa tôi về nhà. Tôi đáp” - cô ấy liếc quanh để chắc chắn chúng tôi không bị nghe trộm và hạ thấp giọng bí ẩn - “thật chết tiệt nếu đưa chị về nhà ngồi không, trong khi ở đây chị có thể làm điều có ích.”
Jenny đứng trên ngưỡng cửa của ngôi nhà nhỏ, trầm ngâm quan sát trước sau con phố.
“Tôi nghĩ họ sẽ không nghe lời tôi,” tôi lên tiếng. “Vì tôi là người Anh.”
“Phải, cô nói đúng,” cô ấy đáp, “nhưng họ sẽ nghe tôi. Tôi không biết sẽ có bao nhiêu người bị thương - cầu Chúa là không quá nhiều,” cô ấy kín đáo làm dấu thánh giá. “Tuy nhiên, tốt nhất chúng ta nên khởi đầu ở những ngôi nhà gần nhà lớn, lấy nước dưới giếng sẽ đỡ khó khăn hơn.” Cô ấy bước xuống ngưỡng cửa rồi đi xuống phố, tôi bước sát phía sau.
Chúng tôi được mọi người giúp đỡ không chỉ vì chức vụ và con người của Cameron, mà còn bởi ngồi và chờ đợi là hai trong những việc khốn khổ nhất con người từng biết. Khi mặt trời biến mất sau nhà thờ Tranent, chúng tôi đã cơ bản dựng lên được một bệnh viện quân sự.
•••
Lá thông và lá tống quán sủi bắt đầu rụng trong những cánh rừng gần đó, tạo thành các lớp lá xốp trên nền cát vàng bằng phẳng. Thỉnh thoảng, một chiếc lá khô giòn, cong queo màu nâu bị cuốn theo cơn gió, như con thuyền nhỏ dập dềnh trên đại dương dữ dội.
Một trong số chúng bay qua trước mặt tôi, xoắn theo hình xoáy trôn ốc và nhẹ nhàng rơi xuống khi cơn gió yếu dần. Tôi đặt nó trên lòng bàn tay, ngắm nghía một lúc, thầm thán phục vẻ hoàn hảo của các đường gân giữa cùng gân bé, chúng vẫn sẽ tồn tại sau khi phiến lá đã mục ruỗng. Một cơn gió vút qua và chiếc lá bay khỏi bàn tay tôi, rơi xuống nền đất rồi xoay tròn xuôi theo con phố vắng.
Che mắt khỏi những tia nắng của mặt trời đang lặn, tôi có thể thấy mỏm đá bên kia thị trấn, nơi quân đội cao nguyên đang dựng trại. Một nửa quân lính của Điện hạ đã quay lại một tiếng trước và quét sạch những người lang thang khỏi ngôi làng, khi họ hợp quân với Lãnh chúa George. Từ khoảng cách này, tôi chỉ có thể nhận ra một cái bóng nhỏ màu đen, thi thoảng di chuyển, tương phản với bầu trời xám xịt đằng sau, khi có một người đàn ông đi lên đỉnh mỏm đá. Từ cuối con phố tiến thêm một phần tư dặm, tôi trông thấy ánh sáng của những đống lửa bên quân Anh, chúng đang cháy lờ mờ dưới trời chiều chạng vạng. Mùi than bùn nồng nặc tỏa ra từ các mái nhà tranh và những đống lửa gỗ của quân Anh đã lấn át mùi mặn mòi từ bãi biển gần đó.
Công việc chuẩn bị đang được thực hiện. Vợ con của những chiến binh cao nguyên được chào đón bằng lòng mến khách, được tiếp đãi trong các ngôi nhà dọc theo con đường chính, chúng tôi cùng chia sẻ bữa tối đạm bạc gồm bột yến mạch và cá trích muối. Phần cơm của tôi được để trong nhà, dù tôi ăn không ngon miệng.
Một dáng người nhỏ bé nắm lấy khuỷu tay tôi, khẽ khàng như những cái bóng.
“Bà có vào ăn không, thưa phu nhân? Bà chủ nhà đã phần thức ăn bên trong.”
“Ồ? Ồ, đúng rồi, Fergus. Đúng, ta vào đây.” Tôi liếc về phía mỏm đá lần cuối cùng, sau đó quay vào nhà.
“Cháu có vào không, Fergus?” Tôi hỏi và trông thấy cậu đang đứng im trên phố. Cậu lấy tay che nắng, cố gắng quan sát các hoạt động trên mỏm đá bên kia thị trấn. Jamie đã ra lệnh cho Fergus ở cùng tôi, dù tôi biết cậu khao khát được ở cùng những người đàn ông đang chuẩn bị cho trận chiến vào buổi sáng hôm sau.
“Ừm? Ồ, vâng, thưa phu nhân.” Cậu quay sang và thở dài, đành phải chấp nhận tình trạng bình an nhưng buồn tẻ này.
•••
Ngày mùa hạ tuy dài nhưng nhanh chóng chịu thua trước bóng tối, những cây đèn được thắp lên trước khi chúng tôi làm xong công việc chuẩn bị. Màn đêm ngoài kia đang thao thức với những chuyển động không ngừng và ánh sáng từ các đống lửa ở đường chân trời. Fergus không thể ngồi yên, cậu đi ra đi vào, mang theo những mẩu tin nhắn, thu thập các lời đồn và lao vào nhà từ bóng tối bên ngoài như một bóng ma đen sì, nhỏ bé với đôi mắt lấp lánh vì hưng phấn.
“Phu nhân,” cậu giật mạnh ống tay áo của tôi khi tôi đang xé tấm vải lanh thành nhiều mảnh nhỏ và ném chúng vào một chồng đồ tiệt trùng. “Phu nhân!”
“Lần này là gì đây, Fergus?” Tôi khó chịu vì sự xen ngang tùy tiện này. Tôi đang diễn giảng cho một nhóm các bà vợ về vai trò quan trọng của việc rửa tay giữa những lần điều trị vết thương.
“Một người đàn ông, thưa phu nhân! Ông ta đang đợi để được nói chuyện với chỉ huy đội quân của Điện hạ. Ông ta có thông tin quan trọng, ông ta nói vậy.”
“Chà, ta sẽ không ngăn cản ông ta, được chứ?” Tôi giật mạnh đường may cứng đầu và dùng răng cắn rách phần đuôi áo rồi xé mạnh. Nó rách ngay lập tức và một tiếng “roạt” dài vang lên.
Tôi rút ra một, hai sợi chỉ nhỏ. Cậu nhóc vẫn đứng đó, kiên nhẫn chờ đợi.
“Được rồi,” tôi nhượng bộ. “Thế điều gì khiến cháu - hoặc ông ta - cho rằng ta có thể giải quyết vấn đề?”
“Nếu bà cho phép cháu, thưa phu nhân,” cậu nhóc nói, “cháu có thể dẫn ông ta đến chỗ ông chủ. Ngài có thể sắp xếp cho ông ta nói chuyện với chỉ huy.”
“Ngài,” tất nhiên, đối với Fergus, Jamie có thể làm bất cứ việc gì, bao gồm việc đi bộ trên nước, biến nước thành rượu và cả việc để Lãnh chúa George nói chuyện với một người lạ bí ẩn, chỉ vì họ nói có tin tức quan trọng.
Tôi vén tóc và nhét nó xuống dưới khăn trùm đầu, nhưng những món tóc xoăn vẫn rơi ra ngoài.
“Ông ta ở gần đây ư?”
Fergus chỉ đợi có vậy, liền biến mất ở bên kia cánh cửa và quay lại ngay lập tức cùng một chàng trai trẻ gầy gò, anh ta nhìn trân trân vào mặt tôi.
“Bà Fraser phải không ạ?” Anh ta cúi đầu lúng túng khi tôi gật đầu đáp lại, rồi lau hai tay vào quần, dường như anh ta không ý thức được việc đang làm mà chỉ muốn sẵn sàng nếu có lời đề nghị bắt tay.
“Tôi… tôi là Richard Anderson của Whitburgh.”
“Ồ, vậy ư, thật tốt,” tôi trả lời lịch sự. “Người hầu của tôi nói, ông có thông tin giá trị cho Lãnh chúa George Murray.”
Anh ta gật đầu lia lịa như một con chim hét nước. “Bà biết đấy, thưa phu nhân Fraser, tôi đã sống ở vùng này suốt cuộc đời mình. Tôi… tôi biết tất cả những mảnh đất nơi quân đội đóng quân, rõ như trong lòng bàn tay. Và có một con đường để xuống dưới mỏm đá nơi quân đội cao nguyên đang cắm trại - một con đường sẽ dẫn họ đi qua cái mương bên dưới.”
“Tôi hiểu rồi.” Tôi cảm thấy bụng dạ trống rỗng khi nghe những lời này. Nếu người cao nguyên có lệnh tấn công vào lúc mặt trời mọc sáng mai, họ sẽ phải rời khỏi mảnh đất cao trên mỏm đá trong thời gian canh phòng ban đêm. Và nếu nhiệm vụ đó thành công thì còn rất nhiều hố nước phải vượt qua hoặc đi vòng.
Trong khi tôi nghĩ mình biết chuyện gì sẽ xảy ra, tôi lại không chắc chắn về chúng. Tôi đã cưới một sử gia - một cảm giác nhói đau lại xuất hiện mỗi khi nghĩ về Frank - và biết những nguồn tư liệu lịch sử thường không đáng tin cậy. Và tôi không biết sự hiện diện của mình ở quá khứ có thể thay đổi mọi chuyện hay không.
Trong một thoáng, tôi rất băn khoăn, chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi cố gắng cản trở Richard Anderson nói chuyện với Lãnh chúa George? Kết quả của trận chiến ngày mai có thay đổi không? Quân đội cao nguyên - bao gồm cả Jamie và người của anh - sẽ bị giết khi họ xuống đồi trên con đường đất lầy lội hay trong một hố nước? Liệu Lãnh chúa có làm theo kế hoạch khả dĩ hơn? Hay Richard Anderson sẽ tự tìm cách nói chuyện với Lãnh chúa George, cho dù tôi ngăn cản thế nào?
Nếu tôi chấp nhận, chuyện này cũng không phải việc mạo hiểm. Tôi nhìn Fergus, cậu nhóc đang bồn chồn và nóng lòng muốn ra đi.
“Cháu nghĩ mình có thể tìm được ông chủ ư? Trên mỏm đá đó tối như lòng mỏ than vậy. Ta không muốn hai người bị bắn nhầm trong lúc mò mẫm đi lên đó đâu.”
“Cháu có thể tìm ông ấy, thưa phu nhân,” Fergus tự tin nói. Tôi nghĩ, chắc chắn cậu có thể. Dường như cậu nhóc có một dạng sóng ra đa có thể bắt được vị trí của Jamie.
“Vậy thì được,” tôi chấp nhận. “Nhưng vì Chúa, hãy cẩn thận!”
“Oui, thưa phu nhân!” Nhanh như chớp, Fergus đã ở trên ngưỡng cửa, lắc lư, hăm hở bởi được cho phép.
Nửa tiếng sau khi họ đi khỏi, tôi phát hiện con dao mình để trên bàn cũng biến mất. Và chỉ khi đó, tôi mới nhớ ra và cảm thấy dạ dày nôn nao, khi tôi dặn Fergus cẩn thận, tôi đã quên không dặn cậu trở về.
•••
Tiếng súng đại bác đầu tiên xuất hiện trước khi trời sáng, một tiếng nổ to làm rung chuyển những tấm gỗ tôi đang nằm. Mông tôi co rúm, một cái đuôi tóc không phải của tôi đang phủ lên người tôi và các ngón tay tôi cài vào tay của người phụ nữ nằm bên cạnh. Nếu ta biết trước chiến tranh sẽ xảy ra, sự hiểu biết đó sẽ trở thành một hàng rào bảo vệ, nhưng không hiểu sao, điều đó chẳng bao giờ thành sự thực.
Có tiếng rên khe khẽ từ trong góc nhà, người phụ nữ kế bên tôi thì thầm: “Mẹ Mary, Thánh Michael và Thánh Bride bảo vệ cho chúng con.”
Sàn nhà rung lắc khi những người phụ nữ bắt đầu ngồi dậy. Họ nói chuyện khe khẽ, như thể mọi cái tai đều đang lắng nghe âm thanh của trận chiến bên dưới bình địa.
Tôi trông thấy một người vợ vùng cao nguyên, bà MacPherson, đang gập chăn bên cạnh ô cửa sổ xám. Khuôn mặt bà trắng bệch vì sợ hãi và bà nhắm mắt, khẽ rùng mình, khi một tiếng nổ khác vang lên phía dưới kia.
Tôi xin sửa lại ý kiến cá nhân về tính vô dụng của sự hiểu biết. Những người phụ nữ này không biết các đường mòn bí mật, những cuộc tấn công lúc bình minh hay những vụ đánh úp bất ngờ. Họ chỉ biết rằng chồng và con trai họ đang đối mặt với khẩu đại bác và súng nòng dài của quân lính Anh đông gấp bốn lần.
Tiên tri là một công việc nguy hiểm ngay cả trong điều kiện tốt nhất và tôi biết họ không quan tâm đến tôi. Điều tốt nhất tôi có thể làm cho họ là giữ họ bận rộn. Một hình ảnh lướt qua tâm trí tôi, hình ảnh mặt trời đang mọc chiếu ánh nắng lên mái tóc sáng chói, khiến chủ nhân của nó trở thành mục tiêu hoàn hảo. Theo sau nó là hình ảnh một cậu bé có hàm răng của một con sóc, với vũ khí là con dao thái thịt ăn trộm được và đôi mắt sáng tin vào vinh quang của chiến tranh. Tôi nhắm mắt, nuốt nước miếng một cách khó khăn. Tiếp tục bận rộn là điều tốt nhất tôi có thể làm cho mình.
“Thưa các bà!” Tôi lên tiếng. “Chúng ta đã làm được rất nhiều, nhưng cần nhiều hơn nữa. Chúng ta sẽ cần nước sôi. Những vạc nước sôi, những chảo kem. Cháo yến mạch cho người có thể ăn, sữa cho người không thể. Mỡ động vật và tỏi. Gỗ mỏng để nẹp chân gãy. Chai và bình, cốc và thìa. Kim khâu và chỉ bền. Bà MacPherson, nếu bà có thể...”
•••
Tôi biết rất ít về trận chiến này, ngoại trừ việc bên nào sẽ chiến thắng và thương vong của quân Jacobite là “không đáng kể”. Từ nơi xa xôi, trang giấy của cuốn sách giáo khoa một lần nữa xuất hiện lờ mờ trong đầu tôi, tôi hồi tưởng những thông tin ít ỏi đó: “… trong khi quân Jacobite chiến thắng, với chỉ ba mươi người thương vong.”
Thương vong. Đúng hơn là chết. Theo thuật ngữ của y tá, bất kỳ vết thương nào cũng là một thương vong, và khi ánh mặt trời ban trưa xuyên qua màn sương mù đang phủ lên mặt biển, tôi có tới hơn ba mươi người bị thương trong ngôi nhà. Dần dần, những người chiến thắng trở về Tranent trong niềm vui hân hoan, dìu đỡ những người đồng đội bị thương của họ.
Điện hạ hành xử rất kỳ quặc khi yêu cầu rằng những người Anh bị thương phải được đưa ra khỏi bãi chiến trường trước nhất và được chăm sóc cẩn thận. “Họ là thần dân của Vua Cha,” cậu ta kiên quyết nói, nhân mạnh chữ “Ch”, “và ta sẽ chăm sóc tốt cho họ.” Sự thật là những người dân cao nguyên vừa đánh thắng trận trở về cũng là những thần dân của cha cậu ta, nhưng dường như cậu ta không hề chú ý đến họ.
“Đúng là cha nào con nấy,” tôi lẩm bẩm với Jenny Cameron khi nghe thấy điều này, “tốt hơn là quân đội cao nguyên nên hy vọng, Chúa Thánh Thần không xuống đây hôm nay.”
Bà MacPherson có vẻ choáng váng khi nghe thấy lời báng bổ hồ đồ này nhưng Jenny chỉ cười lớn.
Tiếng reo hò và la hét inh tai bằng ngôn ngữ Gaelic đã lấn át tiếng rên rỉ quằn quại trên những cái cáng tạm được làm từ những tấm ván dài hay những khẩu súng nòng dài được buộc chặt với nhau. Vài người được dìu đỡ trên cánh tay bạn bè. Vài người lảo đảo bước đi bằng chính sức của mình, cười toe toét và say sưa trong sự hồ hởi, vết thương chỉ là phiền phức nhỏ nhặt trước niềm tin đã được chứng minh bằng vinh quang. Mặc dù bị thương nhưng nhận thức của họ vẫn đắm chìm trong chiến thắng, khiến toàn bộ căn nhà được lấp đầy bằng không khí vui tươi.
“Chúa ơi, cậu có thấy chúng chạy trối chết như mấy con chuột nhắt chạy cong đuôi khi bị mèo đuổi sát nút không?” Một bệnh nhân nói với người bên cạnh, dường như ông ta đã quên rằng thuốc súng làm ông ta cháy sém toàn bộ cánh tay trái, từ đầu ngón tay đến vai.
“Và rất nhiều trong số chúng đã mất đuôi,” bạn ông ta trả lời và cười như nắc nẻ.
Nhưng không phải ai cũng vui vẻ. Thỉnh thoảng, có những nhóm lính cao nguyên thờ ơ đi ngang qua đồi, mang theo thân hình bất động của bạn mình, phần đuôi áo choàng len che đi một gương mặt trống rỗng, với ánh mắt vô hồn hướng về thiên đường.
Đây là thử thách đầu tiên dành cho các trợ lý được lựa chọn của tôi. Họ đã vượt qua thử thách cũng như các chiến binh trên chiến trường. Ban đầu, họ ngần ngại không muốn đến, than thở là phiền phức nhưng đến khi cần thiết, họ tự quăng mình vào bãi chiến trường với sự mãnh liệt vô song.
Nhưng họ không ngừng than phiền trong khi làm việc.
Bà McMurdo quay lại với một cái chai đầy, treo nó lên điểm đã chỉ định trên tường, sau đó tìm kiếm những chai mật ong trong chậu. Người vợ luống tuổi của một thợ đánh cá ở Tranent hối hả tập trung vào công việc phục vụ quân đội, bà giục mọi người uống thật nhiều thứ nước ngọt ấy khi nào được phép - và sau đó đi một vòng để xem xét kết quả và lấy lại hai hoặc ba chai đã hết nước.
“Nếu ta không cho họ uống thật nhiều, họ sẽ không đi tiểu nhiều,” bà than vãn - không phải một lần.
“Họ cần nước,” tôi kiên nhẫn giải thích, cũng không phải lần đầu. “Nó giúp họ không bị tụt huyết áp, thay thế lượng nước đã mất và giúp họ không bị sốc - đây, nhìn này, thưa bà, bà có thấy rất nhiều người đang chết dần không?” Tôi gặng hỏi, bởi đột nhiên mất kiên nhẫn trước sự nghi ngờ và than phiền liên tục của bà McMurdo, cái miệng móm mém của bà thêm vào một nét tang thương cho cái biểu cảm nghiêm khắc khó lay chuyển đã có - mất tất cả rồi, nó như muốn nói; tại sao lại phải phiền phức hơn chứ?
“Ừm,” bà đáp. Vì bà cầm lấy chai nước và tiếp tục công việc của mình mà không phàn nàn thêm nữa, tôi coi âm thanh này như một lời tán thành tạm thời.
Tôi bước ra ngoài để chạy trốn khỏi bà McMurdo và không khí trong nhà. Nó nồng nặc khói, hơi nóng và những cơ thể hôi hám chưa được tắm rửa, khiến tôi cảm thấy hơi chóng mặt.
Con phố toàn là đàn ông, họ say xỉn, chúc mừng nhau, chất đầy chiến lợi phẩm từ chiến trường. Một nhóm đàn ông mặc áo choàng len kẻ ô màu đỏ của thị tộc MacGillivray đang kéo theo một khẩu đại bác của người Anh, được cột bằng dây thừng như đang kéo một con thú hoang nguy hiểm. Sự tương đồng càng nổi bật nhờ vào những hình chạm khắc kỳ lạ về những con sói cúi mình lấy đà trang trí trên lỗ mồi và họng súng. Tôi đoán nó là một trong những vật trưng bày của Tướng Cope.
Sau đó, tôi nhận ra hình người đen đủi, bé nhỏ cưỡi trên họng súng, cái đầu dựng đứng như một cái bàn chải dùng để cọ chai lọ. Tôi nhắm mắt tạ ơn, rồi mở mắt ra, vội vàng bước đến để kéo cậu nhóc xuống khỏi khẩu đại bác.
“Thằng nhóc!” Tôi vừa nói vừa lắc cậu bé, sau đó ôm lấy cậu. “Cháu lẻn đi như thế là có ý gì? Nếu ta không quá bận rộn, ta đã bạt tai cho đến khi cái đầu của cháu kêu lách cách đấy!”
“Phu nhân,” cậu nói, chớp mắt ngớ ngẩn dưới ánh trời chiều. “Phu nhân!”
Tôi nhận ra Fergus không nghe thấy gì. “Cháu có ổn không vậy?” Tôi hỏi dịu dàng hơn.
Khuôn mặt bẩn thỉu bám đầy bùn đất và thuốc súng tỏ ra hoang mang. Cậu nhóc gật đầu và một nụ cười sửng sốt nở trên gương mặt cáu ghét.
“Cháu đã giết một gã lính Anh, thưa phu nhân!”
“Ồ!” Tôi không biết cậu nhóc muốn được chúc mừng hay muốn được an ủi. Cậu mới mười tuổi.
Cậu cau mày và nhăn mặt như đang cố gắng rất nhiều để nhớ lại một điều gì đó.
“Cháu nghĩ cháu đã giết hắn. Hắn ngã xuống và cháu đã đâm dao vào hắn.” Cậu nhìn tôi hoang mang, dường như đang đợi câu trả lời.
“Đi nào, Fergus,” tôi nói. “Chúng ta sẽ kiếm cho cháu chút thức ăn và một nơi để ngủ. Đừng nghĩ ngợi thêm nữa!”
“Vâng, thưa phu nhân!” Cậu ngoan ngoãn, lảo đảo bước bên cạnh tôi, nhưng chỉ được vài giây, tôi thấy cậu sắp sửa ngã dập mặt. Tôi chật vật đỡ Fergus dậy và kéo cậu vào ngôi nhà gần nhà thờ, nơi đã được tận dụng làm trung tâm y tế của chúng tôi. Tôi định cho cậu ăn trước, nhưng cậu có vẻ buồn ngủ lúc chúng tôi đến chỗ O’Sullivan đang cố gắng tổ chức đội xe goòng quân nhu mà không thành công lắm.
Cuối cùng, tôi để Fergus nằm cuộn tròn trong cái giường cũi ở một ngôi nhà tranh. Tại đó, một người phụ nữ đang trông những đứa trẻ trong khi mẹ chúng chăm sóc những người đàn ông bị thương. Đó là nơi tốt nhất cho Fergus.
•••
Vào lúc xế chiều, ngôi nhà đã chứa hai, ba mươi người đàn ông và hai người phụ nữ của tôi đang phải bận rộn chăm sóc họ. Một ngôi nhà thông thường chỉ có thể chứa một gia đình khoảng năm hoặc sáu người, do đó những người có thể đứng thì phải đứng trên các tấm khăn choàng được trải xuống sàn. Tôi trông thấy các chỉ huy ra vào tòa nhà lớn cách chỗ chúng tôi một ngôi nhà nhỏ, nơi cư trú của viên bộ trưởng được trưng dụng bởi Người Chỉ huy Tối cao. Tôi nhìn cánh cửa mòn vẹt bị mở khép liên tục, nhưng không thấy Jamie giữa những người đến báo cáo thương vong và nhận lời chúc mừng.
Tôi xua đi cảm giác lo lắng cứ lặp đi lặp lại, nói với chính mình rằng tôi không thấy anh giữa những người bị thương. Tôi không có thời gian rảnh rỗi để lên túp lều nhỏ dựng trên sườn dốc, nơi những người hy sinh trong trận chiến được đặt nằm thành nhiều hàng ngay ngắn, như đang đợi để kiểm tra lần cuối. Tuy nhiên, chắc chắn anh không có mặt ở đó.
Chắc chắn không, tôi tự nói với mình.
Cánh cửa mở ra và Jamie bước vào.
Khi nhìn thấy anh, tôi cảm thấy hai đầu gối nhẹ bẫng, liền đưa tay bám vào mặt lò sưởi. Anh đưa mắt nhìn khắp phòng trước khi hướng về phía tôi với một nụ cười làm bừng sáng gương mặt, một nụ cười khiến trái tim tôi ngừng đập.
Người anh lấm lem vì thuốc súng và lấm chấm máu, đôi chân không đi giày, cẳng chân và bàn chân phủ một lớp bùn dày. Nhưng anh vẫn khỏe mạnh và đang đứng đó. Tôi chẳng còn muốn chỉ trích những tiểu tiết kia.
Tiếng thét chào mừng từ một người đàn ông bị thương nằm trên sàn nhà đã kéo sự chú ý của anh rời khỏi tôi. Anh liếc xuống, mỉm cười với George McClure, anh ta cũng cười nhăn nhở đáp lại vị chỉ huy, dù một bên tai của anh ta chỉ còn dính hờ vào đầu. Sau đó, Jamie lại nhìn tôi.
Tạ ơn Chúa, đôi mắt màu xanh thẫm của anh nhắn nhủ, và Tạ ơn Chúa, ánh mắt của tôi đáp lại.
Không còn thêm thời gian nữa, những người đàn ông bị thương vẫn đang được đưa vào và bất cứ ai trong làng không phải thành viên của lực lượng quân đội mà có thể cử động được đều phải phục vụ và chăm sóc họ. Archie Cameron, người anh em làm bác sĩ của Lochiel, hối hả chạy qua chạy lại giữa những ngôi nhà tranh, ông ta là người phụ trách trên danh nghĩa và thi thoảng cũng thực sự làm được nhiều việc có ích.
Tôi đã sắp xếp để những người đàn ông Fraser đến từ Lallybroch được mang tới cùng một ngôi nhà, khi đó tôi có thể tự mình chữa trị cho họ, lần lượt theo thứ tự nguy cấp và độ nguy hiểm của vết thương, rồi gửi những người còn đi lại được xuống phố để Jenny Cameron giải quyết, những người sắp chết thì được đưa đến khu vực của Archie Cameron trong nhà thờ. Tôi nghĩ ông ta khá thành thạo việc phân phát cồn thuốc phiện và khung cảnh xung quanh cũng an ủi họ phần nào.
Tôi giải quyết những vết thương nghiêm trọng trong khả năng của mình. Những người bị gãy xương được chuyển sang bên cạnh, ở đó có hai bác sĩ phẫu thuật đến từ trung đoàn Macintosh, họ có thể thực hiện việc nẹp và băng bó. Những người bị thương ở ngực nhưng không nguy hiểm đến tính mạng được thoải mái dựa người vào tường, trong tư thế nửa ngồi nửa nằm, để thở dễ dàng hơn; vì thiếu ôxy hoặc các phương tiện dùng cho phẫu thuật nên tôi chỉ giúp được họ rất ít. Những người bị vết thương nghiêm trọng ở đầu sẽ được gửi đến nhà thờ để chờ chết, tôi không thể giúp gì cho họ và họ sẽ được nghỉ ngơi trong vòng tay của Chúa, nếu không muốn nói là Archie Cameron.
Những người bị mất tay chân hoặc các chi bị giập nát và bị thương ở phần bụng là tệ nhất. Ở đây không hề vô trùng. Tất cả những gì tôi có thể làm là rửa sạch bàn tay mình và bắt các trợ lý làm việc tương tự - chừng nào họ còn ở dưới sự giám sát trực tiếp của tôi - và cố gắng đảm bảo rằng những đồ băng bó được đun sôi trước khi quấn băng. Tôi biết hành động để phòng này bị coi là lãng phí thời gian và bị phớt lờ ở các ngôi nhà khác, bất chấp sự hướng dẫn từ tôi. Nếu tôi không thể thuyết phục các xơ và thầy thuốc của nhà thương Des Anges về sự tồn tại của vi sinh vật gây bệnh thì tôi cũng không có khả năng thuyết phục một tập hợp các bà chủ nhà Scotland và những nhà phẫu thuật quân đội mà tôi nghi ngờ là bác-sĩ-chăm-ngựa[3].
Tôi nghĩ tới một người đàn ông bị thương nhẹ nhưng lại chết vì nhiễm trùng. Tôi chỉ có thể dành cho cánh đàn ông ở Lallybroch và vài người khác lợi ích từ đôi bàn tay và những tấm băng sạch. Tôi không thể lo lắng cho tất cả những người còn lại. Tôi đã được nghe một lời tuyên bố, hồi còn làm y tá trên các chiến trường của nước Pháp, trong một cuộc chiến rất xa nơi này cả về không gian và thời gian: “Bạn không thể cứu thế giới, nhưng bạn có thể cứu người đàn ông trước mặt mình, nếu bạn làm việc đủ nhanh.”
Jamie đứng trên ngưỡng cửa một lúc để đánh giá tình hình, sau đó, anh bắt đầu giúp làm những công việc nặng nhọc như di chuyển các bệnh nhân, nhấc các vạc nước nóng, đi múc nước sạch từ cái giếng ở quảng trường Tranent. Sau khi được giải thoát khỏi nỗi lo lắng về anh, tôi nhanh chóng bắt kịp guồng quay của công việc và gần như quên mất anh.
Điểm phân loại của bệnh viện dã chiến nào cũng tạo cảm giác tương tự như lò sát sinh và nơi đây cũng không ngoại lệ. Nền nhà bằng đất nên nó thấm máu và các dung dịch khác. Tuy nhiên, chỗ đất đó trở nên lầy lội, khiến việc đi lại trở nên nguy hiểm.
Hơi nước bốc lên cuồn cuộn từ các vạc nước sôi, phả thêm hơi nóng vào bầu không khí lao động khổ nhọc nơi đây. Người nào cũng rịn mồ hôi, những người giặt giũ thì nhớp nháp, những người đàn ông bị thương thì tỏa ra mùi hôi thối, sợ hãi kèm theo cơn thịnh nộ kéo dài. Màn khói thuốc bốc lên từ các bãi chiến trường bên dưới, trôi giữa những con phố của Tranent và luồn vào nhà qua các cánh cửa mở, làm chúng tôi cay mắt và đe dọa đến độ tinh khiết của những tấm vải lanh mới được luộc, đang nhỏ giọt trên cái giá sấy cá thu bên đống lửa.
Dòng chảy của thương vong ập vào như một cơn sóng, rửa sạch ngôi nhà như một đợt nước cọ rửa, rồi một đợt mới lại dâng trào, khuấy đảo mọi thứ trong hỗn loạn. Chúng tôi như người quẫy đạp trong nước, chống chọi với lực kéo của thủy triều và trụ lại đến cuối cùng, thở hổn hển, tiếp tục xoay xở với những người bị thương trôi nổi dạt tới sau mỗi đợt sóng.
Tất nhiên, những hoạt động điên cuồng nhất cũng có khoảng thời gian tạm lắng. Chúng bắt đầu xuất hiện thường xuyên hơn từ buổi chiều tới sáng hôm sau, khi những dòng chảy thương vong trở nên nhỏ giọt. Chúng tôi đã quen với công việc hằng ngày là chăm sóc cho các bệnh nhân còn lại. Tuy công việc còn bận rộn nhưng cuối cùng chúng tôi đã có thể hít thở và đứng ở một nơi, ngắm nhìn xung quanh.
Tôi đứng bên khung cửa mở, hít vào luồng không khí trong lành từ ngoài khơi thổi vào, Jamie quay trở lại và mang theo một ôm củi. Anh vứt nó xuống nền lò sưởi và đến đứng bên cạnh tôi, một tay đặt lên vai tôi. Những giọt mồ hôi chảy xuống theo xương quai hàm của anh, tôi dùng tạp dề để chấm nhẹ.
“Anh đã sang các nhà khác phải không?” Tôi hỏi.
Anh gật đầu, hơi thở chậm dần. Khuôn mặt lấm chấm bẩn vì muội than và một thứ giống như máu mà tôi không thể nói chắc, nhưng trông anh tái nhợt.
“Phải. Cướp bóc vẫn diễn ra ngoài chiến trường và nhiều người đàn ông mất tích. Tất cả người bị thương của chúng ta đã ở đây - không còn nơi nào khác.” Anh hất đầu về phía cuối nhà, ở đó có ba người bị thương đến từ Lallybroch, đang nằm và ngồi làm bạn với nhau bên lò sưởi, trao đổi mấy lời lăng mạ bông đùa với những người Scotland khác. Mấy người lính Anh bị thương thì nằm cạnh nhau ở gần cửa ra vào. Họ không nói nhiều, chỉ suy ngẫm về viễn cảnh ảm đạm khi bị giam cầm.
“Không nặng chứ?” Anh hỏi tôi, nhìn về phía ba người ở Lallybroch.
Tôi lắc đầu. “George McClure có thể sẽ mất tai, em không nói trước được. Tuy nhiên, tình trạng của họ không nặng, em nghĩ họ sẽ sớm khỏe thôi.”
“Tốt.” Anh nhìn tôi, mỉm cười mệt mỏi và lau mặt bằng đuôi áo choàng. Tôi thấy anh cẩu thả quấn nó trên người thay vì khoác lên vai. Chắc anh muốn tránh vướng víu và nóng nực.
Anh quay người đi, định lấy một chai nước treo trên cái móc sau cửa.
“Đừng lấy chai đó!” Tôi nói.
“Tại sao?” Anh hỏi, cảm thấy khó hiểu. Anh lắc cái chai miệng rộng và nó phát ra tiếng óc ách. “Nó đầy nước mà.”
“Em biết,” tôi đáp. “Em dùng nó để thay cho bô đi tiểu.”
“Ồ!” Anh cầm cái chai bằng hai ngón tay và để nó vào chỗ cũ, nhưng tôi ngăn anh lại.
“Đừng, mang nó đi đi,” tôi đề nghị. “Anh có thể mang nó ra ngoài kia để đổ và lấy nước giếng vào cái chai này.” Tôi đưa anh một cái chai bằng đá màu xám khác, giống hệt cái trước.
“Cố gắng đừng lẫn lộn chúng,” tôi khuyên.
“Ừm,” anh đáp và nhìn tôi theo kiểu Scotland, kèm một âm thanh trong họng, sau đó quay đi.
“Này!” Tôi gọi, khi trông thấy anh từ phía sau. “Kia là cái gì?”
“Cái gì chứ?” Anh giật mình đáp, cố gắng nhìn qua vai.
“Cái đó!” Những ngón tay tôi lần theo vết đất bẩn, tấm áo choàng võng xuống in rất rõ dấu một khuôn hình. “Nó trông giống dấu chân ngựa,” tôi không thể tin được.
“Ồ, cái đó,” anh nói, nhún vai.
“Một con ngựa giẫm lên anh?”
“Chà, nó không cố ý,” anh nói, bảo vệ cho hành động của con ngựa. “Ngựa không thích giẫm lên người. Anh đoán do nó cảm thấy dưới chân hơi mềm.”
“Cứ cho là như vậy,” tôi đồng tình và tóm lấy một ống tay áo của Jamie để ngăn anh cố gắng trốn tránh. “Đứng yên! Làm thế quái nào mà chuyện này xảy ra?”
“Chuyện đó không có vấn đề gì hết,” anh phản đối. “Xương sườn của anh không bị gãy, chỉ bị bầm tím đôi chút.”
“Ồ, chỉ đôi chút,” tôi mỉa mai. Tôi cởi lớp vải bẩn đằng sau và trông thấy vết hằn rõ ràng, sắc nét của một cái móng ngựa cong đóng lên làn da trắng ở lưng anh, ngay phía trên eo. “Chúa ơi, trông thấy cả đinh của móng.” Anh vô tình nhăn mặt khi tôi chạm vào.
Anh giải thích, chuyện này xảy ra trong đợt tấn công chớp nhoáng của tốp kỵ binh. Phần lớn người cao nguyên chỉ có thói quen cưỡi ngựa Pony nhỏ lông bờm xờm. Họ tin rằng ngựa của kỵ binh Anh được huấn luyện để tấn công bằng móng và răng. Do hoảng sợ trước sự tấn công của bầy ngựa đó, họ thường bị ngã nhào trước móng của chúng trong lúc đang chém bằng kiếm, lưỡi hái hoặc rìu.
“Còn anh không nghĩ như vậy ư?”
“Tất nhiên, Sassenach ạ,” anh nói bằng giọng mất kiên nhẫn. “Nó không cố gắng tấn công anh. Tên cưỡi nó muốn bỏ trốn, nhưng hắn bị mắc kẹt nên chỉ có thể thoát được nếu phi qua người anh.”
Qua đôi mắt hắn, anh thấy hắn hiểu điều đó, vì vậy chưa đến một giây sau, Jamie đã tự nằm sấp xuống, hai tay ôm đầu trước khi gã kỵ binh thúc gót chân vào mạng sườn con ngựa của mình.
“Sau đó là hơi thở như làm nổ tung hai lá phổi của anh,” anh giải thích. “Anh cảm thấy cú giẫm, nhưng nó không đau. Không hề.” Anh đưa tay ra sau, xoa lên vết lằn rồi hơi nhăn mặt.
“Được,” tôi nói, thả mép áo xuống. “Sau đó, anh đã đi tiểu lần nào chưa?”
Anh nhìn tôi chằm chằm, như thể tôi bị điên.
“Anh bị cả một con ngựa nặng bốn trăm cân giẫm lên một bên thận,” tôi giải thích, hơi mất kiên nhẫn, vì những người đàn ông bị thương đang đợi. “Em muốn biết nước tiểu của anh có máu hay không.”
“Ồ,” anh hiểu ra. “Anh không biết.”
“Vậy thì, chúng ta sẽ thử xem, được không?” Tôi đã đặt hộp thuốc của mình ở một góc phòng, sau khi lục tìm, tôi lôi ra một cái cốc thủy tinh dùng để đựng nước tiểu kiếm được ở nhà thương Des Anges.
“Làm đầy nó và mang lại cho em.” Tôi đưa cho anh và quay qua chỗ lò sưởi, một vạc khăn sôi đang đợi tôi ở đó.
Tôi liếc ra sau và thấy anh vẫn ngắm nghía cái cốc chăm chú, với biểu hiện không nghiêm túc.
“Cần giúp không, chàng trai?” Một lính Anh nằm trên tấm ván dưới sàn nhà đang nhìn và cười với Jamie.
Khuôn mặt đen nhẻm của anh khoe ra hàm răng trắng đáp lại. “Ồ, có,” anh nói và cúi xuống, đưa cái cốc cho tay người Anh. “Đây, cầm nó hộ tôi, trong lúc tôi ngắm bắn.”
Những người nằm gần đó thì thầm thích thú, họ tạm thời quên đi cơn đau của mình.
Sau một thoáng do dự, tay lính Anh cầm lấy cái cốc dễ vỡ và nắm không quá chặt, miệng vẫn mỉm cười, bất chấp mồ hôi đọng ở môi trên. Ông ta bị một mảnh đạn cắm vào hông.
“Cá sáu penny là cậu không làm được,” người lính nói, sau đó di chuyển cái cốc, cách đôi chân trần của Jamie ba hoặc bốn bước. “Từ chỗ cậu đứng.”
Jamie nhìn xuống ngẫm nghĩ, anh xoa cằm trong khi ước lượng khoảng cách. Người đàn ông được tôi băng bó cánh tay đã ngừng rên rỉ và bị thu hút vào màn kịch đang lên đến cao trào kia.
“Được đấy, tôi thấy không dễ đâu,” Jamie cố tình nói giọng Scotland đặc sệt. “Nhưng chỉ sáu penny sao? Thôi nào, khoản tiền đó có xứng đáng với độ khó này không?” Đôi mắt vẫn luôn nhìn xuống của anh giờ xếch lên như mắt mèo khi anh cười tươi.
“Một món tiền dễ ợt, chàng trai ạ,” tay người Anh đáp, tuy thở khó khăn nhưng vẫn cười. “Đối với tôi.”
“Hai đồng bạc penny cho chàng trai,” một người của tộc MacDonald nói vọng ra từ trong góc lò sưởi.
Một tay lính Anh khác đã lộn trái áo khoác để chứng tỏ tình trạng tù nhân của mình, nay cũng mò mẫm trong hai vạt áo để tìm chiếc túi nhỏ.
“Ha! Thêm một túi thuốc lá cho bên này!” Tay này kêu lên, hân hoan đưa ra một túi vải đựng thuốc lá.
Những tiếng la hét cá cược cùng những lời nhận xét thô lỗ được ném đến tới tấp, Jamie ngồi xổm xuống, tỏ vẻ ước chừng khoảng cách tới chiếc cốc.
“Được rồi,” cuối cùng anh đáp, đứng thẳng người, nâng hai vai ra sau. “Ông sẵn sàng chưa?”
Tên người Anh nằm trên sàn cười khúc khích, “Ồ, tôi sẵn sàng, chàng trai ạ!”
“Vậy thì được.”
Một tiếng suỵt vang lên. Đám đàn ông chống khuỷu tay, nhổm người dậy để xem. Khi vui vẻ, họ không còn quan tâm đến sự bất tiện hay thù hằn.
Jamie liếc khắp căn phòng, gật đầu với những người ở Lallybroch, rồi vén cái váy lên thật chậm rãi và cho tay vào trong. Anh cau mày tập trung, đưa tay mò mẫm, sau đó tỏ ra khó hiểu.
“Tôi có mang theo khi đi mà,” anh nói, cả căn phòng bật cười ha hả.
Anh cũng cười toe toét vì trò đùa thành công. Anh nâng cái váy lên cao hơn, nắm lấy “thứ vũ khí” có hình thù rõ ràng và nhắm thật cẩn thận. Anh làm mắt lác, chùng gối, các ngón tay siết chặt.
Không có chuyện gì xảy ra.
“Súng tịt!” Một tên lính Anh reo lên.
“Đạn bị ướt!” Người khác huýt sáo chế giễu.
“Súng không có đạn à, chàng trai?” Kẻ cá cược chế giễu từ dưới sàn nhà.
Jamie nhìn vào dụng cụ của mình, một tràng huýt sáo và la hét rộ lên. Tiếp đó, khuôn mặt Jamie bừng sáng.
“Ha! Buồng đạn của tôi rỗng không, chỉ thế thôi!” Anh đưa tay với hàng chai ở trên tường, nháy mắt nhìn tôi và khi tôi gật đầu, anh cầm một chai tu ừng ực hết sạch. Nước rỏ xuống cằm, rơi trên áo và yết hầu nẩy lên xuống trong khi anh uống.
“Ahhh.” Anh hạ cái chai xuống, dùng tay áo lau bụi bẩn trên mặt rồi cúi đầu về phía khán giả.
“Giờ thì,” anh bắt đầu cho tay xuống, nhưng trông thấy khuôn mặt tôi, anh liền dừng lại giữa chừng. Tuy không thấy cánh cửa mở ra sau lưng, cả người đàn ông đang đứng ở đó, nhưng việc căn phòng đột nhiên yên lặng đã nói cho anh hay trò cá cược đã kết thúc.
•••
Hoàng tử Charles Stuart khom người dưới lanh tô và bước vào nhà. Khi đi thăm những người bị thương, cậu ta mặc một chiếc quần nhung màu mận cùng đôi tất bằng vải trắng tinh và - để thể hiện tình đoàn kết với các người lính - chiếc gi lê cùng áo khoác bên ngoài được làm bằng vải của tộc Cameron, điểm thêm cho bộ trang phục là tấm áo choàng quàng lệch một bên vai, được cài bằng ghim đính đá thạch anh. Mái tóc của cậu ta mới được sấy khô và huân chương St. Andrew sáng lấp lánh trước ngực.
Cậu ta đứng trên ngưỡng cửa, truyền cảm hứng cao quý cho mọi người trong tầm mắt và cản trở lối vào của những người phía sau. Charles từ tốn đưa mắt nhìn quanh, trông thấy hai mươi lăm người đang nằm sát cạnh nhau dưới nền nhà, những người giúp đỡ khom mình trên người bệnh nhân, đống băng gạc đầy máu bẩn thỉu nằm trong một xó, thuốc và dụng cụ y tế rải rác trên bàn và tôi đứng đằng sau nó.
Điện hạ không quan tâm nhiều đến phụ nữ và phần lớn quân đội, nhưng cậu ta bị mắc kẹt bởi các quy tắc lịch sự. Tôi là một phụ nữ, mặc cho những vết máu hay nôn mửa chạy dài trên váy và búi tóc cùng nửa tá ghim cài đang rơi khỏi tấm khăn trùm đầu.
“Bà Fraser,” cậu ta nói, cúi đầu chào tử tế.
“Chào Điện hạ,” tôi nhún gối đáp lại, hy vọng cậu ta không nấn ná lâu.
“Thay mặt mọi người, tôi đánh giá rất cao công việc của bà, thưa bà,” cậu ta nhấn mạnh ngữ điệu kiểu Ý hơn bình thường.
“Vâng, đội ơn ngài,” tôi nói. “Xin hãy để ý đến chỗ máu. Căn phòng này rất khó đi.”
Khuôn miệng xinh xinh của cậu ta mím lại trong lúc men qua đống đất nhão tôi chỉ. Cánh cửa vừa thông thoáng thì Shediran, O’Sullivan và Lãnh chúa Balmerino bước vào, làm ngôi nhà chật kín. Lúc này, Charles cần chú tâm cư xử thật lịch thiệp, trong lúc khom người đi giữa hai dãy ván gỗ.
Cậu ta nhẹ nhàng đặt bàn tay lên vai một người đàn ông.
“Tên của anh là gì, hỡi người đồng đội kiêu hãnh?”
“Gilbert Munro… ừm, thưa Điện hạ,” người đàn ông vội nói thêm, bị cái nhìn của Hoàng tử làm cho kính sợ.
“Sự hy sinh của anh thật tuyệt vời, Gilbert Munro,” Charles nói. “Tôi xin hứa anh sẽ không bao giờ bị lãng quên.” Bàn tay của cậu ta vuốt một bên má rậm râu của Munro, khiến nó đỏ ửng vì vui mừng và ngượng nghịu.
Tôi phải xử lý cho người đàn ông nằm trước mặt mình, ông ta bị thương trên đầu và cần khâu gấp, tuy nhiên tôi có thể thấy Charles đi nhiều vòng quanh ngôi nhà. Cậu ta di chuyển thật chậm từ giường này sang giường kia, không bỏ sót một ai, dừng lại để hỏi từng người đàn ông tên họ và quê quán, đáp lại lời cảm ơn và lòng yêu mến, chúc mừng và chia buồn.
Các bệnh nhân đều bị sốc và yên lặng, cả người Anh và người cao nguyên đều phản ứng giống nhau, chỉ có thể trả lời Điện hạ bằng giọng lầm bầm thật nhỏ. Cuối cùng, cậu ta đứng dậy, duỗi thẳng người làm dây chằng kêu cọt kẹt, mép tấm áo choàng bị quét trên đất bẩn, nhưng cậu ta không để tâm.
“Ta mang đến cho mọi người lời ban phúc và lời cảm ơn của Cha ta,” cậu ta nói. “Việc làm của mọi người ngày hôm nay sẽ luôn luôn được ghi nhớ.” Những người đàn ông dưới sàn không có tâm trạng để vui vẻ, nhưng họ mỉm cười và thì thầm đánh giá cao hành động này.
Charles quay lại và bắt gặp Jamie đang đứng trong một góc nhà, anh không muốn những ngón chân trần của mình bị đôi giày của Sheridan giẫm lên. Khuôn mặt của Điện hạ sáng bừng hân hoan.
“Mon cher! Ngày hôm nay, tôi không thấy ông. Tôi đã sợ rằng xui xẻo đã mang ông đi.” Gương mặt đẹp trai, hồng hào tỏ ra chỉ trích. “Tại sao ông không tới dùng bữa tối ở nhà lớn với các chỉ huy khác?”
Jamie mỉm cười, cúi đầu kính cẩn.
“Người của tôi ở đây, thưa Điện hạ!”
Đôi lông mày của Hoàng tử nhướng lên, cậu ta mở miệng như thể định nói gì, nhưng Lãnh chúa Balmerino đã bước tới trước và thì thầm bên tai cậu ta. Biểu cảm của Charles chuyển sang lo lắng.
“Nhưng điều gì đây tôi vừa nghe được?” Cậu ta thốt lên, đánh mất khả năng kiểm soát cấu trúc câu mỗi khi bị xúc động. “Ngài đây nói với tôi rằng, bản thân ông cũng bị thương.”
Jamie bối rối. Anh liếc nhanh về phía tôi, để xem tôi đã nghe thấy hay chưa và anh biết rằng tôi đã nghe rất rõ, anh đột ngột quay sang nhìn Hoàng tử.
“Không có gì đâu, thưa Điện hạ! Chỉ là một vết trầy da.”
“Cho ta xem!” Cậu ta nói ngắn gọn, nhưng chắc chắn là một mệnh lệnh, chiếc áo bẩn rơi xuống mà không bị giữ lại.
Những nếp vải kẻ ca rô màu thẫm, gần như đen sì, ở mặt trong của chiếc áo choàng lộ ra. Chiếc áo sơ mi bên trong bị nhuộm đỏ từ nách tới hông, một miếng gạc màu nâu cứng đờ do máu đã khô.
Tôi để mặc bệnh nhân bị thương ở đầu tự xoay xở trong giây lát và bước tới cởi chiếc áo sơ mi của anh, nhẹ nhàng kéo nó ra khỏi vết thương. Mặc dù mất rất nhiều máu nhưng tôi biết đây không phải một vết thương nghiêm trọng. Anh đứng như một tảng đá và máu không còn chảy nữa.
Vết thương này do kiếm gây ra, chạy dài qua xương sườn. Thật may, cây kiếm không đâm vào đủ sâu để gây tổn thương cơ gian giữa. Miệng vết thương dài hơn hai mươi phân, máu đỏ lại tiếp tục rỉ ra khi sức ép bên ngoài không còn. Tôi sẽ phải khâu khá nhiều mũi, nhưng ngoài mối nguy nhiễm trùng thì vết thương không quá nghiêm trọng.
Tôi quay sang, ngập ngừng báo cáo với Điện hạ và khựng lại trước ánh mắt kỳ quặc của cậu ta. Ngay lập tức, tôi nghĩ biểu hiện trước mặt là “cơn sốc của lính mới,” cú sốc của một người không quen nhìn thấy vết thương và máu. Nhiều y tá thực tập ở trạm y tế ngoài mặt trận, sau khi tháo băng vết thương và nhìn một lần đã chạy trốn, nôn ọe bên ngoài trước khi quay lại tiếp tục công việc. Những vết thương chiến trận đều bẩn thỉu không giống bình thường.
Tuy nhiên, điều đó là không thể. Dù chẳng phải một chiến binh bẩm sinh nhưng Charles đã từng thấy đổ máu ở độ tuổi mười bốn, giống như Jamie, trong trận chiến đầu tiên của cậu ta ở Gaeta. Không, tôi quả quyết khi biểu hiện bị sốc biến mất trong đôi mắt nâu dịu dàng. Cậu ta không giật mình bởi máu và vết thương.
Người đứng trước mặt cậu ta không phải là một nông dân hay một kẻ chăn cừu. Không phải là một thần dân vô danh, có trách nhiệm chiến đấu cho đại nghiệp của nhà Stuart. Đây là một người bạn. Và tôi nghĩ, có thể vết thương của Jamie bỗng khiến cho Charles hiểu được rõ ràng: máu đã chảy theo lệnh của cậu ta, những người đàn ông đã bị thương vì đại nghiệp của cậu ta - tôi chỉ không biết sự thật này có đâm sâu vào cậu ta như một vết thương thực sự không.
Charles nhìn bên sườn bị thương của Jamie một lúc lâu, rồi cậu ta ngước lên nhìn vào mắt anh. Sau đó, cậu ta nắm lấy tay Jamie.
“Cảm ơn,” cậu ta nói khẽ.
Và chỉ trong một khoảnh khắc, tôi đã nghĩ cậu ta có thể trở thành một vị vua.
•••
Trên con dốc nhỏ đằng sau nhà thờ, một cái lều được dựng lên theo lệnh của Điện hạ, làm chỗ nương tựa cuối cùng cho những người chết vì chiến trận. Tuy được ưu tiên trong việc điều trị nhưng lính Anh không nhận được gì ở đây, xác chết xếp thành hàng, vải phủ lên mặt. Những người vùng cao chỉ được phân biệt dựa vào trang phục, tất cả đều chờ được thiêu vào ngày mai. MacDonald của Keppoch mang theo một giáo sĩ người Pháp. Người đàn ông ấy có đôi vai võng xuống bởi mệt mỏi, chiếc khăn choàng tím đeo bên ngoài tấm áo choàng cao nguyên lấm lem, ông ta di chuyển chậm chạp qua dãy lều, dừng lại một lúc để cầu nguyện trước đôi chân của một thi thể nằm nghiêng.
“Cầu Chúa ban cho con người này được yên nghỉ mãi mãi và để ánh sáng vĩnh hằng chiếu rọi anh.”
Tôi đã đến chỗ lều từ sớm, lo lắng nhẩm đếm những cái xác của người cao nguyên. Hai mươi hai người. Sau khi bước vào trong, tôi phát hiện số người mất đã lên tới hai mươi sáu.
Người thứ hai mươi bảy nằm trong nhà thờ gần đó, trên cuộc chạy đua cuối cùng của mình. Alexander Kincaid Fraser chết dần dần bởi những vết thương đã bắn thủng dạ dày và lồng ngực, tôi không thể cầm máu những vết thương bên trong cơ thể. Tôi trông thấy cậu ta khi người ta chuyển cậu ta vào trong, gương mặt trắng bệch từ ban chiều vì mất máu, cậu ta đã nằm một mình giữa bãi chiến trường, giữa xác chết của quân địch.
Cậu ta cố gắng mỉm cười với tôi và tôi làm ướt đôi môi nứt nẻ của cậu ta bằng nước và phủ lên trên một lớp mỡ động vật. Cho cậu ta uống nước thì cậu ta sẽ ra đi ngay tức thì, bởi chất lỏng chảy tràn qua cái ruột thủng và gây ra cơn sốc. Tôi đã do dự, bởi vết thương của cậu ta rất nghiêm trọng nên một cái chết nhanh chóng có lẽ sẽ tốt hơn… nhưng tôi đã dừng lại. Tôi nhận ra cậu ta muốn nhìn thấy một giáo sĩ và ít nhất, sẽ nói lời xưng tội. Vậy là, tôi gửi cậu ta tới nhà thờ, nơi cha Benin chăm sóc những người sắp chết như tôi chăm sóc những người sống.
Độ nửa tiếng một lần, Jamie lại ghé thăm nhà thờ, nhưng không ai ngờ Kincaid nắm lấy mạng sống của mình rất lâu, cậu ta bám chặt lấy cuộc sống, mặc cho cốt tủy của nó rút đi không ngừng. Tuy nhiên, Jamie không quay trở lại sau chuyến thăm cuối cùng. Tôi biết cuộc chiến sẽ kết thúc, vào lúc này, tôi nên tới xem mình có thể giúp gì không.
Khoảng đất nơi Kincaid nằm bên dưới những ô cửa sổ đã trống rỗng, chỉ còn một vết bẩn lớn và thẫm màu. Cậu ta không ở trong lều người chết, cũng không thấy Jamie đâu.
Cuối cùng, tôi tìm được họ trên một ngọn đồi cao đằng sau nhà thờ. Jamie đang ngồi trên đá, xác của Alexander Kincaid nằm trong vòng tay anh, cái đầu tóc xoăn đặt trên vai anh và đôi chân dài, rậm lông nằm bất động bên cạnh. Cả hai người không cử động, lặng im như tảng đá bên dưới. Lặng im như chết, dù chỉ một người qua đời.
Tôi chạm vào bàn tay trắng bệch đang buông thõng để kiểm tra và đặt một tay lên mái tóc nâu dày, dường như cậu ta vẫn sống. Một người đàn ông không nên chết khi còn tân, nhưng chàng trai này đã ra đi.
“Cậu ta đi rồi, Jamie ạ,” tôi thì thầm.
Suốt một lúc, anh không cử động, sau đó anh gật đầu và mở mắt, như thể miễn cưỡng đối diện với sự thật.
“Anh biết. Cậu ta chết ngay sau khi anh bế cậu ta ra, nhưng anh không muốn để cậu ta chết.”
Tôi nắm lấy hai vai chàng trai và chúng tôi nhẹ nhàng đặt cậu ta xuống nền đất. Cơn gió nhẹ làm lung lay những thân cây cỏ quanh xác cậu ta, cọ nhẹ lên khuôn mặt trắng bệch như gửi lời chào đón âu yếm của đất mẹ.
“Anh không muốn cậu ta chết dưới mái nhà,” tôi hiểu mong muốn của anh. Bầu trời phía trên chúng tôi trông rất ấm cúng với những đám mây dày và trải dài bất tận, như một lời hứa về chốn nương thân.
Anh gật đầu, sau đó quỳ bên cạnh cái xác, hôn lên cái trán rộng xanh xao.
“Sẽ có ai đó làm y hệt với anh,” anh nói khẽ, kéo một nếp áo choàng che lên những lọn tóc nâu và thầm thì điều gì đó bằng tiếng Gaelic mà tôi không hiểu.
Trạm y tế cho người bị thương là nơi không có nước mắt, có quá nhiều việc phải làm. Tôi đã không khóc cả ngày, bất chấp những điều tôi nhìn thấy, nhưng giờ tôi muốn rơi lệ, dù chỉ là một lúc. Tôi tựa đầu lên vai Jamie để mạnh mẽ hơn và được anh an ủi, vỗ về. Khi tôi lau nước mắt và ngước lên, tôi thấy anh vẫn nhìn chăm chăm vào người đang nằm im trên mặt đất, đôi mắt ráo hoảnh. Anh nhận ra tôi đang quan sát, liền cúi xuống.
“Anh đã khóc từ khi cậu ta còn sống và cậu ta biết điều đó, Sassenach ạ,” anh nói khẽ. “Bây giờ, trong nhà thế nào?”
Tôi hít vào rồi lau mũi, nắm lấy tay anh trong khi chúng tôi quay lại ngôi nhà nhỏ.
“Em cần anh giúp một người.”
“Người nào vậy?”
“Hamish MacBeth.”
Bên dưới các vết bẩn và bùn đất, khuôn mặt căng thẳng suốt nhiều giờ liền của Jamie đã nhẹ nhõm hơn một chút.
“Anh ta đã quay lại rồi à? Anh rất vui. Tình trạng anh ta thế nào?”
Tôi trợn mắt. “Anh sẽ thấy.”
MacBeth là một người thân cận với Jamie. Một người đàn ông khổng lồ với bộ râu xoăn màu nâu và lầm lì ít nói, anh ta luôn đến mỗi khi Jamie gọi, sẵn sàng khi cần đi xa. Tuy ít nói nhưng anh ta có một nụ cười chậm chạp và ngượng nghịu nở bên dưới bộ râu như một bông hoa đêm, hiếm thấy mà rực rỡ.
Tôi biết, việc anh chàng to lớn biến mất sau trận đánh là một trong số những việc khiến Jamie lo lắng. Khi thời gian trôi qua và những chiến binh còn lại quay trở về từng người một, tôi vẫn luôn tìm kiếm MacBeth. Đến lúc hoàng hôn ập tới, tôi bắt đầu sợ rằng chúng tôi sẽ thấy anh ta đã chết.
Nhưng không, anh ta đến trạm y tế nửa tiếng trước, bước đi chậm chạp bằng chính sức mình. Một bên chân của anh ta thấm đẫm máu và máu tiếp tục nhỏ giọt xuống mắt cá chân, bước đi cà nhắc, nhưng anh ta sẽ không bao giờ cho phép một người “đùn bà” xem xét vết thương.
Người đàn ông to lớn nằm trên một cái chăn gần chiếc đèn lồng, hai bàn tay đan vào nhau, đặt trên cái bụng nhô cao, đôi mắt kiên nhẫn nhìn chăm chăm lên trần nhà. Anh ta đảo mắt xung quanh khi thấy Jamie quỳ xuống bên cạnh, nhưng tiếp tục nằm im. Tôi khéo léo đứng lùi ra sau tấm lưng rộng của Jamie, trốn khỏi tầm nhìn của anh ta.
“Ổn rồi, MacBeth,” Jamie nói, chạm vào cổ tay như một lời chào. “Anh thế nào, anh bạn?”
“Tôi sẽ khỏe, thưa ngài,” người khổng lồ lẩm bẩm. “Tôi sẽ khỏe. Chỉ là một chút...” Anh ta ngập ngừng.
“Được rồi, vậy thì, hãy xem chỗ đó nào.” MacBeth không kháng cự khi Jamie kéo chiếc váy. Tôi có thể trông thấy nguyên nhân khiến MacBeth ngập ngừng khi nhìn qua kẽ hở giữa cánh tay và thân người của Jamie.
Một thanh kiếm hay một cây giáo đã chém một vết dài vào phía trên háng anh ta, rách cả phần da bọc ngoài tinh hoàn.
Jamie và hai, ba người đàn ông khác nhìn thấy vết thương đã chuyển màu tái. Tôi phát hiện một người phục vụ chạm vào chính chỗ đó của mình theo phản xạ, như để đảm bảo cái của mình vẫn bình an vô sự.
Mặc dù vết thương trông có vẻ đáng sợ nhưng tinh hoàn của anh ta dường như không bị tổn hại và không chảy máu quá nhiều. Tôi chạm vào vai Jamie và lắc đầu để ra hiệu rằng vết thương không nghiêm trọng, dù tác động của nó đến tâm lý đàn ông thì ngược lại. Jamie liếc thấy cử chỉ của tôi, liền vỗ lên đầu gối của MacBeth.
“Ôi, vết thương không quá nặng, MacBeth ơi! Đừng lo lắng, anh hãy còn làm cha được.”
Người đàn ông to cao đang lo lắng nhìn xuống, nhưng sau khi nghe Jamie nói, đôi mắt chăm chú của anh ta chuyển sang người chỉ huy. “Thực ra, tôi không lo lắng về chuyện đó, thưa ngài, tôi đã có sáu đứa con. Chỉ có điều, vợ tôi thường nói là nếu tôi…” MacBeth đỏ mặt tía tai khi đám đàn ông bao quanh cười cợt và huýt còi chế giễu.
Jamie phóng ánh mắt về phía tôi để xác nhận, anh cố gắng nén tiếng cười và nói chắc nịch: “Chuyện đó cũng sẽ ổn, MacBeth ạ!”
“Cảm ơn, thưa ngài,” người đàn ông thở phào với vẻ biết ơn, hoàn toàn tin tưởng vào lời đảm bảo của chỉ huy.
“Tuy nhiên,” Jamie tiếp tục nói nhanh, “nó sẽ cần khâu đấy, anh bạn! Giờ thì anh có thể lựa chọn.”
Anh cho tay vào trong hộp đồ nghề đang mở, lấy một cây kim tự làm để khâu vết thương. Những cái kim khâu thô sơ mà các bác-sĩ-thợ-cạo[4] thường dùng để khâu cho bệnh nhân khiến tôi kinh sợ, tôi phải tự làm ba mươi sáu cái, bằng cách chọn những kim thêu tốt nhất có thể, kẹp vào kìm rồi hơ trên lửa của đèn cồn, bẻ chúng thật nhẹ nhàng, cho tới khi tôi có một cái kim cong hình bán nguyệt, có thể khâu một tệp vải mỏng. Tương tự như vậy, tôi đã tự làm những sợi chỉ khâu vết thương từ ruột động vật; đó là một công việc bẩn thỉu và ghê tởm, nhưng ít nhất tôi chắc chắn về khả năng vô trùng của chất liệu.
Sợi chỉ khâu vết thương bé xíu trông thật lố bịch giữa hai ngón cái và ngón trỏ của Jamie. Ảo tưởng về khả năng y tế của anh đã không thể tiến xa hơn, bởi dù đã lác cả mắt mà anh vẫn chẳng thể xỏ chỉ qua lỗ kim.
“Tôi sẽ tự mình làm,” anh nói, lưỡi hơi thè ra khi tập trung, “hoặc…” Anh đột nhiên dừng lại vì đánh rơi cây kim và dò đẫm trên cái váy của MacBeth để tìm lại. “Ồ,” anh phát hiện ra nó, bèn giơ cao tỏ vẻ đắc thắng trước con mắt e sợ của bệnh nhân, “vợ tôi có thể làm cho anh.” Jamie đột ngột nghiêng đầu, để lộ tôi trong tầm mắt. Tôi cố gắng hết sức tỏ ra bình thản, nhận lấy cây kim từ bàn tay lóng ngóng của Jamie, với một lần thử, tôi đã xỏ được chỉ.
Đôi mắt to màu nâu của anh ta dần di chuyển từ hai bàn tay thô kệch của Jamie, đang tỏ ra vụng về bằng cách đặt bàn tay phải ôm lấy mu bàn tay trái, sang hai bàn tay nhỏ nhắn và nhanh nhẹn của tôi. Cuối cùng, anh ta nằm xuống, kèm theo một tiếng thở dài não nề và lẩm bẩm chấp nhận, cho phép một người “đùn bà” chạm tay vào những phần riêng tư nhất của mình.
“Đừng lo lắng, anh bạn,” Jamie nói, vỗ lên vai anh ta. “Cô ấy đã chạm vào cái của tôi nhiều lần rồi và chưa lần nào lỡ tay thiến mất của tôi đâu.” Anh bật dậy, giữa tràng cười của những người phụ tá và các bệnh nhân gần đó, nhưng tôi kịp nhét một cái chai nhỏ vào tay anh để ngăn lại.
“Cái gì đây?” Anh hỏi.
“Cồn và nước,” tôi đáp. “Dung dịch khử trùng. Nếu anh ta không muốn bị sốt hay lở loét hoặc trở bệnh nặng hơn thì vết thương phải được rửa sạch sẽ.” MacBeth phải đi bộ một đoạn đường từ nơi bị chém về đây, bụi bẩn cùng máu khô đã bám xung quanh chỗ bị thương. Cồn ngũ cốc là một thứ thuốc sát trùng rất xót, ngay cả khi được pha với nước cất với tỷ lệ 50/50. Tuy nhiên, nó là thứ đồ khử trùng hiệu quả và độc nhất hiện nay, vì vậy tôi cứng rắn sử dụng nó, bất chấp những lời kêu ca từ các trợ lý và tiếng la hét đau đớn từ các bệnh nhân.
Jamie đưa mắt nhìn từ lọ cồn nhỏ đến vết thương hở và khẽ rùng mình. Anh đã được thử tác dụng của nó khi tôi khâu vết thương lúc sẩm tối.
“Chà, Macbeth, anh còn khá hơn tôi,” anh nói, chẹn đầu gối lên cơ hoành của người đàn ông và đổ òng ọc thứ dung dịch đụng trong cái lọ nhỏ lên những phần mô bị phơi bày.
Một tiếng gầm đáng sợ làm rung chuyển các bức tường, MacBeth giãy giụa như con rắn bị thương. Cuối cùng, tiếng ồn lắng xuống, khuôn mặt của anh ta tái xanh và anh ta không còn phản đối khi tôi bắt đầu khâu vết thương. Dù vết thương nặng đến mức nào thì phần lớn các bệnh nhân đều trở nên khắc kỷ khi phải chịu đựng cách điều trị nguyên thủy mà chúng tôi áp dụng với họ và MacBeth cũng không phải ngoại lệ. Anh ta nằm bất động trong tình trạng ngượng nghịu hết sức khó chịu, đôi mắt gắn chặt lên ngọn lửa đèn lồng và không cử động dù chỉ một thớ cơ trong lúc tôi thực hiện công việc của mình.
Chỉ những màu sắc thay đổi trên khuôn mặt, từ xanh lục sang trắng, đến đỏ và quay lại xanh lục, là nói lên cảm xúc của anh ta.
Vào phút cuối cùng, khuôn mặt chuyển sang tím tái. Ngay khi tôi làm xong, Macbeth kéo cái váy xuống và lảo đảo đứng dậy, bước đi trong bóng tối, tôi ngồi lại đó và cười khúc khích.
•••
Tôi tìm thấy một hòm dụng cụ y tế trong góc nhà, liền ngồi xuống và tựa lưng vào tường. Cảm giác đau đớn dâng lên từ hai bắp chân của tôi, cùng phản ứng của dây thần kinh khi cơ bắp đột ngột dãn ra. Tôi tháo giày, say sưa cảm nhận những cơn co thắt nhỏ hơn dâng lên xương sống và cổ, trong khi cảm giác căng cơ bởi đứng quá nhiều dịu đi.
Mọi tấc da thịt của tôi đều trở nên nhạy cảm và mệt mỏi.
Khi cơ thể tạm ngưng làm việc, lực đẩy còn lại vẫn bơm máu tới những vùng ngoại vi của cơ thể, dường như hệ thống thần kinh miễn cưỡng tin vào điều mà các cơ bắp đã đón nhận với thái độ biết ơn. Và khi đó, bạn cần ngừng di chuyển, ngay lập tức.
Không khí trong nhà tuy ấm áp nhưng rất ồn ào bởi tiếng hít thở; không phải là tiếng ngáy khỏe mạnh mà là tiếng thở hổn hển, không sâu của những người hít thở khó khăn và tiếng rên từ những người tìm thấy sự lãng quên nhất thời, giải phóng họ khỏi bổn phận kiên cường là chịu đựng đau đớn trong im lặng.
Những người đàn ông trong ngôi nhà này bị thương khá nặng, nhưng trước mắt vết thương không nguy hiểm. Tuy vậy, tôi biết rõ cái chết thường đi bộ trong đêm giữa những dãy giường của khu vực bệnh nhân, tìm kiếm người có sức đề kháng yếu, họ có thể lạc vào con đường của nó lúc nào không hay vì cô đơn và sợ hãi. Nhiều người bị thương có vợ ngủ bên cạnh, để an ủi họ trong bóng tối, nhưng trong căn nhà này thì không có ai như thế cả.
Họ có tôi. Nếu tôi không thể làm được gì nhiều để chữa trị vết thương cho họ hoặc giúp họ hết đau đớn thì ít nhất họ biết rằng, họ không nằm một mình, luôn có người đứng đây giữa họ và bóng tối. Ngoài những việc có thể làm, công việc chính của tôi là ở đây.
Tôi đứng dậy và một lần nữa đi chậm rãi qua những dãy ván gỗ trên sàn, dừng lại ở từng người, lẩm bẩm và chạm vào họ, đắp lại cái chăn, vuốt những mớ tóc rối, xoa những điểm thắt lại trên các chi bị chuột rút. Mang đến chỗ này một ngụm nước, thay băng ở chỗ kia, nếu nhìn thấy điệu bộ ngượng ngùng, căng thẳng, có nghĩa họ cần tiểu tiện, tôi thản nhiên đưa họ chiếc bình bằng đá để họ giải quyết nhu cầu, chiếc bình ngày càng ấm và nặng trong tay tôi.
Tôi ra khỏi nhà để đi đổ cái bình và tạm dừng chân dưới cơn mưa đêm lạnh lẽo, làn nước sẽ nhẹ nhàng rửa sạch những nơi đụng chạm vào lớp da sần sùi và rậm lông, cũng như mùi mồ hôi toát ra từ cánh đàn ông.
“Em không ngủ nhiều, Sasenach.” Giọng Scotland khẽ vang lên từ hướng đường lớn. Những ngôi nhà đặt giường bệnh còn lại đều ở hướng đó và các trụ sở chỉ huy đặt trong các ngôi nhà lớn ở hướng còn lại.
“Anh cũng vậy,” tôi trả lời cộc lốc. Anh đã không ngủ bao lâu nhỉ? Tôi tự hỏi.
“Tối hôm qua anh đã ngủ trên cánh đồng cùng cánh đàn ông.”
“Ồ, vậy à? Rất thảnh thơi,” giọng điệu của tôi khiến anh phì cười. Sáu tiếng ngủ trên cánh đồng ẩm ướt, tiếp theo là một trận chiến mà anh bị ngựa giẫm lên người, bị một thanh kiếm đả thương và có Chúa mới biết còn gì khác. Sau đó, anh đi thu thập những người đàn ông của mình, tập trung người bị thương, chăm sóc chỗ đau, khóc cho cái chết của đồng đội và phục vụ Hoàng tử. Trong suốt những lúc đó, tôi chưa thấy anh dừng lại để ăn, uống, hay nghỉ ngơi.
Tôi không muốn trách mắng. Thậm chí, cũng chẳng đáng để khuyên anh nằm nghỉ trên sàn nhà, giữa những người bị thương khác. Công việc của anh cũng là có mặt ở đây.
“Còn những người phụ nữ khác mà, Sassenach,” anh dịu dàng nói, “anh đi báo Archie Cameron điều người xuống nhé?”
Lời đề nghị này quả hấp dẫn, nhưng cũng là điều tôi phải đẩy ra xa trước khi nghĩ quá nhiều về nó, bởi tôi sợ rằng nếu thừa nhận trạng thái mệt mỏi của mình, tôi sẽ không bao giờ di chuyển được nữa.
Tôi kéo căng người, hai bàn tay đặt lên eo.
“Không,” tôi đáp. “Em sẽ chăm sóc họ đến bình minh. Sau đó, người khác có thể trông chừng một lúc.” Không hiểu sao, tôi cảm thấy mình phải trông họ qua buổi đêm; khi bình minh đến, họ sẽ an toàn.
Anh cũng không trách cứ, chỉ đặt tay lên vai tôi và kéo tôi tựa lên người anh một lúc. Chúng tôi chia sẻ thứ sức mạnh mà chúng tôi có và không cất lời.
“Vậy thì, anh sẽ thức với em,” anh nói, buông tôi ra. “Anh cũng không thể ngủ được trước khi trời sáng.”
“Những người đàn ông khác từ Lallybroch thì sao?”
Anh hất đầu về phía các cánh đồng gần ngôi làng, nơi quân lính đang cắm trại.
“Murtagh sẽ phụ trách.”
“Ồ, vậy thì được. Không có gì đáng lo,” tôi nói, nhìn anh mỉm cười dưới ánh sáng chiếu từ ô cửa sổ. Một cái ghế dài được đặt bên ngoài ngôi nhà nhỏ, bà chủ nhà thường ngồi ở đây vào các ngày nắng để làm cá hay vá quần áo. Tôi kéo anh ngồi xuống bên cạnh, anh ngồi thụp xuống rồi dựa lưng vào tường và thở dài. Tình trạng kiệt sức của anh nhắc tôi nhớ đến Fergus cùng biểu hiện bối rối, hoang mang của cậu nhóc sau trận chiến.
Tôi đưa tay vuốt ve gáy anh, Jamie quay sang, áp trán lên trán tôi.
“Trận chiến thế nào hở Jamie?” Tôi hỏi nhỏ, những ngón tay bóp mạnh và chậm rãi trên các thớ cơ bó chặt trên cổ cùng hai vai anh. “Nó thế nào? Hãy nói em nghe!”
Một khoảng im lặng trôi qua trong chốc lát, sau đó anh thở dài và bắt đầu nói, đầu tiên ngập ngừng rồi nhanh hơn, như thể mong việc này kết thúc.
“Bọn anh không thắp lửa, vì Lãnh chúa George nghĩ toàn quân phải xuống khỏi mỏm đá trước khi trời sáng và không được để bên dưới phát hiện. Bọn anh ngồi trong bóng tối một lúc. Không được nói chuyện vì âm thanh sẽ truyền xuống khu bình địa. Nên bọn anh chỉ ngồi.”
“Sau đó, anh cảm thấy có thứ gì nắm lấy đùi anh trong bóng tối, nên giật nẩy mình.” Anh cho một ngón tay vào miệng và xoa nhẹ. “Anh gần như cắn đứt lưỡi.” Tôi cảm thấy các thớ cơ của anh chuyển động khi anh cười, dù khuôn mặt bị bóng tối che khuất.
“Fergus ư?”
Tiếng cười vang vọng trong đêm tối.
“Phải, Fergus. Nó bò trên cỏ, thằng lỏi con, và anh đã nghĩ nó là rắn. Nó thì thầm với anh về Anderson, thế là anh bò sau nó để đưa Anderson đến gặp Lãnh chúa George.”
Giọng anh chậm lại, mơ màng, tiếp tục kể chuyện dưới bùa chú của những ngón tay tôi.
“Và sau đó, bọn anh được lệnh di chuyển theo con đường của Anderson. Toàn bộ đội quân đứng dậy, bắt đầu lên đường trong bóng tối.”
•••
Đêm đó không trăng và tuyền một màu đen, ngay cả màn mây thường ngăn lại ánh sao và khuếch tán nó xuống mặt đất cũng không có. Khi đội quân cao nguyên lặng lẽ đi xuống con đường hẹp theo sau Richard Anderson, mỗi người chỉ có thể nhìn thấy gót chân của người phía trước, từng bước từng bước nới rộng con đường mòn qua bãi cỏ ướt.
Quân đội di chuyển gần như không phát ra tiếng động. Những mệnh lệnh được truyền lại bằng cách thì thầm, từ người này đến người kia. Những thanh kiếm, chiếc rìu được bọc trong các nếp áo choàng, túi đựng thuốc súng nhét vào trong áo sơ mi, ép lên những nhịp tim vội vã.
Khi đã xuống bên dưới, vẫn hoàn toàn im lặng, đội quân cao nguyên ngồi xuống, thả lỏng người, họ không nhóm lửa, chỉ ăn số khẩu phần nguội ngắt, cố gắng kiềm chế bản thân để nghỉ ngơi, quấn trong tấm áo choàng của mình, ngọn lửa trại của quân địch ở ngay trong tầm nhìn.
“Bọn anh có thể nghe thấy chúng nói chuyện,” Jamie kể. Đôi mắt anh đã khép, hai bàn tay gài sau đầu, tựa lên bức tường của ngôi nhà. “Kỳ lạ thay, em nghe thấy tiếng những người đó cười đùa, hỏi xin một nhúm muối hoặc một ngụm rượu - và em biết rằng vài giờ tới mình sẽ giết họ - hoặc họ sẽ giết mình. Em biết đấy, em không thể ngừng băn khoăn; khuôn mặt đằng sau giọng nói kia trông như thế nào? Em sẽ biết đâu là đồng đội đâu là địch khi em nhìn thấy họ vào sáng mai chứ?”
Tuy nhiên, cảm giác rùng mình trước trận chiến không địch được trạng thái kiệt sức hoàn toàn, và người nhà “Fraser Đen” - cái tên được đặt theo những vệt than vẫn còn vương lại trên mặt họ - và vị chỉ huy đã thức hơn ba mươi sáu tiếng tính đến thời điểm đó. Anh nhổ một bó cỏ rễ dày làm gối, choàng áo quanh vai và nằm xuống bãi cỏ mấp mô, bên cạnh người của mình.
Suốt thời gian ở trong quân đội Pháp, một trong những hạ sĩ quan đã giải thích cho người lính đánh thuê trẻ tuổi mẹo để ngủ được vào buổi đêm trước trận đánh.
“Làm một chỗ nghỉ thoải mái, xem xét lương tâm và thực hiện lời xưng tội. Cha Hugo nói rằng trong chiến tranh, nếu không có giáo sĩ nghe xưng tội thì tội lỗi của cậu có thể được tha thứ theo cách này. Bởi vì cậu không thể phạm tội trong lúc ngủ - thậm chí ngay cả mày, Simenon[5] ạ! - cậu sẽ thức dậy trong lòng vị tha của Chúa và sẵn sàng lao vào kẻ địch. Trước mặt chẳng có điều gì để tìm kiếm ngoài chiến thắng hoặc thiên đường - làm sao cậu có thể sợ hãi?”
Sau khi xem xét một vài thiếu sót trong lý lẽ này, Jamie đã phát hiện đây vẫn là lời khuyên đúng đắn; anh cảm thấy lương tâm đã xoa dịu tâm hồn và nhắc lại lời cầu nguyện giúp tâm trí anh quên đi những hình ảnh đáng sợ, đồng thời ru nó vào giấc ngủ.
Anh nhìn lên vòm trời tối đen, để mặc cái ôm ấm áp của nền đất xoa dịu phần cổ và vai đang căng thẳng. Những ngôi sao đêm nhạt nhòa và mờ ảo, chúng không địch được ánh sáng rực rỡ của đống lửa trong trại người Anh cách đấy không xa.
Suy nghĩ của anh chuyển đến những người đàn ông nằm quanh, anh nghĩ đến từng người, từng người một. Vết nhơ tội lỗi không còn đè nặng lương tâm anh giống như họ. Ross, McMurdo, Kincaid, Kent, McClure… anh dừng lại để gửi lời cảm ơn vì ít nhất vợ mình cùng cậu bé Fergus vẫn an toàn. Tâm trí anh còn vương lại nơi người vợ thân thương, khao khát đắm mình trong những kí ức về nụ cười an ủi của cô, trong hơi ấm vững vàng, tuyệt vời khi cô nằm trong vòng tay anh, ép chặt vào anh lúc anh hôn tạm biệt vào buổi chiều hôm đó. Mặc kệ tình trạng kiệt sức cùng Lãnh chúa George đang đợi bên ngoài, anh đã muốn đặt cô nằm lên tấm thảm và lột bỏ quần áo. Điều kỳ lạ là khi trận chiến sắp xảy ra, anh luôn luôn sẵn sàng. Thậm chí ngay lúc này…
Tuy nhiên, anh chưa kết thúc bảng danh sách thì thấy hai mí mắt đã khép lại, sự mệt mỏi kéo anh xuống. Anh gạt bỏ cảm giác ham muốn mỗi khi nghĩ về vợ và tiếp tục danh sách của mình. Bản danh sách chính là một tay chăn cừu nguy hiểm, lừa anh vào giấc ngủ bằng cách đếm những con cừu mà anh đang dẫn tới lò sát sinh.
Tuy nhiên, anh vẫn gắng cam đoan với bản thân, đây sẽ không phải một lò sát sinh. Thương vong của quân Jacobite không nhiều. Ba mươi người bị giết. Và ở đây có hơn hai nghìn người, vậy thì khả năng một người đến từ Lallybroch nằm trong số đó là rất ít, phải không? Nếu cô ấy nói đúng.
Anh khẽ rùng mình bên dưới lớp áo choàng, cố chống lại niềm hồ nghi nhất thời xoáy vào lòng. Nếu… Chúa ơi, nếu… Anh vẫn lo lắng về niềm tin đó, dù anh đã nhìn thấy cô bên tảng đá bị nguyền rủa, khuôn mặt mờ ảo, tan ra trong nỗi khiếp sợ và đôi mắt màu vàng kim mở to hốt hoảng, rất nhiều đường nét trên cơ thể cô trở nên nhạt nhòa, anh cũng hoảng loạn, liền tóm lấy cô, kéo cô lại, bàn tay anh cảm nhận rõ hơn cái xương kép mỏng manh ở cẳng tay cô. Lẽ ra anh nên để cô đi, trở về nơi của mình. Không, không thể. Anh biết anh nên làm gì. Nhưng anh phải kéo cô lại. Anh đã để cô lựa chọn, nhưng lại giữ cô bên mình bằng toàn bộ sức mạnh xuất phát từ lòng khao khát cô. Để hành động, để bỏ chạy. Bây giờ, lựa chọn đã được thực hiện và không một năng lượng nào trên trái đất có thể ngăn cản bình minh đến.
Trái tim anh đập mạnh mẽ, từng nhịp dội đến cổ tay, háng và túi dạ dày. Anh tìm cách làm dịu nó, tiếp tục công việc nhẩm đếm của mình, mỗi một người là một nhịp đập trái tim. Willie McNab, Bobby McNab, Geordie McNab… Tạ ơn Chúa, bé Rabbie McNab vẫn an toàn ở nhà… Will Fraser, Ewan Fraser, Geoffrey McClure… McClure… Anh đã đánh cả George và Sorley? Anh cựa mình, mỉm cười uể oải, cảm thấy cơn đau nhức chạy theo các xương sườn. Murtagh. Phải, Murtagh, con người dẻo dai ấy… Ít nhất, cháu không cần lo lắng cho bác. William Murray, Rufus Murray, Geordie, Wallace, Simon…
Cuối cùng, anh nhắm mắt, giao phó tất cả bọn họ cho sự săn sóc của bầu trời tối đen trên cao và vô tình lẩm bẩm những lời thường đến với anh một cách tự nhiên nhất, hồi anh còn ở Pháp - “Mon Dieu, je regrette[6]…”
•••
Tôi đi nhiều vòng trong ngôi nhà tranh, thay những miếng băng sũng máu trên chân của một người đàn ông. Lẽ ra giờ này máu phải ngừng chảy, nhưng nó vẫn tiếp tục rỉ ra bởi cơ thể không đủ dinh dưỡng và xương giòn dễ vỡ. Nếu máu không ngừng chảy trước khi gà gáy, tôi sẽ phải đưa Archie Cameron hay một bác-sĩ-chăm-ngựa đến để cưa chân và đốt chỗ bị cắt.
Tôi ghét phải nghĩ đến việc đó. Cuộc sống đã đủ khó khăn đối với một người đàn ông có đủ hai chân. Tôi hy vọng điều tốt nhất sẽ đến khi quấn lớp băng mới với một ít phèn và lưu huỳnh. Việc này cũng chẳng hại gì. Có khả năng sẽ đau, nhưng điều đó cũng chẳng tránh được.
“Sẽ nóng một chút,” tôi lẩm bẩm với anh ta trong lúc băng bó cái chân bằng nhiều lớp vải.
“Xin đừng lo lắng, thưa phu nhân,” anh ta thì thầm và mỉm cười, mồ hôi vẫn chảy trên hai gò má, sáng long lanh dưới ánh nến. “Tôi sẽ chịu được.”
“Tốt!” Tôi vỗ lên vai anh ta, vuốt tóc ra khỏi trán và cho anh ta uống nước. “Tôi sẽ kiểm tra sau một tiếng nữa, nếu anh có thể chịu được lâu thế.”
“Tôi sẽ chịu được,” anh ta lặp lại.
Tôi lại ra ngoài và cho rằng Jamie đã ngủ. Anh gục đầu lên hai cẳng tay đang bắt tréo trên đầu gối. Tuy nhiên, khi nghe thấy tiếng chân tôi, anh liền ngước nhìn và cầm lấy bàn tay tôi lúc tôi ngồi xuống bên cạnh.
“Em đã nghe thấy tiếng đại bác vào lúc bình minh,” tôi nói, đầu nghĩ về người đàn ông bên trong, với cái chân gãy do một quả đại bác. “Em lo cho anh.”
Anh khẽ cười. “Anh cũng vậy, Sassenach ạ! Chúng ta đều lo lắng.”
Người cao nguyên yên lặng như những màn sương, tiến tới qua biển cỏ, từng bước từng bước một. Tuy không có cảm giác bóng tối giảm đi nhưng dường như đêm đã thay đổi, bởi cơn gió thay đổi, nó thổi qua biển và tiến vào vùng đất lạnh lẽo đang đón bình minh, âm thanh sóng vỗ trên bãi cát đằng xa cũng vọng tới chỗ họ.
Mặc dù anh cảm thấy bóng tối vẫn tiếp diễn, nhưng ánh sáng đang đến. Anh kịp thấy một người đàn ông trước mũi chân mình, nếu dấn thêm bước nữa, anh sẽ bị vấp vào cơ thể đang co tròn của kẻ đó.
Trái tim anh đập nhanh vì sốc, anh cúi xuống để nhìn kẻ kia rõ hơn. Một gã Áo đỏ đang ngủ, không chết hay bị thương. Anh liếc mắt nhìn bóng tối xung quanh, sẵn sàng lắng nghe hơi thở khi ngủ của những kẻ khác. Không có gì ngoài tiếng biển, cỏ và cơn gió, tiếng sột soạt của những bàn chân lén lút, bị lấn át bởi những tiếng gầm không thành tiếng của họ.
Anh vội liếc ra sau lưng và liếm đôi môi khô khốc, dù không khí xung quanh rất ẩm ướt. Bởi có những người đang tiến sát sau lưng nên anh không dám do dự. Người đi sau có thể sẩy chân và anh sẽ không để người này hét lên.
Anh đặt tay vào con dao găm nhưng lưỡng lự. Chiến tranh là chiến tranh, nhưng sẽ là sai trái nếu kết liễu một kẻ địch đang ngủ một mình, cách xa các đồng đội. Không một lính gác nào, thậm chí ngay cả những cảnh vệ lười biếng nhất, lại chợp mắt vào lúc này vì biết rằng người cao nguyên đang cắm trại trên mỏm đá. Có lẽ tên lính này đi giải quyết vấn đề riêng, đến một nơi thật xa khỏi đồng đội, sau đó mất phương hướng trong bóng tối, liền nằm ngủ ở đây.
Khẩu súng dài của anh trượt khỏi lòng bàn tay nhớp nháp. Anh chùi tay vào áo choàng len, sau đó đứng thẳng dậy và cầm lấy nòng súng, vung báng súng thật mạnh. Lực phản khiến xương bả vai anh tê rần, cái đầu bất động của hắn thật cứng. Hai tay của kẻ kia vung ra vì lực tác động của cú đánh, nhưng ngoài việc thở hộc ra, hắn không kêu được tiếng nào và nằm úp mặt, mềm nhũn như một miếng giẻ.
Hai lòng bàn tay anh râm ran, anh lại cúi xuống và sờ vào bên dưới quai hàm của hắn để tìm mạch đập, chúng vẫn còn đó. Một tiếng thét giật mình vang lên rất nhỏ từ phía sau, anh quay phắt lại, khẩu súng dài đã tì lên vai, nhưng anh phát hiện nòng súng của mình đang chĩa vào một tộc viên MacDonald của Keppoch.
“Mon Dieu!” Người đàn ông thì thầm và làm dấu thánh, Jamie nghiến răng bởi bực mình. Đó là ông giáo sĩ người Pháp chết tiệt của Keppoch, ông ta mặc áo sơ mi cùng áo choàng len như một người lính theo đề nghị của O’Sullivan.
“Người đó khăng khăng, ông ta có nhiệm vụ mang những bí tích đến với người bị thương và chết trên chiến trường,” Jamie giải thích với tôi và buộc lại cái áo choàng len bẩn thỉu trên vai. Đêm đã trở lạnh. “O’Sullivan nghĩ rằng, nếu người Anh bắt được ông ta trên chiến trường trong áo thầy tu, họ sẽ xé xác ông ta thành nhiều mảnh, về việc đó, có thể có, có thể không. Tuy nhiên, ông ta trông như một kẻ ngốc đúng nghĩa trong chiếc áo choàng len,” anh nghiêm khắc nói.
Hành động của ông giáo sĩ cũng không cải thiện được ấn tượng gây ra bởi bộ quần áo. Dù có muộn, ông ta đã nhận ra kẻ tấn công là một người Scotland, liền thở phào nhẹ nhõm và định mở miệng, nhưng Jamie đã nhanh chóng bịt miệng ông ta trước khi bất cứ câu hỏi khờ dại nào được thốt ra.
“Cha đang làm gì ở đây?” Anh càu nhàu, miệng kề sát tai giáo sĩ. “Con nghĩ Cha ở phía sau hàng quân.”
Đôi mắt mở to của viên giáo sĩ đã nói cho Jamie biết sự thật - người đàn ông của Chúa bị lạc trong bóng tối và nghĩ mình đang ở sau hàng quân, cuối cùng khi nhận ra, ông ta đã ở trong đoàn quân tiên phong, sự sợ hãi làm hai đầu gối ông ta khuỵu xuống.
Jamie liếc về phía sau. Anh không dám gửi ông giáo sĩ đi ngược chiều hàng quân. Trong bóng tối mịt mùng, ông ta có thể vấp vào một người lính cao nguyên đang tiến lên, bị tưởng nhầm là quân địch và bị giết ngay tại chỗ. Anh nắm lấy gáy của người đàn ông nhỏ hơn và ấn ông ta quỳ xuống đất.
“Nằm xuống và ở yên đó cho đến khi ngừng bắn,” anh rít vào tai người đàn ông. Viên giáo sĩ gật đầu lia lịa và chợt trông thấy cơ thể của tên lính Anh nằm trên nền đất cách đó mấy bước. Ông ta ngước nhìn Jamie bằng ánh mắt kính sợ, ngay lập tức lôi ra mấy chai dầu và nước thánh mang theo bên thắt lưng thay cho dao găm.
Jamie trợn mắt, cơn giận bốc lên, anh làm một loạt những cử chỉ mạnh mẽ nhằm ngụ ý kẻ kia chưa chết, ông ta không cần làm phận sự của một giáo sĩ. Nhưng những hành động ấy không thể truyền đạt được ý anh, anh cúi xuống, cầm lấy bàn tay của giáo sĩ và ấn vào cổ tên người Anh, đây là cách đơn giản nhất để cho ông ta thấy rằng, người đàn ông kia không phải là nạn nhân đầu tiên trên chiến trận. Khi đang bị mắc kẹt trong tình thế lố bịch này thì cơ thể anh cứng lại bởi một giọng nói xuyên qua màn sương phía sau.
“Đứng lại!” Tiếng nói vang lên. “Ai đó?”
•••
“Em có nước không, Sassenach?” Jamie hỏi. “Anh đang khát khô cổ vì kể chuyện.”
“Đồ đáng ghét!” Tôi nói. “Anh không thể dừng ở đó! Chuyện gì đã xảy ra?”
“Nước,” anh nói và nhoẻn miệng cười, “anh sẽ kể tiếp.”
“Thôi được,” tôi nói, đưa anh một chai nước và ngắm nhìn anh nghiêng chai uống. “Chuyện gì xảy ra sau đó?”
“Chẳng gì cả,” anh đáp, hạ cái chai xuống, chùi miệng bằng ống tay áo. “Em đã nghĩ gì vậy, anh sẽ trả lời sao?” Anh cười trâng tráo và né người khi tôi định bạt tai anh.
“Nào, nào,” anh mắng. “Không được đối xử như thế với một người đàn ông bị thương vì phục vụ Nhà vua, phải không nào?”
“Anh mà bị thương ư?” Tôi đáp. “Tin em đi, Jamie Fraser, một vết chém nhẹ như vậy chẳng là gì so với những việc em sẽ làm với anh nếu…”
“Ồ, đó cũng là đe dọa, đúng không? Bài thơ em từng đọc cho anh nghe: “Khi cơn đau và nỗi thống khổ giày vò vầng trán, một tổng lãnh thiên thần… Ối!”
“Lần sau, em sẽ véo đứt tai anh,” tôi nói, thả tai anh ra. “Tiếp tục đi, em phải quay lại sau một phút nữa.”
Anh thận trọng xoa tai, tựa người vào tường và tiếp tục câu chuyện.
“Được thôi, bọn anh ngồi kiễng chân, vị giáo sĩ và anh nhìn nhau chằm chằm, lắng nghe mấy tay lính gác đứng cách gần hai mét. “Chuyện gì thế?” Một kẻ hỏi, anh nghĩ mình có thể xử lý hắn bằng dao trước khi hắn va vào anh, nhưng còn bạn hắn thì sao? Anh không thể mong ông giáo sĩ giúp đỡ được, trừ phi nhờ ông ta cầu nguyện lần cuối cho cái xác của anh.”
Đó là một khoảng im lặng kéo dài và vô cùng căng thẳng, khi hai người đàn ông Scotland ngồi chồm hỗm trên bãi cỏ, đôi bàn tay siết chặt, không dám bỏ đi.
“Aaaa, cậu tưởng tượng chứ gì,” cuối cùng, một tên lính khác nói, Jamie thấy vị giáo sĩ rùng mình nhẹ nhõm, những ngón tay ướt đẫm mồ hôi của ông ta trượt xuống. “Không có gì ngoài mấy bụi kim tước đâu. Đừng bận tâm, chàng trai ạ,” tên lính gác cam đoan. Jamie nghe thấy tiếng vỗ vai và tiếng giậm chân giữ ấm. “Chúng có rất nhiều, chắc chắn đấy, trong bóng tối ở đây, chúng có thể giống như toàn bộ đám quân cao nguyên chết tiệt, rồi cậu sẽ thấy.” Jamie nghĩ anh đã nghe thấy tiếng phì phì để nín cười từ một trong số “những bụi cây kim tước” trên triền đồi.
Anh liếc về hướng đỉnh đồi, nơi những ngôi sao đang mờ dần. Anh đoán chưa đến mười phút nữa, những tia sáng đầu tiên sẽ xuất hiện. Khi đó, đoàn quân của Johnnie Cope sẽ nhanh chóng nhận ra đội quân cao nguyên không còn cách chúng một tiếng hành quân như chúng nghĩ, mà đã sẵn sàng giáp mặt với tiền tuyến của chúng.
Một tiếng động vang lên bên trái, từ hướng biển, rất nhỏ và mơ hồ, nhưng là âm thanh cảnh báo rõ ràng đối với những cái tai được đào tạo qua chiến trận. Anh đoán có người vướng vào bụi cây kim tước.
“Này!” Một tên lính gần đó lên tiếng cảnh giác. “Chuyện gì vậy?”
Anh quyết định rằng vị giáo sĩ phải tự lo cho bản thân. Jamie rút thanh kiếm trong lúc đứng dậy và với một bước dài, anh đã tiến tới. Kẻ đó không khác gì một cái bóng trong đêm tối, nhưng đủ để anh thấy rõ. Lưỡi kiếm ác nghiệt bổ xuống với toàn bộ sức mạnh, chẻ đôi xương sọ của kẻ kia.
“Bọn cao nguyên!” Tiếng hét inh tai vỡ ra từ đồng đội của hắn và tên cảnh vệ thứ hai nhảy vào bóng tối mờ ảo như một con thỏ phóng khỏi bụi cây trước khi Jamie có thể rút kiếm ra khỏi khe nứt kia.
Tiếng báo động trải khắp hàng ngũ quân Anh. Jamie có thể cảm nhận cũng như nghe thấy sự náo động khi những tên lính bị đánh thức đột ngột, mò mẫm vũ khí trong bóng tối và tìm kiếm mối đe dọa vô hình từ mọi hướng.
Những người thổi kèn của tộc Clanranald đứng đằng sau anh, bên tay phải, tuy nhiên họ chưa nhận được tín hiệu chiến đấu. Anh tiếp tục tiến lên, trái tim đập thình thịch và cánh tay trái ngứa ngáy sau cú đánh chí tử, các cơ bụng siết chặt, đôi mắt căng ra để nhìn qua bóng tối lờ mờ.
“Anh có thể nghe thấy chúng trước,” Jamie nói, nhìn chăm chú vào màn đêm, như thể đang tìm kiếm bóng địch. Anh cúi xuống, ôm lấy hai đầu gối. “Sau đó, anh có thể thấy chúng. Tên lính Anh quằn quại trên mặt đất như con dòi trong miếng thịt và đám người phía sau anh. George McClure đến gần anh, Wallace và Ross ở một phía khác, bọn anh tiếp tục đi từng bước một, nhưng càng lúc càng nhanh hơn, nhìn thấy đội hình quân Anh vỡ ra trước mắt.”
Một tiếng nổ trầm đục vang lên bên phải, một khẩu đại bác đã khai hỏa. Lát sau, một quả khác lại nổ và như thể nó là tín hiệu chiến đấu, đám người cao nguyên đang lao đến ngập ngừng thét to.
“Tiếp theo, tiếng kèn vang lên,” anh nói, đôi mắt khép lại. “Anh không nhớ đến khẩu súng của mình, cho tới lúc nghe thấy một tiếng súng khác sau lưng. Anh để nó trong bãi cỏ cạnh viên giáo sĩ. Khi trời tối như vậy, em không thể thấy gì ngoài khoảng đất nhỏ xung quanh mình.”
“Em nghe thấy một tiếng hét và đột nhiên em sẽ chạy. Chầm chậm, một hoặc hai bước, trong lúc em cởi thắt lưng, sau đó, chiếc áo choàng len được nới lỏng, em sẽ nhảy lên, bùn đất bắn tung tóe và cảm giác lạnh lẽo của lớp cỏ ướt bám dưới bàn chân, hai vạt áo đập vào mông… Sau cùng, âm thanh ầm ĩ bao bọc lấy em và em sẽ la hét như khi còn bé, vừa chạy xuống đồi vừa hét lên trong gió, để thấy rằng em có thể bay lên trên các âm thanh.”
Họ cưỡi trên những con sóng âm thanh inh ỏi của chính mình, nhấp nhô giữa vùng bình địa, và sức mạnh từ cuộc tấn công ồ ạt của quân cao nguyên đã trút xuống đám đông lính Anh, làm chúng chết ngạt trong làn sóng sôi sục của máu và nỗi khiếp sợ.
“Chúng chạy,” anh nói khẽ. “Một người đàn ông đứng đối diện với anh - trong suốt trận chiến, duy nhất một người. Những kẻ khác, anh đón đánh từ phía sau.” Anh xoa bàn tay cáu bẩn lên mặt và tôi cảm thấy một cơn rùng mình xuất phát từ sâu trong anh.
“Anh nhớ… mọi chuyện,” anh nói gần như thì thầm. “Mọi cú đánh. Mọi khuôn mặt. Người đàn ông nằm trên đất trước mặt anh đã để nỗi sợ chiếm lĩnh bản thân. Những con ngựa hí lên. Tất cả mùi hôi thối - mùi bột thuốc, máu và mùi mồ hôi của chính anh. Mọi thứ. Tuy nhiên, anh có cảm giác như mình đang đứng bên ngoài quan sát chính mình. Anh đã không thực sự ở đó.” Anh mở mắt và liếc tôi, sau đó gập người, đầu tựa trên hai gối, giờ đây cơn run rẩy đã thoát hẳn ra ngoài.
“Em hiểu không?” Anh hỏi.
“Em hiểu.”
Khi không thể tìm thấy kiếm hay dao, anh thường chiến đấu bằng tay không, xuyên qua mớ hỗn độn chết chóc bởi anh không có lựa chọn khác. Càng chiến đấu, anh càng có cảm giác thờ ơ kỳ lạ, dường như não bộ đã mọc lên bên ngoài cơ thể, nó lạnh lùng phán xét và ra lệnh cho các nội tạng ngoan ngoãn nằm im đến khi cơn khủng hoảng đi qua. Cảm giác rùng mình luôn luôn đến muộn.
Tôi chưa từng trải qua điều đó trong đời. Tôi liền cởi áo khoác trên vai và trùm kín anh trước khi quay vào trong.
•••
Bình minh đã tới, mang đến cảm giác khuây khỏa, trong hình dáng hai người phụ nữ ở làng và một bác sĩ phẫu thuật quân đội. Người đàn ông bị thương ở chân tuy xanh xao và run rẩy nhưng máu đã ngừng chảy. Jamie cầm lấy tay tôi và dẫn tôi đi xuôi theo những con đường của Tranent.
Những khó khăn không ngớt của O’Sullivan về vấn đề quân nhu đã giảm bớt nhờ vào mấy chiếc xe chở hàng bị bắt, giờ đây thức ăn trở nên thừa thãi. Chúng tôi chỉ ngấu nghiến ăn mà không nếm được vị cháo nóng, bởi vào lúc này, thức ăn trở thành một nhu cầu cần thiết cho cơ thể, cũng giống như hít thở. Tới khi cảm thấy no nê, tôi mới nghĩ về nhu cầu cấp bách kế tiếp - ngủ.
Những người bị thương được cấp chỗ trong mọi ngôi nhà, còn người khỏe mạnh đang chợp mắt trên các cánh đồng ngoài làng. Tuy Jamie có thể yêu cầu một chỗ trong ngôi nhà lớn của các chỉ huy, nhưng anh lại cầm lấy tay tôi, dẫn tôi qua một khe hẹp giữa các ngôi nhà nhỏ và leo lên đồi, tới một trong những khu rừng nhỏ nằm rải rác quanh làng Tranent.
“Phải đi bộ một lúc,” anh nhìn tôi, tỏ vẻ có lỗi, “nhưng anh nghĩ em thích chốn riêng tư hơn.”
“Em thích.” Tuy được nuôi lớn trong những điều kiện giống như thời nguyên thủy, mà phần lớn con người của thời đại tôi sẽ phải chịu thua - sống trong lều hoặc các ngôi nhà đầy bùn bẩn trên những cánh đồng khảo cổ của bác Lamb - nhưng tôi vẫn không quen sống chung với nhiều người, theo phong tục ở đây. Mọi người ăn, ngủ và giao hợp thường xuyên, nhồi nhét trong các căn nhà nhỏ, ngột ngạt, ánh sáng và hơi ấm được tạo ra từ các đống lửa than bùn mù mịt khói. Điều duy nhất họ không làm cùng nhau là tắm rửa - bởi phần lớn họ không tắm.
Jamie dẫn tôi vào một con đường mòn bên dưới những cành cây dẻ ngựa ủ rũ, sau đó bước vào một khoảnh đất không lớn lắm, phủ đầy lá tần bì, lá tống quán sủi và lá sung dâu rụng. Mặt trời vừa lên nên không khí dưới các tán cây vẫn lạnh lẽo, một màn sương giá mỏng bao quanh những chiếc lá vàng.
Anh dùng gót chân gạt đống lá, tạo thành một rãnh nhỏ lởm chởm, rồi anh đứng ở cuối chỗ lõm, bàn tay đặt lên cái khóa thắt lưng và mỉm cười nhìn tôi.
“Mặc thế này không được đường hoàng lắm nhưng rất dễ cởi.” Anh giật mạnh thắt lưng và chiếc áo choàng rơi xuống quanh mắt cá chân, trên người anh chỉ còn độc chiếc sơ mi dài đến giữa đùi. Khi chiến đấu, anh thường mặc váy ngắn, cài khóa quanh eo, kèm theo chiếc áo choàng khoác trên hai vai. Nhưng chiếc váy của anh đã bị rách và lấm bẩn bởi trận chiến, vì thế anh kiếm được một cái áo choàng cũ có thắt lưng - vốn là một tấm vải dài, được giữ quanh eo bằng chiếc thắt lưng.
“Làm sao anh mặc được nó?” Tôi tò mò hỏi.
“Thế này, em trải nó lên mặt đất” - anh quỳ gối và trải tấm vải xuống cái rãnh đầy lá - “sau đó, em gập thành nhiều nếp vải rộng khoảng vài phân, nằm lên nó và lăn.”
Tôi bật cười và quỳ xuống, giúp anh vuốt phẳng tấm vải len dày dặn.
“Nếu thế, em muốn được xem,” tôi nói với anh. “Hãy đánh thức em dậy trước khi anh mặc đồ.”
Jamie lắc đầu, ánh mặt trời xuyên qua tán lá, làm mái tóc đỏ rực sáng.
“Sassenach ơi, khả năng anh thức dậy trước em còn ít hơn khả năng một con sâu tỉnh dậy trong ổ gà. Dù bị ngựa giẫm lên người, anh cũng không quan tâm, anh sẽ chẳng nhúc nhích cho đến sáng ngày mai.” Anh nằm xuống thật cẩn thận, đẩy đám lá ra sau.
“Lại đây với anh!” Anh giơ tay mời mọc. “Chúng ta sẽ cuộn mình trong áo khoác của em.”
Đám lá bên dưới tấm vải len mềm mại đã tạo thành một tấm đệm thoải mái lạ thường, mặc dù vào lúc này, tôi vẫn sẽ cảm thấy sung sướng cho dù có phải ngủ trên một thảm đinh. Tôi nép mình vào anh, say sưa với niềm vui mê mẩn vì được nằm nghỉ.
Cái lạnh ban đầu đã tan biến khi cơ thể chúng tôi sưởi ấm cho nhau. Chúng tôi ở cách xa thị trấn nên âm thanh bận rộn của nó khó mà vọng đến đây, nó chỉ còn là tiếng gió thoảng. Trong cảm giác thẫn thờ bởi được thỏa mãn, tôi đã nghĩ phải đến ngày mai, mọi người mới đi tìm chúng tôi.
Đêm hôm qua, tôi đã cởi chiếc váy lót dài và xé nó thành nhiều mảnh để làm vải băng bó, do vậy giữa chúng tôi chẳng có gì ngăn cách ngoài lần vải mỏng của chiếc váy và áo sơ mi. Một hơi ấm cứng cáp, rắn chắc khẽ động đậy bên bụng tôi.
“Anh có chắc không?” Tôi hỏi, cảm thấy hào hứng dù cơ thể mệt mỏi rã rời. “Jamie ơi, chắc anh kiệt sức rồi.”
Anh cười lớn với vẻ mệt mỏi, bàn tay to, ấm áp kéo lưng tôi sát lại.
“Hơn cả kiệt sức, Sassenach ạ! Anh mệt nhoài, nhưng “cậu nhỏ” của anh quá ngu ngốc nên không hiểu chuyện. Anh không thể nằm với em mà không ham muốn em, nhưng ham muốn là tất cả những gì anh có thể làm.”
Tôi lần mò đẩy áo sơ mi của anh lên, nhẹ nhàng nắm lấy thứ được giấu bên dưới. Nó thậm chí còn ấm áp hơn cả lớp da trên bụng anh.
Anh kêu lên một tiếng khe khẽ, chầm chậm chuyển mình sang nằm ngửa, hai chân dang rộng, chiếc áo choàng của tôi chỉ còn đắp phân nửa người anh.
Ánh mặt trời đã vươn mình đến chỗ đống lá. Tôi thả lỏng hai vai, cảm thấy thư thái dưới ánh nắng ấm áp. Trong mắt chúng tôi, mọi thứ đều phủ một màu vàng lấp lánh, là sự kết hợp của buổi đầu thu và trạng thái kiệt sức. Tôi vừa quan sát những kích động nho nhỏ của da thịt anh bên dưới các ngón tay mình, vừa cảm thấy thiếu sinh khí, như thể linh hồn đã rời khỏi thân xác. Tất cả mọi khiếp sợ, mệt nhọc và tiếng ồn của hai ngày qua đã rút đi thật chậm, để lại chúng tôi bên nhau.
Làn sương mù mệt mỏi giống như một tấm kính lúp, phóng đại mọi hành động và cảm giác. Đuôi vết thương do bị kiếm chém của anh hiện ra bên dưới chiếc áo bị vén nhăn nhúm, thâm sì trên làn da mịn màng. Hai, ba con ruồi nhỏ bay tới để thám thính và tôi đuổi chúng đi. Đôi tai tôi rung lên vì âm thanh của tĩnh lặng, của hơi thở từ cây cối không ăn nhập với tiếng vọng từ thị trấn.
Tôi áp má lên người anh, cảm nhận đường cong cứng cáp và mượt mà của xương hông bên dưới làn da. Những nếp da trong suốt, hiện rõ những đường gân xanh mảnh mai như của một đứa trẻ.
Bàn tay anh đưa lên từ tốn, bồng bềnh như tán lá và đặt nhẹ lên đầu tôi.
“Claire, anh cần em,” anh thì thầm. “Anh rất cần em.”
Việc này thật dễ dàng khi không bị lớp váy lót cản trở. Tôi cảm thấy bản thân đang trôi nổi, đang bay lên dù không mong muốn, các lớp váy của tôi chất lên cơ thể anh như một đám mây trên đỉnh đồi, che chở cho nhu cầu của anh.
Anh khép mắt, đầu ngửa ra, mái tóc hung đỏ trải lộn xộn trên đám lá. Anh đưa tay, nhẹ nhàng nắm lấy eo tôi.
Tôi cũng nhắm mắt và quan sát những hình thù trong tâm trí, rõ ràng như cơ thể anh đang nằm bên dưới. Tình trạng kiệt sức đã khóa chặt mọi suy nghĩ, ký ức cùng mọi cảm giác của chúng tôi, chỉ trừ sự nhận biết về nhau.
“Đừng… lâu,” anh thì thầm. Tôi gật đầu bởi biết anh cảm nhận được những điều anh không nhìn thấy. Tôi chuyển động trên anh, cặp đùi khỏe mạnh và vững chắc nằm bên dưới chiếc váy dài lấm bẩn.
Một lần, hai lần, rồi lại thêm lần nữa, và lần nữa, cơn rùng mình chạy qua anh và tôi như dòng nước dâng lên qua rễ cây để đi đến những chiếc lá.
Hơi thở thoát khỏi lồng ngực anh trong một tiếng thở dài, tôi thấy anh chìm vào vô thức như ánh sáng mờ ảo của ngọn đèn. Tôi ngã xuống bên cạnh anh, chỉ kịp kéo tấm áo nặng nề lên che thân thể của cả hai, trước khi màn đen kịp bao phủ. Tôi nằm đè lên mặt đất, giữ lấy hơi ấm từ những hạt giống nặng trĩu mà anh vừa gieo vào người tôi. Chúng tôi chìm vào giấc ngủ.
[1] Một thị trấn nhỏ và khu nghỉ mát ở phía đông thành phố Edinburgh của Scotland. Tại cửa sông Forth ở đây, vào năm 1745, quân đội phái Jacobite của Hoàng tử Charles Stuart đã đánh bại quân lính của chính quyền do John Cope chỉ huy.
[2] Tiếng Pháp: Mỗi người có một sở thích khác nhau.
[3] Tiếng Anh: Hào hiệp, viển vông như Don Quixote, nhân vật trong tiểu thuyết Don Quixote, nhà hiệp sĩ quý tộc tài ba xứ Mancha của nhà văn Miguel de Cervantes.
[4] Nhân viên thú y chuyên chăm sóc ngựa trong quân đội.
[5] Các bác-sĩ-thợ-cạo là một trong những nhân viên y tế thường thấy nhất vào thời Trung cổ ở châu Âu. Họ thường nhận nhiệm vụ chăm sóc các binh lính trong hoặc sau một trận chiến.
[6] Người chỉ huy trong quân đội Pháp của Jamie.
[7] Tiếng Pháp: Chúa ơi, con xin lỗi…