“Được rồi,” Jamie nói với vẻ cam chịu trên bàn ăn sáng. Anh chỉ cái thìa vào tôi vẻ cảnh cáo. “Cứ đi đi! Nhưng ngoài người hầu kia, em sẽ phải mang Murtagh theo để hộ tống; đó là một khu nghèo khổ gần nhà thờ lớn.”
“Hộ tống?” Tôi ngồi thẳng dậy, đẩy cái bát sứ yến mạch mà tôi vốn đang nhìn với vẻ kém hào hứng ra. “Jamie! Ý anh là anh không phiền chuyện em đến nhà thương Des Anges nữa à?”
“Anh không biết là mình có ý như thế không,” anh nói, múc thìa cháo yến mạch và ăn rất gọn gàng. “Nhưng anh nghĩ là mình sẽ phải lo lắng nhiều hơn nếu em không đi. Vì nếu em làm việc ở nhà thương đó, ít nhất nó sẽ giúp em khỏi tiêu tốn thời gian với Louise de Rohan. Anh thấy là còn có nhiều chuyện tồi tệ hơn cả việc dính líu với bọn ăn xin và tội phạm,” anh u ám nói. “Ít nhất anh không phải lo em sẽ về nhà từ bệnh viện với mấy chỗ riêng tư bị vặt trụi hết.”
“Em sẽ cố không làm thế,” tôi cam đoan với anh.
•••
Tôi đã gặp rất nhiều nữ y tá trưởng giỏi giang ở thời đại của mình, một số còn thực sự xuất sắc, họ đã nâng tầm một việc làm lên thành một thiên hướng sống. Với Mẹ Hildegarde, quá trình đó là phụng sự, với những kết quả rất ấn tượng.
Hildegarde de Gascogne là người thích hợp nhất mà tôi có thể hình dung ra để gánh vác việc quản lý một nơi như nhà thương Des Anges. Cao khoảng một mét tám mươi, thân hình gầy gò, hom hem quấn trong hàng mét vải len đen, bà hiện ra phía trên những người chị em làm công việc y tá giống như một con bù nhìn vác chổi đứng gác cho cánh đồng bí ngô. Những người gác cổng, bệnh nhân, các bà xơ, hộ lý, người học việc, khách đến thăm, người bào chế thuốc, tất cả đều bị quét phăng đi trước sức ép hiện diện của bà, và dạt ra thành từng nhóm ngăn nắp bất cứ nơi nào Hildegarde có thể ra lệnh.
Với chiều cao đó, cộng thêm khuôn mặt xấu xí tột bậc, đó rõ ràng là lý do vì sao bà bám riết lấy một cuộc đời phụng sự vì đạo - Chúa là người đàn ông duy nhất mà bà có thể mong đợi được quay trở về với Người.
Giọng nói của bà trầm trầm và rền vang; với trọng âm Gascony phát âm qua mũi, nó oang oang xuyên qua các hành lang bệnh viện giống như tiếng vang của chuông nhà thờ bên cạnh. Tôi nghe thấy tiếng bà trước cả khi trông thấy người, giọng nói uy phong ấy có âm lượng dâng dần lên khi bà đi xuôi tiền sảnh hướng về phía văn phòng nơi sáu phu nhân trong triều và tôi đứng túm tụm vào nhau phía sau ngài Gerstmann, giống những cư dân trên hòn đảo đang chờ đợi cơn bão lớn ập đến phía sau một tấm chắn mỏng manh.
Bà lấp đầy lối cửa vào chật hẹp cùng tiếng sột soạt của mớ vải áo như cánh dơi và hạ thấp người trước ngài Gerstmann với một tiếng kêu vui sướng, hôn hai má ông ta rất kêu.
“Mon cher ami[1]! Thật là một niềm vui sướng ngoài mong đợi - và quá nhiều điều ngọt ngào từ sự bất ngờ của nó. Ông mang thứ gì đến cho tôi thế?”
Đứng thẳng người lại, bà quay sang mỉm cười với tất cả chúng tôi. Nụ cười đó vẫn giữ nguyên độ rộng khi ngài Gerstmann giải thích mục đích của chúng tôi, mặc dù là một thầy bói ít kinh nghiệm nhưng tôi có thể thấy những cơ má căng cứng đó đã biến nó từ một vẻ duyên dáng xã giao thành một nụ cười cần thiết.
“Chúng tôi đánh giá cao những suy nghĩ và lòng tốt của các bà.” Giọng nói trầm vang như tiếng chuông tiếp tục nói bài diễn văn lịch sự về lòng biết ơn. Trong khi đó, tôi có thể thấy đôi mắt nhỏ thông minh, nằm sâu bên dưới hàng lông mày nhô cao, liếc qua liếc lại, quyết định xem làm cách nào để loại bỏ mối phiền toái này trong thời gian ngắn nhất, trong khi vẫn rút được tiền vì những phu nhân ngoan đạo này có thể bị thuyết phục hành động vì sự tốt lành cho linh hồn họ.
Khi đã có quyết định, bà ta vỗ tay một cái rất dứt khoát. Một bà xơ thấp lùn hiện ra trên ngưỡng cửa y như một cái hộp hình nộm[2].
“Người chị em Angelique, vui lòng đưa các phu nhân tới khu khám bệnh và phát thuốc,” bà ra lệnh. “Hãy đưa cho các bà những bộ đồ phù hợp và sau đó chỉ cho họ các khu vực. Họ có thể trợ giúp việc phân phát đồ ăn cho bệnh nhân - nếu họ sẵn lòng.” Một nếp nhăn mỏng manh nơi khóe miệng rộng và mỏng là bằng chứng cho thấy Mẹ Hildegarde không kỳ vọng tinh thần ngoan đạo của các quý bà có thể chịu đựng nổi một vòng tham quan các khu vực trong nhà thương này.
Mẹ Hildegarde là một người am hiểu sâu sắc bản tính con người. Ba trong số các phu nhân sau khi thăm khu vực đầu tiên, với các ca nhiễm bệnh tràng nhạc, ghẻ, chàm bội nhiễm và nhiễm trùng máu, đã quyết định rằng khuynh hướng từ thiện của họ có lẽ hoàn toàn thỏa mãn với việc quyên góp tiền cho nhà thương, rồi bỏ chạy trở về khu khám và phát thuốc để ném đi những chiếc váy dài vải thô mà chúng tôi đã được trang bị.
Tại trung tâm khu vực kế tiếp, một người đàn ông gầy và cao lêu nghêu trong chiếc áo choàng thầy tu màu đen đang tiến hành phẫu thuật cắt cụt chân một cách khéo léo; sự khéo léo đặc biệt thể hiện trong việc người bệnh không hề được dùng thuốc an thần theo bất cứ phương pháp hiện hữu nào, lúc này người đó đang bị kiềm giữ bởi nỗ lực của hai người hộ lý vạm vỡ và một bà xơ có thân hình rắn chắc đang ngồi trên ngực người bệnh, váy áo của bà ta may thay đang che khuất cả mặt người đàn ông đó.
Một trong số các phu nhân phía sau tôi phát ra một tiếng nôn ọe nhỏ; khi tôi nhìn quanh, tất cả những gì tôi thấy là khoảng trống rộng rãi phía sau mình và thân người trông nghiêng của hai trong số những người đến giúp đỡ từ thiện đang chen lấn qua khung cửa nhỏ hẹp dẫn về phía khu khám phát thuốc và sự tự do. Với một cú thúc mạnh tuyệt vọng cuối cùng và tiếng rách của vải lụa, họ đã bứt qua được khung cửa và chạy trối chết dọc theo hành lang tranh tối tranh sáng, gần như hất ngã nhào một người hộ lý đang chạy tới với một chiếc khay đầy vải lanh và dụng cụ phẫu thuật.
Tôi liếc sang bên cạnh và vui mừng khi thấy Mary Hawkins vẫn còn ở đó. Cô bé có phần trắng bệch còn hơn cả mớ vải lanh để dùng trong ca mổ - thứ này, nói thật là, đã hơi ngả màu xám - và đôi chút xanh xao vàng vọt, nhưng vẫn ở đó.
“Vite! Depechez-vous![3]” Từ chỗ phẫu thuật phát ra một tiếng thét gọi khẩn thiết, đoán chừng là nhằm về phía người hộ lý bị làm cho bàng hoàng kia, người này hối hả thu gom lại cái khay của anh ta và lao vội tới vị trí nơi người đàn ông cao lớn mặc đồ đen điềm tĩnh đứng với cái cưa xương cầm trên tay, sẵn sàng cưa xương đùi. Người hộ lý cúi xuống thắt một cái ga rô phía trên vị trí sẽ phẫu thuật, cái cưa hạ xuống với một tiếng rít chói tai khó tả, tôi nắm lấy Mary Hawkins và xoay người cô bé sang một hướng khác. Cánh tay cô run lẩy bẩy dưới tay tôi, đôi môi hồng như hoa mẫu đơn trắng bệch và tái đi như một đóa hoa bị sương giá làm tê cóng.
“Em có muốn rời khỏi đây không?” Tôi lịch sự hỏi. “Tôi chắc chắn là Mẹ Hildegarde có thể gọi một chiếc xe ngựa cho em.” Tôi liếc nhìn qua vai tới khoảng không tối đen trống vắng trong hành lang. “Tôi e là Nữ bá tước và bà Lambert đã rời đi rồi.”
Mary thở hổn hển nhưng vẫn nghiến chặt quai hàm với vẻ quyết tâm.
“Kh-không,” cô bé nói. “Nếu bà ở lại, em sẽ ở lại.”
Tôi rõ ràng định nói; nhưng sự tò mò và thúc giục lôi kéo tôi đến với ca phẫu thuật của nhà thương Des Anges dường như quá mạnh mẽ, áp đảo bất cứ lòng thương cảm nào của tôi đối với Mary.
Xơ Angelique đã đi đến một đoạn khá xa rồi mới phát hiện ra chúng tôi đã dùng lại ở đây. Bà quay lại, kiên nhẫn đứng đợi với một nụ cười mỉm trên khuôn mặt phúng phính, như thể hy vọng chúng tôi cũng nhanh chóng quay đầu chạy mất. Tôi cúi xuống một cái cáng để bên mép sàn phòng. Một người phụ nữ gầy gò nằm bơ phờ dưới một tấm chăn đơn, hai mắt lờ đờ nhìn chúng tôi chẳng hề hứng thú. Không phải người phụ nữ đó thu hút sự chú ý của tôi mà là cái bình thủy tinh có hình dạng kỳ quái để trên sàn nhà dọc theo cái cáng của cô ta.
Chiếc bình đầy ắp một thứ nước tiểu màu vàng, không nghi ngờ gì nữa. Tôi hơi ngạc nhiên; không có các xét nghiệm hóa học, hay thậm chí là giấy quỳ, vậy mẫu nước tiểu được chứa lại đó có thể dùng để làm gì? Nghĩ lướt qua rất nhiều thứ dùng để xét nghiệm nước tiểu, tôi nảy ra một ý tưởng.
Tôi cẩn thận cầm cái bình lên, lờ đi tiếng cảm thán phản đối của xơ Angelique. Tôi thận trọng hít ngửi. Chắc chắn rồi; một phần là mùi chua gắt của hơi a-mô-ni-ắc bốc lên, thứ chất lỏng này có mùi ngọt bệnh tật - khá giống với mùi mật ong chua. Tôi hơi do dự nhưng chỉ có một cách để chắc chắn. Với vẻ chán ghét, tôi rón rén nhúng một đầu ngón tay vào chất lỏng đó rồi đưa lên lưỡi.
Mary, ở bên cạnh tôi, trợn mắt nhìn, hơi lặng người đi, nhưng xơ Angelique thì lại đang quan sát với vẻ hứng thú bất ngờ. Tôi đặt tay lên trán người phụ nữ; nó mát lạnh - không sốt, điều đó lý giải cho sự lãng phí này.
“Cô có khát không?” Tôi hỏi người bệnh. Tôi biết câu trả lời trước khi cô ta lên tiếng vì nhìn thấy bình nước trống rỗng gần đầu cô ta.
“Lúc nào cũng khát, thưa bà,” cô ta đáp. “Và thường xuyên đói nữa. Cho dù tôi ăn nhiều tới mức nào đi nữa, trên người lúc nào cũng như không có thịt.” Cô ta nâng cánh tay gầy guộc lên, trưng ra một cái cổ tay xương xẩu, sau đó buông thõng xuống như thể nỗ lực vừa rồi đã rút kiệt sức của cô ta.
Tôi vỗ nhẹ lên bàn tay chỉ còn da bọc xương đó, thì thầm nói tạm biệt, sự vui mừng của tôi khi có được một sự chẩn đoán chính xác về căn bản đã bị dập tắt bởi ý thức rằng không có một phương pháp chữa trị khả dụng nào dành cho chứng đái tháo đường ở thời đại này; người phụ nữ trước mặt tôi đây đã bị phán quyết chờ chết.
Trong tâm trạng ảm đạm, tôi đứng dậy đi theo xơ Angelique, bà đã đi chậm lại để bước song song cạnh tôi.
“Bà có thể biết cô ta bị bệnh gì ư?” Nữ tu sĩ tò mò hỏi. “Chỉ từ nước tiểu thôi sao?”
“Không chỉ từ thứ đó thôi,” tôi trả lời. “Nhưng phải, tôi biết. Cô ấy bị…” Khỉ thật! Thời này người ta gọi nó là bệnh gì nhỉ? “Cô ấy bị… ừm, ốm đường. Cô ấy không hấp thu được chất dinh dưỡng từ thức ăn và bị đói khủng khiếp. Kết quả là cô ấy thải ra một lượng lớn nước tiểu.”
Xơ Angelique gật đầu, dáng vẻ tò mò mãnh liệt biểu hiện ra trên thân hình béo lùn của bà.
“Và bà có thể nói được khi nào thì cô ấy bình phục không?”
“Không, cô ấy sẽ không khỏe lại,” tôi thẳng thừng trả lời. “Cô ấy bị bệnh nặng lắm rồi, có lẽ không kéo dài tới một tháng.”
“A.” Đôi lông mày nhạt màu nhướng lên, và cái nhìn tò mò bị thay thế bằng một vẻ kính trọng. “Đó chính là điều ông Parnelle đã nói.”
“Ông ấy là ai khi ông ấy ở nhà?” Tôi hỏi một cách hơi khiếm nhã.
Nữ tu sĩ mập mạp nhăn mặt bối rối. “À, ở trụ sở của ông ấy, tôi tin ông ấy là một nhà làm giàn, kèo và đồ trang sức. Mặc dù vậy, khi đến đây ông ấy thường làm việc với tư cách là một chuyên gia xét nghiệm nước tiểu.”
Đến lượt lông mày tôi nhướng lên. “Một chuyên gia xét nghiệm nước tiểu?” Tôi nói vẻ không tin. “Thực sự có người đó sao?”
“Oui, thưa bà. Và ông ấy đã nói y như bà nói về người phụ nữ gầy gò tội nghiệp kia. Tôi chưa bao giờ gặp một phụ nữ nào biết về khoa học xét nghiệm nước tiểu,” xơ Angelique nói, nhìn tôi chằm chằm trong vẻ say mê ngay thật.
“À, có rất nhiều thứ trên đời này hơn là mơ mộng trong triết lý của xơ, thưa xơ,” tôi nói vẻ khoan dung hòa nhã. Bà ta nghiêm túc gật đầu làm tôi thấy xấu hổ vì sự bông đùa của mình.
“Điều đó là sự thật, thưa bà! Bà sẽ kiểm tra cho quý ông ở chiếc giường phía cuối kia chứ? Ông ấy than phiền về lá gan của mình.”
Chúng tôi tiếp tục, hết giường bệnh này tới giường bệnh khác, hết một vòng đại sảnh rộng lớn. Chúng tôi đã thấy các ca bệnh mà tôi vốn chỉ thấy trên giáo trình học và từng loại chấn thương, từ vết thương trên đầu do bị đánh khi say rượu cãi lộn, tới người đánh xe bò bị một thùng rượu vang lăn xuống đè lên lồng ngực.
Tôi dừng lại bên vài giường bệnh, hỏi han những bệnh nhân có thể trả lời. Tôi có thể nghe thấy tiếng Mary hít thở ở ngay sau vai tôi, nhưng không quay lại kiểm tra xem liệu cô bé có phải đang bịt mũi không.
Kết thúc chuyến đi thăm, xơ Angelique quay sang tôi với một nụ cười mỉa mai.
“Thế nào, thưa bà? Bà vẫn khao khát phục vụ Chúa bằng việc giúp đỡ những con chiên không may mắn của Người chứ?”
Tôi đang xắn ống tay áo dài.
“Mang cho tôi một chậu nước nóng, thưa xơ,” tôi nói, “và một ít xà phòng nữa.”
•••
“Nó thế nào, Sassenach?” Jamie hỏi.
“Kinh khủng!” Tôi đáp, cười tươi rói.
Anh nhướng một bên lông mày, cười cười nhìn tôi nằm ườn ra trên ghế dài.
“Ồ, em đã hưởng thụ hết mình đúng không?”
“Ồ, Jamie, thật tuyệt vời khi một lần nữa lại được là người có ích! Em lau sàn nhà, em bón cháo cho người ốm và khi xơ Angelique không nhìn thấy, em xoay xở để thay một vài chiếc váy dơ bẩn và trích một cái áp-xe.”
“Ồ, tốt,” anh nói. “Em có nhớ để ăn không đấy, giữa tất cả những công việc phù phiếm ấy?”
“À, không, cũng bình thường thôi, em đã không nhớ,” tôi nói vẻ hối lỗi. “Mặt khác, em cũng quên cả ốm mệt.” Như thể nhớ ra chuyện lơ là nhiệm vụ, dạ dày của tôi đột nhiên nôn nao. Tôi ấn nắm tay vào dưới xương ức. “Có lẽ em nên ăn thứ gì đó.”
“Em nên làm thế,” anh đồng ý, dứt khoát với tay lấy cái chuông.
Anh ngắm nhìn trong khi tôi nghe lời ngồi xuống, vừa ăn bánh pho mát vừa miêu tả nhà thương Des Anges và những người ở trong đó một cách chi tiết giữa mỗi lần nhai nuốt.
“Trong một vài khu, bệnh nhân rất đông - có khi hai, ba người nằm chung một giường, thật khủng khiếp, nhưng - anh không muốn ăn một chút à?” Tôi ngừng lại, hỏi. “Nó rất ngon.”
Anh nhìn mẩu bánh ngọt tôi đang chìa ra.
“Nếu em nghĩ anh có thể tiếp tục nghe em kể về những cái móng chân thối hoại mà vẫn nuốt được miếng bánh xuống dạ dày thì em nghĩ sai rồi đấy.”
Tôi muộn màng nhận ra vẻ xanh xao tái nhợt trên má và cánh mũi hơi nhăn lại của anh. Tôi rót một cốc rượu vang và đưa nó cho anh trước khi cầm lại đĩa đồ ăn của mình.
“Còn ngày hôm nay của anh thế nào, anh yêu?” Tôi từ tốn hỏi.
•••
Nhà thương Des Anges trở thành nơi ẩn náu của tôi. Sự bộc trực, chất phác của các xơ và bệnh nhân như một tấm màn thanh lọc tuyệt vời so với những mưu đồ dan díu huênh hoang liên miên không dứt của các quý ông, quý bà trong triều đình. Tôi cũng khẳng định rằng nếu không có sự nhẹ nhõm cho phép cơ mặt tôi được thư giãn về trạng thái bình thường khi ở nhà thương, chắc hẳn mặt tôi sẽ nhanh chóng bị đông cứng thành một biểu cảm cười điệu nhạt nhẽo thường trực mất.
Bởi vì tôi có vẻ biết mình đang làm gì và không đòi hỏi gì ở họ ngoài băng gạc và vải lanh nên các xơ nhanh chóng chấp nhận sự có mặt của tôi. Sau lần đầu tiên bị sốc vì giọng nói và tước vị của tôi, các bệnh nhân cũng vậy. Sức ép của định kiến xã hội rất mạnh mẽ, nhưng nó không bằng sự đòi hỏi cấp thiết về năng lực cá nhân khi cần được cung cấp tức thời.
Mẹ Hildegarde bận rộn là thế mà vẫn dành ra thời gian để đánh giá tôi. Bà không bao giờ nói chuyện với tôi trước, chỉ nói một câu đơn giản “Bonjour, Madame” khi đi ngang qua, nhưng tôi thường cảm thấy sức nặng của đôi mắt nhỏ và sắc sảo đó dán vào lưng mình khi tôi dừng lại bên giường của một người đàn ông lớn tuổi bị chứng zô-na, hay khi tôi bôi thuốc mỡ chiết xuất từ cây lô hội lên vết phồng rộp của một đứa bé bị bỏng trong một đám cháy nhà, điều thường xuyên xảy ra ở những khu vực nghèo khổ hơn trong thành phố.
Bà không bao giờ mang dáng vẻ vội vàng, nhưng lại bao quát được công việc ở khắp nơi trong nhà thương suốt cả ngày. Bà sải bước đều đều trên nền đá xám bằng phẳng của các khu vực trong nhà thương với sải chân dài tới cả mét, con chó trắng nhỏ của bà, Bouton, hối hả chạy theo sát gót.
Khác xa với những con chó cưng có bộ lông mềm mại mà các quý bà trong vương triều rất yêu thích, chú chó này trông có vẻ là con lai giữa giống chó xù và chó mình dài của Đức, nó có một chiếc áo khoác bằng bộ lông thô loăn xoăn có những tua lông rũ xuống rung rung hai bên thành cái bụng rộng bè bè, bốn chân cong cong. Bàn chân nó, ngón tõe ra và móng màu đen, gõ lách cách ồn ào xuống sàn lát đá khi phi theo sau Mẹ Hildegarde, cái mõm chúi xuống gần chạm vào những nếp gấp kéo lê của bộ váy màu đen mà bà chủ nó mặc.
“Đó là một con chó à?” Tôi đã ngạc nhiên hỏi một người hộ lý khi lần đầu tiên trông thấy Bouton, đang đi xuyên qua các khu vực trong nhà thương theo sát gót bà chủ của nó.
Nó dừng lại một lát, nằm xoài ra trên sàn để chăm sóc cho cái đuôi xù lông xoăn tít của mình, rồi biến mất vào khu bệnh kế bên.
“À,” anh ta nghi hoặc nói, “Mẹ Hildegarde nói nó là một con chó. Tôi sẽ không muốn là người nói điều ngược lại đâu.”
Khi đã bắt đầu thân thiết hơn với các xơ, hộ lý và bác sĩ đến thăm khám của nhà thương này, tôi nghe được rất nhiều ý kiến khác về Bouton, từ sự khoan dung cho tới những điều mê tín. Không ai biết từ đâu mà Mẹ Hildegarde có được nó, hay tại sao lại có. Nó đã là một thành viên trong đội ngũ những người làm việc ở nhà thương này từ vài năm nay, với một cấp bậc - mà theo ý kiến của Mẹ Hildegarde, một ý kiến duy nhất được tính - còn xếp phía trên các xơ và ngang hàng với hầu hết các bác sĩ tới thăm khám và những người bào chế thuốc.
Một số người nhắc đến nó với sự ác cảm nghi ngờ, số khác thì với vẻ lịch sự hài hước. Một nhà phẫu thuật thường nhắc tới nó - bên ngoài tầm tai nghe của Mẹ - là “đồ gặm nhấm ghê tởm”, “đồ thỏ bốc mùi”, và một người chuyên làm giàn giáo lùn tịt, béo phệ công khai chào đón chú chó là “Ông Giẻ Rửa Bát”. Các xơ coi nó là thứ gì đó giữa con vật mang lại phước lành và vật tổ, trong khi vị tu sĩ cấp thấp từ nhà thờ lớn kế bên, người đã bị con chó cắn vào chân khi đến làm lễ ban phước cho các bệnh nhân, bí mật kể với tôi rằng theo ý kiến của anh ta thì Bouton là một trong những con quỷ thấp kém, đáng ghê tởm hơn cả chó.
Bất chấp những lời nhận xét thiếu khách quan ấy, tôi nghĩ rằng có lẽ anh ta đã đến sát với sự thật nhất. Sau vài tuần lễ quan sát cặp đôi này, tôi đã rút ra kết luận rằng Bouton thực ra chính là người thân của Mẹ Hildegarde.
Bà ấy thường trò chuyện với nó, không phải bằng cái giọng người ta hay dùng để nói với chó, mà như đang thảo luận một vấn đề quan trọng với một người ngang hàng với mình. Khi bà dừng lại bên cạnh một giường bệnh, thường thì Bouton sẽ nhảy lên nệm, đánh hơi và hít ngửi người bệnh nhân bị giật mình hốt hoảng đó. Nó sẽ ngồi xuống, thường là trên chân bệnh nhân, sủa một lần và liếc lên nhìn Mẹ vẻ dò hỏi, vẫy vẫy cái đuôi xù lông mềm như lụa như thể đang hỏi ý kiến của bà về sự chẩn đoán của nó - điều mà nó thường xuyên làm.
Mặc dù tôi khá tò mò về hành vi đó nhưng vẫn không có cơ hội để quan sát tỉ mỉ cặp đôi kỳ lạ này làm việc cho tới một buổi sáng âm u mưa gió tháng Ba. Tôi đang đứng bên giường bệnh của một người đánh xe bò trung niên, trò chuyện vu vơ với ông ta trong khi cố gắng khám phá xem có vấn đề quái quỷ gì không ổn với người đàn ông này.
Đây là một ca bệnh đến vào tuần trước. Ông ta bị kẹp cẳng chân vào bánh xe bò khi bất cẩn nhảy xuống xe trước khi nó dừng lại hẳn. Đó là một ca gãy xương, không có gì phức tạp. Tôi đã cố định xương và vết thương có vẻ đang lành lại thuận lợi. Vấn đề là mặc dù tình trạng sức khỏe tốt, không có mùi hôi, không có những vệt đỏ khả nghi, không phải cực kỳ dễ tổn thương, chẳng có gì giải thích được lý do người đàn ông này vẫn âm ỉ sốt và đi tiểu có mùi lạ, nước tiểu màu đen là hiện tượng nhiễm trùng còn rơi rớt lại.
“Bonjour, thưa bà!” Giọng nói sang sảng cất lên phía trên đầu tôi. Tôi liếc nhìn lên thân hình cao lêu nghêu của Mẹ Hildegarde. Có một tiếng rít ở bên khuỷu tay tôi và Bouton đã đáp lên tấm nệm đánh phịch một cái làm cho người bệnh khẽ rên lên.
“Quý vị thấy sao?” Mẹ Hildegarde nói. Tôi không chắc liệu bà ấy đang hỏi tôi hay Bouton, nhưng tôi vẫn nắm lấy cơ hội mập mờ này và giải thích các nhận xét của mình.
“Vậy là hẳn phải có một nguồn nhiễm trùng thứ cấp,” tôi kết luận, “nhưng tôi không thể tìm ra nó. Tôi đang băn khoăn liệu ông ấy có thể bị nhiễm trùng bên trong mà không liên quan tới chỗ chấn thương ở chân hay không. Có lẽ là viêm ruột thừa nhẹ, hoặc một dạng nhiễm trùng đường ruột, mặc dù tôi cũng không thấy có bất kỳ tổn thương nào ở bụng.”
Mẹ Hildegarde gật đầu. “Một khả năng, tất nhiên rồi. Bouton!” Con chó nghếch cái đầu về hướng bà chủ - người vừa hất cái cằm dài về phía bệnh nhân. “A la bouche[4], Bouton,” bà ra lệnh. Bằng một bước chân điệu đà, con chó gí cái mũi tròn màu đen, mà đoán chừng đã mang lại cái tên cho nó, vào mặt người đánh xe. Mắt người đàn ông, hai mí vốn trĩu nặng vì cơn sốt, bật mở trước sự xâm phạm này, nhưng liếc mắt thấy sự hiện diện của Mẹ Hildegarde, ông ta liền kìm lại bất kỳ lời phàn nàn nào mình đang định thốt ra.
“Mở miệng ra,” Mẹ Hildegarde chỉ dẫn, như thể sức ép cá tính của bà đã khiến ông ta làm theo, mặc dù môi ông ta giật giật trước cái mõm gần sát của con Bouton. Hôn chó đơn giản không nằm trong danh sách những hoạt động đáng ao ước của ông ta.
“Không,” Mẹ Hildegarde trầm ngâm nói, quan sát Bouton. “Cái đó không phải. Nhìn xem chỗ khác đi, Bouton, nhưng cẩn thận đấy. Người đàn ông này bị gãy chân, nhớ nhé!”
Như thể hiểu từng lời nói đó, con chó bắt đầu tò mò đánh hơi người bệnh, ồn ào hít ngửi dưới nách của ông ta, đặt hai cái chân mập mạp lên ngực ông ta để kiểm tra, nhẹ nhàng thúc dọc theo nếp gấp dưới háng. Khi đi đến cái chân bị thương, nó cẩn thận bước qua trước khi gí mũi đánh hơi bề mặt phần băng bó quanh chân.
Bouton quay trở lại vùng háng - chà, có gì khác đâu chứ, tôi nôn nóng nghĩ, rốt cuộc, nó chỉ là một con chó - thúc lên phần đỉnh đùi non, rồi ngồi xuống và sủa một tiếng, vẫy đuôi vẻ đắc thắng.
“Ở đó đấy,” Mẹ Hildegarde nói, chỉ vào một vết thương nhỏ đã đóng vảy màu nâu ngay bên dưới nếp gấp ở bẹn.
“Nhưng chỗ đó gần như đã lành lại rồi mà,” tôi phản đối. “Nó không bị nhiễm trùng.”
“Không ư?” Bà xơ cao lớn đặt một bàn tay lên đùi người đàn ông và ấn mạnh. Các ngón tay rắn chắc nổi gân xanh và ẩm ướt, người đàn ông đánh xe gào lên như một nữ thần báo tử.
“A,” bà thốt lên vẻ hài lòng, quan sát dấu tay bà để lại từ cú chạm vừa rồi. “Một túi mủ.”
Đúng thế thật; phần da đóng vảy đó bị nứt ra ở một bên mép, mủ vàng nhầy đặc rỉ ra bên dưới. Với một cuộc tìm kiếm nhỏ, có Mẹ Hildegarde giúp giữ chân và vai người đàn ông, vấn đề đã được hé lộ. Một mảnh gỗ dài bay ra từ chiếc bánh xe bò gãy vụn đã đâm sâu vào đùi ông ta. Nó không được phát hiện ra vì bên ngoài miệng vết thương có vẻ không nghiêm trọng, chính bản thân người bệnh cũng không để ý, đối với ông ta, cả cái chân đều đau nhức. Trong khi miệng vết thương bé xíu đó rõ ràng đã lành lại, nhưng vết thương sâu hơn đã mưng mủ và hình thành một túi mủ xung quanh vật xâm nhập kia, vùi nó vào cơ thịt nên không nhìn thấy triệu chứng nào ở bề mặt bên ngoài - ít nhất căn cứ vào giác quan của con người.
Một con dao mổ nhỏ để mở rộng miệng vết thương, một dụng cụ gắp nhanh với một chiếc kìm mũi dài, một cú kéo ra có lực và êm ái, và thế là tôi giơ lên một cái rằm gỗ dài gần tám phân, dính đầy máu và chất mủ nhầy.
“Không tồi, Bouton ạ,” tôi nói, gật đầu công nhận. Một cái lưỡi dài hồng hồng thè ra vẻ vui sướng, hai cánh mũi đen đánh hơi về phía tôi.
“Phải, bà ấy cừ lắm,” Mẹ Hildegarde nói và lần này không ai trong chúng tôi nghi ngờ việc bà đang nói với ai, Bouton là con đực. Bouton nhoài người tới trước và lịch sự hít ngửi tay tôi, sau đó liếm liếm các khớp ngón tay một lần, tỏ vẻ công nhận đồng sự mới. Tôi kìm lại thôi thúc muốn lau tay vào váy.
“Thật đáng kinh ngạc,” tôi khen, ám chỉ con chó.
“Phải,” Mẹ Hildegarde đáp một cách ngẫu nhiên nhưng với một âm sắc tự hào không thể nào nhầm lẫn được. “Cậu bé rất giỏi trong việc xác định vị trí những khối u, bướu dưới da. Tôi không thể chắc nó tìm thấy gì trong mùi hơi thở và nước tiểu, nhưng nó cứ sủa một tiếng chắc chắn là không lầm lẫn chỉ ra được dạ dày có vấn đề.”
Trong tình huống này, tôi thấy không có lý do gì để nghi ngờ cả. Tôi cúi chào Bouton và nhặt lên một cái lọ nhỏ đựng thuốc bột chế từ cây ban Âu để trị nhiễm trùng.
“Rất vui vì được mày trợ giúp, Bouton ạ! Mày có thể làm việc với ta bất cứ lúc nào.”
“Bà rất nhạy bén đấy,” Mẹ Hildegarde nói, khoe hàm răng khỏe khoắn sáng bóng. “Nhiều bác sĩ và chirurgien[5] làm việc ở đây ít có khuynh hướng tận dụng khả năng của nó.”
“À, vậy sao...” Tôi không muốn làm mất uy tín của bất cứ ai, nhưng ánh mắt liếc nhìn qua sảnh tới chỗ ông Voleru chắc hẳn quá rõ ràng không che giấu được.
Mẹ Hildegarde bật cười. “Chà, chúng ta nhận những gì Chúa gửi tới cho chúng ta, mặc dù thi thoảng tôi tự hỏi liệu có phải Người gửi họ tới cho chúng ta chỉ là để giữ họ tránh xa khỏi rắc rối ở đâu đó không. Nhưng thà có đám bác sĩ ấy còn hơn là không có gì - cho dù chỉ là một số ít không đáng kể. Bà...” - và hàm răng sáng bóng lại lóe lên lần nữa, gợi cho tôi nghĩ đến một con ngựa thồ vui vẻ - “là một trường hợp còn tốt hơn rất nhiều, bà thân mến ạ!”
“Cảm ơn.”
“Dù vậy, tôi đã thắc mắc,” Mẹ Hildegarde tiếp tục, quan sát tôi bôi thuốc vào vết thương, “tại sao bà chỉ chăm chăm khám cho các bệnh nhân bị thương và gãy xương? Bà tránh những người bị ho và ốm sốt, nhưng đó là chuyện bình thường đối với các les maîtresses mà. Tôi không nghĩ là mình từng thấy một nữ chirurgien trước đây.” Les maîtresses là những người chữa bệnh không có bằng cấp, hầu hết đến từ các tỉnh, là người buôn bán thảo dược, thuốc đắp và bùa mê. Les maîtresses sage-femme là những bà đỡ, bà mụ, đứng đầu trong cộng đồng những người hành nghề thuốc được quan tâm nhất. Nhiều người được kính trọng còn hơn cả các bác sĩ có bằng cấp, và được người bệnh ở tầng lớp dưới ưa thích hơn cả, vì họ vừa có khả năng chữa bệnh lại không mất nhiều phí tổn tốn kém.
Tôi không ngạc nhiên khi bà nhận thấy thiên hướng của tôi; từ lâu tôi đã suy luận ra rằng rất ít thứ ở nhà thương này thoát khỏi mắt Mẹ Hildegarde.
“Nó không hề thiếu những điều thú vị,” tôi cam đoan với bà. “Chỉ có điều tôi đang có mang, cho nên tôi không thể ở gần bất cứ nguồn dễ lây nhiễm nào, vì đứa bé. Những ca gãy xương thì không lo.”
“Đôi khi tôi thắc mắc vậy đấy,” Mẹ Hildegarde nói, mắt liếc nhìn một cái cáng đang được đưa đến. “Tuần này chúng ta đang có bệnh dịch. Không, đừng đi!” Bà ra hiệu cho tôi lùi lại. “Xơ Cecile sẽ kiểm tra trường hợp này. Bà ấy sẽ gọi bà nếu cần.”
Đôi mắt nhỏ màu xám của bà xơ quan sát tôi với sự tò mò lẫn đánh giá.
“Vậy, bà không chỉ là một quý bà mà còn đang mang thai, nhưng chồng bà không phản đối việc bà đến đây ư? Ông ấy hẳn là một người đàn ông phi thường nhất.”
“À, anh ấy là người Scot,” tôi nói, bằng cách giải thích đó, tôi không định đi sâu hơn về chủ đề chồng mình phản đối ra sao.
“Ồ, người Scot.” Mẹ Hildegarde gật đầu vẻ đã hiểu. “Chỉ vậy thôi.”
Giường bệnh rung lên khi Bouton nhảy xuống và phi về phía cửa.
“Nó ngửi thấy mùi người lạ,” Mẹ Hildegarde nhận xét. “Bouton còn làm trợ thủ cho người gác cổng cũng như là cho các bác sĩ - nhưng chẳng nhận được sự biết ơn nào cho những nỗ lực của nó, tôi e là vậy.” Những tiếng sủa dứt khoát và một giọng nói cao vút sợ hãi vẳng đến xuyên qua cánh cửa đôi của lối vào.
“Ồ, lại là Cha Balmain! Người đàn ông đáng nguyền rủa, ông ta không thể đứng im để Bouton đánh hơi được sao?” Mẹ Hildegarde đi cứu viện cho người bạn đồng hành của mình, rồi thoáng cái bà quay lại, mỉm cười với tôi vẻ thích thú. “Có lẽ tôi sẽ để nó đến hỗ trợ bà làm việc, thưa bà, trong khi tôi xoa dịu Cha Balmain. Dù không nghi ngờ gì ông ta là một người đàn ông mộ đạo, nhưng quả là ông ta rất thiếu năng lực đánh giá công việc của một nghệ sĩ.”
Bà sải bước về phía cửa với những sải chân dài, không vội vã. Dặn dò lần cuối người đánh xe, tôi quay sang chỗ xơ Cecile và cái cáng bệnh mới được đưa tới.
•••
Jamie đang nằm trên tấm thảm trong phòng khách khi tôi về nhà, với một cậu nhóc ngồi khoanh chân trên sàn bên cạnh anh. Jamie đang cầm trò chơi bóng gỗ[6] bằng một tay, còn tay kia thì che một mắt.
“Dĩ nhiên ta có thể làm được,” anh đang nói. “Mỗi ngày và hai lần vào Chủ nhật. Xem đây!”
Giơ một tay che mắt, anh gắn chặt mắt kia vào quả bóng gỗ và hất cái cốc ngà một cái. Quả bóng nẩy từ trong hốc vào chỗ đường cong, và rơi xuống như được dẫn đường bằng ra đa, đáp trở lại vào cốc một cách gọn gàng.
“Thấy không?” Anh nói, bỏ tay che mắt ra. Anh ngồi dậy và đưa cái cốc cho chú nhóc. “Đây, cháu thử đi!” Anh cười toe toét với tôi, luồn một bàn tay vào dưới viền váy, vô vào mắt cá chân đi tất lụa xanh của tôi tỏ vẻ chào đón.
“Vui nhỉ?” Tôi hỏi.
“Không hẳn thế,” anh đáp, nắm siết mắt cá chân một cái. “Anh đang chờ em, Sassenach ạ!” Những ngón tay dài, ấm áp quấn quanh mắt cá chân tôi trượt lên cao hơn, nghịch ngợm vuốt ve đường cong ở bắp chân, trong khi đôi mắt xanh lam trong trẻo ngước nhìn tôi đắm đuối bằng tất cả vẻ thơ ngây. Một bên mặt anh dính một vết bùn đã khô, có vết bẩn trên áo sơ mi và váy của anh.
“Vậy sao?” Tôi hỏi, cố kéo chân mình thoát khỏi bàn tay anh một cách kín đáo. “Đáng ra em nên nghĩ đến người bạn chơi cùng bé nhỏ của anh sẽ là người bạn đồng hành mọi lúc khi anh cần.”
Cậu nhóc, chẳng hiểu tiếng Anh và những gì đang được trao đổi, vẫn phớt lờ mọi chuyện, chỉ chăm chú nhắm một mắt và chơi bóng gỗ. Hai lần cố gắng đầu tiên thất bại, cậu bé mở cả hai mắt và nhìn trừng trừng món đồ chơi, như thể dọa dẫm nó còn dám không theo ý. Rồi cậu lại nhắm một mắt, nhưng không nhắm chặt hẳn; vẫn ti hí một bên, ánh mắt lanh lợi bên dưới hàng mi dày rậm.
Jamie tặc lưỡi tỏ vẻ không tán thành và con mắt kia vội vàng nhắm chặt lại.
“Không được rồi, Fergus, chúng ta không chơi ăn gian nhé!” Anh nói. “Phải chơi đẹp.” Cậu nhóc rõ ràng đã hiểu ý, nếu không phải hiểu từng từ; cậu nhoẻn cười đầy ngượng ngùng, khoe ra hai cái răng cửa lớn trắng tinh, sáng bóng hoàn hảo, vuông vắn y như răng sóc.
Bàn tay Jamie vận một lực kéo vô hình, buộc tôi di chuyển đến gần anh hơn để tránh khỏi ngã nhào.
“A,” anh kêu lên. “Fergus đây là một con người đa tài đó, và là một người bầu bạn vui tính trong những giờ đồng hồ tẻ ngắt khi vợ một người đàn ông bỏ mặc anh ta bươn chải giữa sự xấu xa của thành phố này” - những ngón tay thon dài tinh tế quấn vào khoeo chân tôi, làm nó buồn buồn - “nhưng cậu nhóc không đủ tư cách là một người bạn tình trong tâm trí anh.”
“Fergus?” Tôi hỏi, đưa mắt nhìn cậu nhóc, cố phớt lờ đi những gì đang diễn ra bên dưới. Cậu bé có lẽ khoảng chừng chín, mười tuổi, nhưng nhỏ con hơn so với tuổi của cậu, xương nhỏ như một con chồn sương. Ăn mặc sạch sẽ, quần áo đã sờn cũ, có phần hơi rộng, nó cũng giống những người Pháp khác, có làn da tai tái vàng vọt và đôi mắt lớn màu đen đặc trang của một đứa trẻ đường phố ở Paris.
“À, tên thật của nó là Claudel, nhưng bọn anh quyết định là nó nghe không đàn ông lắm, cho nên cậu nhóc muốn được gọi là Fergus. Một cái tên thích hợp dành cho một chiến binh, thế đó.” Nghe thấy người ta nhắc đến tên cậu - hay là những cái tên của cậu - chú nhóc ngẩng lên nhìn và toét miệng cười với tôi vẻ thẹn thùng.
“Đây là bà chủ,” Jamie giải thích với cậu nhóc, ra dấu về phía tôi bằng bàn tay rảnh rỗi. “Cháu có thể gọi là phu nhân. Anh không nghĩ cậu nhóc có thể xoay xở với cách gọi “Broch Tuarach”,” anh nói thêm với tôi, “hoặc thậm chí là Fraser, đó cũng là vấn đề.”
““Phu nhân” sẽ tốt hơn,” tôi nói, mỉm cười. Tôi vặn vẹo chân mạnh hơn, cố gắng thoát khỏi cái nắm tay bám chặt như đỉa. “À mà tại sao, nếu em có thể hỏi?”
“Tại sao cái gì? Ồ, tại sao là Fergus ư, ý em là thế hả?”
“Đó đúng là ý em định hỏi.” Tôi không chắc cánh tay của anh ấy có thể với xa tới đâu, nhưng bàn tay kia cứ chầm chậm lần lên trên bắp đùi tôi. “Jamie, bỏ tay ra ngay lập tức!”
Các ngón tay kia phóng tới một bên đùi, khéo léo kéo lỏng một dải ruy băng nịt tất. Chiếc tất tuột xuống chân tôi thành một vũng tròn quanh mắt cá chân.
“Anh, đồ quỷ quái!” Tôi đá anh, nhưng anh né sang một bên và cười ầm ĩ.
“Ồ, quỷ quái ư? Loại nào?”
“Mắc dịch!” Tôi bật lại, cố cúi người để kéo chiếc tất lên mà không bị ngã vì cái gót giày của mình. Cậu nhóc Fergus, sau một cái liếc mắt thờ ơ nhìn chúng tôi, lại cắm cúi với trò bóng gỗ.
“Về phần chú nhóc này,” anh bình thản tiếp tục, “Fergus giờ là người làm thuê của anh.”
“Để làm gì?” Tôi hỏi. “Chúng ta đã có cậu bé cọ rửa dao và ủng, và một người làm ở chuồng ngựa.”
Jamie gật đầu. “Phải, đúng thế! Nhưng chúng ta chưa có một kẻ móc túi. Hoặc đúng hơn là trước đây chúng ta không có; giờ ta đã có rồi.”
Tôi hít vào và thở ra lần nữa thật chậm.
“Ra thế! Em cho rằng mình có hơi chậm hiểu khi hỏi tại sao chúng ta cần bổ sung thêm một kẻ móc túi vào đội ngũ gia nhân?”
“Để đánh cắp những lá thư, Sassenach ạ,” Jamie bình thản đáp.
“Ồ,” tôi thốt lên, ánh sáng bắt đầu bừng lên.
“Anh không thể moi được tin tức gì từ Điện hạ; khi cậu ta ở cùng anh, cậu ta sẽ chẳng làm gì khác ngoài việc than vãn về Louise de La Tour, hoặc nghiến răng nghiến lợi nguyền rủa bởi vì bọn họ lại đang cãi nhau. Nếu không thế thì tất cả những gì cậu ta muốn làm là uống say mềm nhanh nhất có thể. Mar đang dần mất kiên nhẫn với cậu ta, vì cậu ta hay ngạo mạn và sưng sỉa. Và anh cũng không thể thu được gì từ chỗ Sheridan.”
Bá tước Mar là thành viên được kính trọng nhất trong số những người Jacobite Scotland bị lưu vong xa xứ ở Paris. Một người đàn ông có phẩm đức xuất chúng và nổi tiếng, giờ chỉ mới bắt đầu mấp mé cao niên, ông ta là người ủng hộ đầu tiên của Vua James trong cuộc khởi nghĩa chết yểu năm 1715, và đã theo Đức vua của ông ta đi lưu vong sau thất bại ở Sheriffsmuir. Tôi đã gặp vị Bá tước này và rất thích ông ta; một người đàn ông đứng tuổi phong nhã với một nhân cách ngay thẳng y như cái sống lưng của ông ta. Giờ đây, ông ta đang cố gắng hết sức mình - dường như với rất ít sự tưởng thưởng - cho con trai vị chúa công của mình. Tôi cũng đã gặp Thomas Sheridan; vị gia sư của Hoàng tử - một người đàn ông lớn tuổi chịu trách nhiệm xử lý thư tín cho Điện hạ, chuyển ngữ sự thiếu kiên nhẫn và thất học thành tiếng Pháp và tiếng Anh một cách nhã nhặn.
Tôi ngồi xuống và kéo chiếc tất của mình lên. Fergus, rõ ràng điếng người khi nhìn thấy chân của phái nữ, liền phớt lờ tôi luôn, chuyên tâm tập trung vào trò chơi bóng gỗ của nó.
“Những lá thư, Sassenach ạ,” anh nói. “Anh cần những lá thư. Thư tín từ Rome có dấu niêm phong của nhà Stuart. Thư từ Pháp, thư từ Anh, thư từ Tây Ban Nha. Chúng ta có thể lấy chúng từ nhà Hoàng tử - Fergus có thể đi cùng anh, với tư cách một tiểu đồng - hoặc có thể lấy từ người đưa tin của Giáo hoàng; như thế sẽ tốt hơn vì chúng ta có được thông tin trước nhất.”
“Vậy là chúng ta đã kiếm được món hời này,” Jamie nói, gật đầu ra hiệu về phía người hầu mới của anh. “Fergus sẽ cố gắng hết sức để lấy những thứ anh cần, và anh sẽ cung cấp cho nó quần áo, nơi ăn ở và ba mươi écu một năm. Nếu nó bị bắt trong khi đang làm việc cho anh, anh sẽ cố gắng để chuộc lại nó. Nếu không được, và thằng bé bị mất một bàn tay hay một cái tai, thì sau đó anh sẽ nuôi nó suốt phần đời còn lại, vì nó sẽ không thể theo đuổi sự nghiệp của nó được nữa. Và nếu thằng bé bị treo cổ, anh đảm bảo sẽ làm lễ cầu kinh cho linh hồn nó trong khoảng thời gian suốt một năm. Anh nghĩ thế là công bằng, đúng không?”
Tôi thấy một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng.
“Chúa Jesus, Jamie!” Đó là tất cả những gì tôi có thể thốt ra được.
Anh lắc đầu, với tay lấy trò bóng gỗ. “Không phải Chúa của bọn anh, Sassenach ạ! Hãy cầu nguyện Thánh Dismas. Vị thánh lang thang của lũ trộm đạo và quân phản trắc.”
Jamie vòng tay qua để lấy trò bóng gỗ từ tay thằng bé. Anh búng mạnh và nhanh vào cổ tay cậu nhóc, trái bóng liền bay một đường vòng cung hoàn hảo, rơi vào cái chén lõm một cách chắc chắn.
“Em hiểu rồi,” tôi nói. Tôi nhìn kẻ làm thuê mới với sự hứng thú khi thằng bé đón lấy món đồ chơi Jamie đưa cho và bắt đầu mò mẫm chơi lần nữa, đôi mắt đen lấp lánh vẻ tập trung. “Anh kiếm được thằng bé từ đâu thế?” Tôi tò mò hỏi.
“Anh tìm thấy nó trong một nhà thổ.”
“Ồ, tất nhiên rồi,” tôi nói. “Chắc chắn là thế.” Tôi đưa mắt nhìn những vết bẩn trên quần áo anh. “Em hy vọng anh ghé thăm cái nhà thổ đó vì một lý do tuyệt hảo nào đấy chứ?”
“Ồ, đúng thế,” anh đáp. Anh ngồi ngả ra sau, hai cánh tay ôm lấy đầu gối, toe toét cười khi quan sát tôi sửa lại cái nịt tất. “Anh nghĩ em thích anh bị tìm thấy trong một chỗ như thế, hơn là bị tìm thấy trong một con hẻm tối tăm với cái đầu bể sọ chứ!”
Tôi thấy mắt cậu nhóc Fergus tập trung vào một điểm nào đó phía sau món đồ chơi bóng gỗ kia, chỗ một cái khay bánh kem được đặt trên chiếc bàn cạnh tường. Đầu chiếc lưỡi hồng hồng đang lướt qua bờ môi dưới của cậu.
“Em nghĩ cậu nhóc được anh đỡ đầu đang đói đấy,” tôi nói. “Tại sao anh không cho nó ăn và sau đó kể cho em chuyện quái quỷ gì đã xảy ra vào chiều hôm nay nhỉ?”
“À được, anh đang trên đường tới bến cảng,” anh bắt đầu kể rất biết tiếp thu, đứng dậy đi lấy bánh, “và chỉ vừa mới đi qua phố Eglantine, anh bắt đầu có cảm giác quái gở rợn lên sau gáy.”
Jamie Fraser đã có hai năm phục vụ trong quân đội Pháp, chiến đấu và ăn trộm cùng với một nhóm “tứ cố vô thân” người Scot, và bị săn lùng như một kẻ sống ngoài vòng pháp luật trên khắp các bãi hoang và rừng núi nơi quê hương anh. Tất cả những trải nghiệm đó đã để lại cho anh một linh tính cực kỳ nhạy bén trước cảm giác bị đeo bám.
Anh không thể nói rõ đó là tiếng bước chân đi gần đằng sau, hay hình ảnh một bóng đen đáng lẽ không nên có ở đó, hoặc thứ gì đấy ít hữu hình hơn - thứ mùi tội ác ở trong không khí chẳng hạn - nhưng anh đã học được rằng cảm giác dựng tóc gáy báo cho anh biết có thứ gì đó nguy hiểm đang bị bỏ qua.
Lập tức tuân theo linh cảm đó, anh rẽ sang trái thay vì sang phải ở góc phố tiếp theo, vòng qua một quầy bán sò ốc, cắt ngang giữa một cái xe đẩy đầy bánh pudding và một chiếc khác đầy bầu bí tươi ngon, đi vào một cửa hàng bán thịt lợn ướp lạnh.
Ép sát người vào bức tường cạnh lối cửa ra vào, anh nhìn ra qua một tấm kính treo lủng lẳng mấy con vịt đã được làm sạch. Ngay giây sau, hai người đàn ông rẽ vào phố, đi sát nhau, mắt láo liên nhìn hai bên đường.
Mọi công nhân ở Paris đều mang theo trên người dấu hiệu của người làm công ăn lương, cho nên chẳng mất mấy công sức để đánh hơi được mùi muối biển bốc ra trên người hai gã này. Nếu cái khuyên tai nhỏ bằng vàng của gã lùn hơn không phải là manh mối chắc chắn thì màu da mặt nâu đỏ của chúng cũng cho thấy rõ chúng là thủy thủ.
Quen với thói ăn ở co cụm trên thuyền và các quán rượu ở cảng, dân đi biển hiếm khi đi theo một đường thẳng. Hai gã này len lỏi qua đám đông trong ngõ hẻm như những con cá chình lạng lách qua những tảng đá, mắt quét qua đám ăn mày, hầu gái, các bà nội trợ, con buôn; như những con sói biển đang ước lượng con mồi.
“Anh để chúng đi qua cửa hiệu,” Jamie giải thích, “rồi anh bước ra và đi về theo một đường khác, khi anh trông thấy một tên khác đã ở đầu con hẻm.”
Gã này mặc đồng phục giống như hai gã kia; khẩu súng săn hai nòng nặng trịch đã được lau dầu, một con dao giết cá ở bên sườn, một mũi tách tao để xoắn chập dài bằng một cẳng tay người giắt ở thắt lưng. Thấp lùn, người chắc nịch, gã đàn ông này đứng im ở cuối con hẻm, trấn giữ chỗ đó, bất chấp làn sóng người buôn bán đi qua đi lại cái lối chật hẹp ấy. Rõ ràng hắn được cắt cử đứng gác ở đó, trong khi đồng bọn đi lùng sục đằng trước.
“Thế là anh tự hỏi phải làm gì là tối ưu nhất,” Jamie nói, đưa tay xoa mũi. “Chỗ anh đứng nấp đủ an toàn, nhưng cửa hiệu đó không có lối cửa hậu, nên ngay giây phút bước ra khỏi cánh cửa đó, anh sẽ bị nhìn thấy.” Anh nhìn xuống vẻ nghĩ ngợi, tay xoa vuốt chất vải đỏ thẫm của chiếc váy dạ phủ trên đùi. Một màu đỏ đậm rất dễ dàng bị nhận diện, cho dù ở giữa đám người đông đúc như thế nào đi nữa.
“Vậy anh đã làm gì?” Tôi hỏi. Fergus, vẫn phớt lờ cuộc trò chuyện, đang khéo léo nhét vào túi nó những chiếc bánh ngọt, thỉnh thoảng lại dừng lại để cắn vội cắn vàng một miếng. Jamie bắt gặp ánh nhìn của tôi hướng về phía cậu nhóc, bèn nhún vai.
“Thằng bé không có thói quen ăn uống bình thường,” anh nói. “Mặc nó đi!”
“Được rồi,” tôi nói. “Nhưng tiếp đi - anh đã làm gì?”
“Mua xúc xích,” anh đáp nhanh gọn.
Chính xác là một cái xúc xích Dunedin. Được làm từ thịt vịt ướp cay, giăm bông và thịt thú rừng, luộc lên, nhồi ruột và phơi khô ngoài nắng, một cái xúc xích Dunedin dài gần nửa mét và cứng như gỗ sồi.
“Anh không thể bước ra với thanh kiếm tuốt trần,” Jamie giải thích, “nhưng anh không thích ý nghĩ bước ngang qua gã đó trong cái hẻm ấy mà chỉ có tay không chắp sau lưng.”
Mang một cái xúc xích Dunedin trong tư thế chuẩn bị khám súng, mắt thì luôn quét qua đám đông đi ngang, Jamie đã đi dọc con hẻm, tiến về phía gã canh gác ở đầu lối ra.
Gã đàn ông này đón ánh mắt trừng trừng của anh với vẻ khá bình tĩnh, không có dấu hiệu ác ý nào. Jamie có thể đã nghĩ rằng linh cảm ban đầu của mình là nhầm lẫn và không nhìn vào mắt gã đứng canh đó trong một thoáng khi đi qua hắn. Nhưng tuân theo những bản năng đã giữ cho anh sống sót cho tới ngày nay, anh nhào tới, quật ngã, gí mặt gã xuống mặt đường rải sỏi bẩn thiu.
Đám đông tan tác trước mặt anh cùng với những tiếng kêu thét chói tai, anh xoay lại và trông thấy con dao đã được phi ra nhưng không trúng anh, đang ghim vào cái quầy bán ruy băng và rung lên bần bật.
“Nếu trước đó anh có hơi nghi ngờ việc mình là mục tiêu mà chúng muốn nhắm tới thì bấy giờ anh không phải băn khoăn lâu hơn nữa,” anh nói cộc lốc.
Anh vẫn nắm thanh xúc xích và lúc này đã tìm được chỗ hữu dụng cho nó, anh quật thẳng nó vào mặt một kẻ tấn công.
“Anh nghĩ anh đã đập vỡ mũi hắn,” anh nói vẻ trầm ngâm. “Dù sao hắn cũng lảo đảo lùi lại và anh đã tranh thủ xông qua để chạy thoát, theo phố Pelletier.”
Các cư dân trên con phố đó nháo nhác tán loạn như vịt tránh khỏi đường của anh, bị giật mình vì trông thấy một gã Scot xô chạy trên đường, chiếc váy tung bay xung quanh đầu gối. Anh không dừng lại để nhìn về phía sau; bằng vào những tiếng la hét căm phẫn của người đi đường, anh biết rằng những kẻ tấn công vẫn đang truy đuổi.
Khu vực này của thành phố hiếm có cảnh binh hoàng gia đi tuần tra, và bản thân đám đông cũng chẳng gây tắc nghẽn mấy cho những kẻ truy đuổi để làm chậm lại bước chân chúng. Không ai có khả năng can thiệp vào một vụ bạo lực có yếu tố nước ngoài thế này.
“Đường Pelletier không có ngõ hẻm. Ít nhất anh cần kiếm một chỗ để có thể rút kiếm và có một bức tường phía sau làm điểm tựa phòng vệ,” Jamie giải thích. “Vì thế anh đã xô vào các cánh cửa khi chạy ngang, cho tới khi đẩy mở được một cánh.”
Xông vào một hành lang tối âm u, chạy qua một người gác cổng đang sững sờ, xuyên qua một tấm màn treo, anh đã lao vọt vào một căn phòng lớn sáng sủa, và phanh kít lại giữa phòng khách của bà Elise, mùi nước hoa nồng nặc xộc vào cánh mũi anh.
“Em hiểu,” tôi cắn môi, nói. “Em, ừm, tin là anh không rút kiếm ở đó chứ?”
Jamie nheo mắt nhìn tôi, nhưng không buồn hạ cố trả lời thẳng thắn.
“Anh sẽ để phần đó lại cho em, Sassenach ạ,” anh nhàn nhạt nói, “để tưởng tượng xem cảm giác bất ngờ lọt vào giữa một cái nhà thổ là như thế nào, trong khi vẫn đang cầm một cái xúc xích cực kỳ lớn trên tay.”
Trí tưởng tượng của tôi chứng minh đầy đủ khả năng của nó trước nhiệm vụ này, và tôi lập tức phá lên cười.
“Chúa ơi, em ước gì có thể trông thấy anh lúc đó!” Tôi nói.
“Ơn Chúa là em không thấy được!” Anh bực bội nói. Màu ửng hồng giận dữ bừng lên trên gò má anh.
Lờ đi những lời bình luận từ những người bạn cùng phòng đang thích thú, Jamie lúng túng len lỏi qua những gì mà anh rùng mình miêu tả là “mớ bòng bong những tay và chân”, cho tới lúc phát hiện ra Fergus đang tựa vào một bức tường, kinh ngạc trợn tròn mắt nhìn người vừa xâm nhập.
Tóm lấy thằng nhóc xuất hiện ngoài ý muốn này, Jamie vác nó trên vai và hùng hục tìm được lối ra gần nhất mà không mất tẹo thời gian nào.
“Anh nghe thấy tiếng náo động trên hành lang,” anh giải thích, “và anh biết chúng ở ngay sau anh. Anh không muốn phải sống chết đánh nhau giữa đám phụ nữ trần truồng vướng đường đó.”
“Em hiểu, cảnh tượng đó có thể làm người ta nhụt chí,” tôi tán đồng, xoa xoa môi trên. “Nhưng rõ ràng là thằng bé đã đưa anh ra khỏi đó.”
“Đúng thế! Cậu nhóc không hề chần chừ một giây nào. “Lối này, thưa ông!” Thằng bé nói và dẫn đường lên một cái cầu thang, xuyên qua căn phòng ra một cái cửa sổ ở trên mái, và cả hai bọn anh cùng chạy đi.” Jamie ném một cái liếc nhìn trìu mến về phía người làm thuê mới của mình.
“Anh biết không,” tôi nhận xét, “có một số bà vợ sẽ không tin một lời nào khi nghe một câu chuyện như thế đâu.”
Mắt anh mở to kinh ngạc.
“Họ không tin ư? Bất kể lý do gì cũng không à?”
“Có lẽ,” tôi lạnh lùng nói, “bởi vì họ không kết hôn với anh. Em mừng rằng anh đã thoát khỏi đó, lông tóc nguyên vẹn, nhưng mà em thấy hiếu kỳ về những kẻ đuổi theo anh.”
“Lúc đó anh đâu có rảnh mà nghĩ về chuyện ấy,” Jamie đáp. “Và giờ nghĩ lại, anh vẫn không biết bọn chúng là ai, hay lý do gì khiến chúng săn đuổi anh.”
“Cướp của, anh nghĩ sao?” Những hóa đơn tiền mặt bán rượu được vận chuyển qua lại giữa nhà kho Fraser, phố Tremoulins và ngân hàng của Jared bằng két an toàn, dưới sự canh giữ nghiêm ngặt. Nhưng Jamie rất hay xuất hiện giữa đám đông gần bến thuyền ở bờ sông, và không nghi ngờ gì anh được biết đến như là một thương nhân nước ngoài giàu có - theo một mức độ nào đó, sự giàu có đối lập với hầu hết những cư dân ở khu vực lân cận.
Anh lắc đầu, đập những mảnh bùn khô dính trước váy.
“Anh cho là cũng có thể. Nhưng bọn chúng không cố sán đến để bắt chuyện với anh; chúng định giết anh thẳng cánh.”
Giọng anh khá bình thản, nhưng nó khiến tôi bủn rủn cả hai đầu gối và phải ngồi thụp xuống chiếc xô pha. Tôi liếm đôi môi đột nhiên khô khốc.
“Ai - anh nghĩ là ai…?”
Anh nhún vai, nhíu mày khi dùng ngón tay quệt một chút kem từ đĩa đồ ăn và nhấm nháp liếm sạch nó.
“Anh chỉ có thể nghĩ đến một gã, đó là người đã đe dọa anh, Bá tước St. Germain. Nhưng anh không thể nghĩ ra hắn được lợi gì khi giết anh.”
“Anh đã nói hắn là đối thủ kinh doanh của Jared mà.”
“Ồ, đúng thế! Nhưng gã Bá tước không có hứng thú với rượu vang Đức, và anh không nghĩ hắn mạo hiểm gặp rắc rối để giết anh, chỉ hòng khiến Jared quay trở lại Paris nhằm phá hoại một nhà máy sản xuất mới của ông ấy. Điều đó dường như là một hành động hơi cực đoan,” anh nói, “cho dù là với một người đàn ông có tính khí như gã Bá tước này.”
“À, anh có nghĩ…” Ý nghĩ đó khiến tôi phát ốm và tôi nuốt khan hai lần trước khi tiếp tục. “Anh có nghĩ có thể nào là… trả thù không? Vì chiếc Patagonia bị đốt?”
Jamie lắc đầu ngăn tôi lại.
“Anh cho là có thể, nhưng dường như thời gian chờ đợi để trả thù hơi dài. Và tại sao lại là anh, để làm gì?” Anh nói thêm. “Chính em mới khiến hắn bực tức kia mà, Sassenach. Tại sao hắn không giết em, nếu đó là điều hắn định làm?”
Cảm giác phát ốm trở nên tồi tệ hơn.
“Anh có cần phải suy nghĩ logic đến thế không?” Tôi nói.
Anh nhìn vẻ mặt tôi và đột nhiên bật cười, vòng một tay ôm lấy tôi an ủi.
“Không, mo duinne. Gã Bá tước này có tính tình nóng vội, nhưng anh không cho là hắn sẽ liều gặp rắc rối và trả giá đắt cho việc giết ai trong hai chúng ta, chỉ để trả thù. Nếu việc đó có thể kiếm về cho hắn con thuyền thì còn có thể,” anh nói thêm, “nhưng vì thế, anh hy vọng hắn chỉ nghĩ đến cái giá để thuê ba tên ám sát đã xôi hỏng bỏng không.”
Anh vỗ nhẹ lên vai tôi và đứng dậy.
“Không, dù sao anh mong đó chỉ là một vụ cướp của. Đừng tự làm khổ mình vì chuyện này. Từ bây giờ anh sẽ mang Murtagh đi cùng anh tới bến tàu, để cho an toàn.”
Anh vươn người, phẩy đi mảnh bùn bẩn cuối cùng trên váy. “Xuống ăn tối chứ?” Anh hỏi, nhìn xuống ngực mình với vẻ khó chịu. “Lúc này chắc nó đã sẵn sàng rồi.”
“Cái gì sẵn sàng cơ?”
Anh mở cửa, một mùi cay cay, béo ngậy từ phòng ăn dưới nhà lập tức xộc vào phòng.
“Dĩ nhiên là món xúc xích,” anh nói, ngoái lại, cười toe toét. “Em không nghĩ anh sẽ lãng phí nó chứ?”
[1] Tiếng Pháp: Bạn thân của tôi.
[2] Hộp đồ chơi trẻ con có lò xo, khi mở nắp ra thì hình nộm sẽ bật lên.
[3] Tiếng Pháp: Nhanh! Nhanh lên!
[4] Tiếng Pháp: Tới miệng.
[5] Tiếng Pháp: bác sĩ phẫu thuật.
[6] Giống một trò chơi dân gian của Nhật Bản có tên gọi là kendama. Cây ken có ba chén lõm (big cup, small cup và base cup) và một đầu nhọn (spike) để khớp vào lô được khoan đúng giữa tâm của quả tama. Người chơi kendama phải sử dụng đầu gối nhún lên xuống để kéo quả bóng thẳng đứng lên, sau đó có thể dễ dàng đón quả bóng vào một trong các chén lõm hoặc vào đầu nhọn.