Nghĩa địa của nhà thờ St. Kilda nằm yên ả dưới ánh nắng, không bằng phẳng lắm vì thực ra nó là một khu đất cao được hình thành ở mặt bên của ngọn đồi bởi một biến động địa chất. Khu đất dốc và cong, cho nên các tấm bia mộ nằm ẩn trong những hõm nhỏ hoặc bất chợt nhô ra từ một cái gò cao. Sự thay đổi của bề mặt trái đất đã làm xê dịch nhiều tấm bia, khiến chúng nghiêng ngả như say rượu hoặc đổ chụm vào nhau, nằm kềnh và vỡ vụn trong đám cỏ cao.
“Nó có hơi lộn xộn,” Roger nói vẻ ái ngại. Họ dừng lại ở cổng nghĩa địa, nhìn lướt qua những tấm bia đá cổ xưa nằm dưới bóng những hàng cây thủy tùng khổng lồ được trồng từ xa xưa như một tấm màn chắn gió ngăn cản những cơn bão tràn vào từ vùng biển phương Bắc. Lúc này, từ cửa sông phía đằng xa, mây đang dồn tụ lại, nhưng mặt trời chiếu sáng trên đỉnh đồi, không khí vẫn yên tĩnh và ấm áp.
“Mỗi năm một, hai lần, cha tôi lại tập hợp một nhóm đàn ông từ nhà thờ rồi đưa bọn họ lên đây để dọn dẹp chỗ này cho ngay ngắn, trật tự, nhưng tôi e là gần đây, nơi này bắt đầu trở nên tiêu điều rồi.” Anh thử đung đưa cánh cửa cũ kỹ, chú ý đến cái bản lề gãy và then cửa lủng lẳng treo bằng một con ốc.
“Một chốn yên bình đáng yêu.” Brianna cẩn thận lách người qua cánh cổng vỡ nát. “Thật là cũ kỹ nhỉ?”
“Ừ. Cha tôi nghĩ ngôi nhà thờ này được xây trên nền của một nhà thờ Thiên Chúa giáo hoặc một ngôi đền cổ xưa hơn; đó là lý do vì sao nó lại ở trên một vị trí bất tiện thế này. Một người bạn của ông đến từ Oxford thường dọa sẽ lên đây và đào xới nơi này để xem có gì ở bên dưới, nhưng dĩ nhiên ông ta không thể lấy được giấy phép từ giáo hội, cho dù nơi này đã được hoàn tục nhiều năm rồi.”
“Leo lên đây thật mệt.” Màu hồng trên mặt Brianna do gắng sức vận động bắt đầu nhạt dần khi cô dùng cuốn sách hướng dẫn để quạt mát hai gò má. “Nhưng nó thật xinh đẹp.” Cô ngắm nhìn mặt ngoài của nhà thờ với vẻ thán phục. Được xây dựng giữa thiên nhiên hoang sơ trên vách đá cheo leo, những khối đá và kiến trúc bằng gỗ của công trình này được ghép vừa khít với nhau bằng tay, các kẽ hở trét kín bằng than bùn và bùn đất, cho nên nó như tự mọc lên ở nơi này, là một phần tự nhiên của bề mặt vách đá. Bậu cửa và khung cửa sổ được chạm khắc các hoa văn cổ xưa, một số là những biểu tượng của Cơ Đốc giáo, số khác hiển nhiên còn cổ xưa hơn.
“Có phải bia mộ của Jonathan Randall ở đằng kia không?” Brianna vẫy tay chỉ về phía xa xa. “Mẹ tôi sẽ ngạc nhiên lắm đấy!”
“Ừm, tôi cũng mong thế. Có muốn đi xem không?” Anh hy vọng sự ngạc nhiên này là một niềm vui thích thật sự; khi anh thận trọng đề cập đến tấm bia đá ấy với Brianna trên điện thoại vào tối hôm trước, cô đã rất hăng hái muốn đi xem.
“Tôi biết Jonathan Randall,” cô nói với Roger. “Cha tôi luôn ngưỡng mộ cụ ấy; nói rằng cụ ấy là một trong số ít những người thú vị trên bảng phả hệ của gia đình tôi. Tôi đoán cụ ấy là một người lính tuyệt vời; cha tôi có rất nhiều món đồ và bằng tuyên dương mà cụ ấy đã giành được.”
“Thật sao?” Roger ngoái lại nhìn để tìm kiếm Claire. “Mẹ cô có cần giúp đỡ không?”
Brianna lắc đầu. “Không đâu. Bà vừa tìm thấy một loài cây bên đường mòn mà bà không thể cưỡng lại nổi. Bà sẽ lên đây trong vòng một phút nữa thôi.”
Nơi này thật yên tĩnh. Ngay cả những chú chim cũng ngừng hót khi đến giữa trưa, và những loài cây thường xanh bên rìa khu đất cũng đứng lặng như tờ, không có lấy một gợn gió làm khuấy động cành lá. Không có những vết sứt sẹo còn mới trên những ngôi mộ được chôn cất trong thời gian gần đây hay mấy bó hoa nhựa minh chứng cho nỗi buồn đau vẫn còn chưa nguôi ngoai, khu nghĩa địa này chỉ mang hơi thở yên bình của những người đã chết từ thời xa xưa. Rũ bỏ đi sự bất hòa, xung đột và nỗi muộn phiền, chỉ có thực tế về cuộc đời họ là còn mang tới niềm an ủi về sự hiện diện của một con người trên vùng cao nguyên cô độc trống trải này.
Hành trình của ba vị khách rất chậm rãi; họ đi lang thang vô định xuyên qua khu nghĩa địa cổ, Roger và Brianna dừng lại để đọc to những câu tưởng niệm nghe có vẻ hay ho được khắc trên các tấm bia mộ dãi dầu nắng gió, còn Claire thi thoảng lom khom cắt một dây nho dại hoặc nhổ rễ một cây hoa nhỏ.
Roger cúi xuống trước một tấm bia đá, nhoẻn miệng cười, ra hiệu cho Brianna đến đọc lời đề trên tấm bia.
“Hãy đến đọc, ngả mũ chào,” cô đọc lớn. “Vì đây là nơi an nghỉ của Bailie William Watson/ Con người nổi tiếng vì những suy tưởng/ Và sự tiết chế khi chè chén.” Brianna đứng lên sau khi nghiên cứu tấm bia đá, gương mặt đỏ bừng vì cười. “Không có ngày tháng. Tôi thắc mắc không biết William Watson sống vào thời kỳ nào.”
“Có vẻ là thế kỷ mười tám,” Roger nói. “Những tấm bia của thế kỷ mười bảy gần như đã bị bào mòn đến nỗi không thể đọc nổi, và không có ai được an táng ở đây trong vòng hai trăm năm qua; nhà thờ này được hoàn tục vào năm 1800.”
Một lúc sau, Brianna buông một tiếng reo vui nghẹn ngào. “Nó đây rồi!” Cô đứng thẳng dậy, vẫy gọi Claire, bà đang đứng ở tít phía bên kia nghĩa địa, tò mò ngắm nghía độ dài của một cây cỏ cầm trong tay. “Mẹ! Đến đây xem này!”
Claire vẫy tay đáp lại, rồi cẩn thận bước đi giữa đám mộ, tới chỗ hai người đang đứng bên cạnh một tấm bia đá hình vuông bằng phẳng.
“Cái gì thế?” Bà hỏi. “Tìm được một ngôi mộ thú vị à?”
“Cháu nghĩ vậy. Cô nhận ra cái tên này không?” Roger bước lui lại để bà nhìn cho rõ.
“Jesus H. Roosevelt Christ!” Roger liếc nhìn Claire và hơi giật mình khi thấy vẻ tái xanh trên gương mặt bà. Claire nhìn chằm chằm tấm bia đá đã bị bào mòn vì thời tiết, khó nhọc nuốt khan. Cái cây trong tay bà bị vò nát và lãng quên hoàn toàn.
“Bác sĩ Randall - cô Claire - cô ổn chứ?”
Đôi mắt màu hổ phách tối sầm lại, bà có vẻ không nghe thấy anh gọi. Thế rồi, một lát sau, bà chớp mắt, ngước lên nhìn. Bà vẫn tái nhợt, nhưng dường như đã đỡ hơn; lúc này bà đã kiểm soát được mình.
“Cô khỏe,” bà nói, giọng nhàn nhạt. Bà khom người, các ngón tay lướt trên những con chữ của tấm bia như thể đang đọc chúng bằng chữ Braille[1].
“Jonathan Wolverton Randall,” bà khẽ đọc, “1705-1746. Tao đã bảo mày rồi mà, đúng không? Đồ khốn nạn, tao đã bảo mày mà!” Giọng bà ban đầu nhàn nhạt rồi đột nhiên rung lên, chứa đựng sự cuồng nộ bị kìm nén.
“Mẹ! Mẹ ổn chứ?” Brianna, rõ ràng rất khổ sở, kéo cánh tay mẹ cô.
Roger nghĩ hình như có một màn bóng tối buông xuống phía sau đôi mắt Claire, cảm xúc bừng bừng trong mắt bà đột nhiên bị che lấp khi bà giật mình nhận ra hai người đang kinh ngạc chăm chú nhìn mình. Bà mỉm cười, một thoáng đau đớn hiện ra trên nét mặt, và gật đầu với họ.
“Phải, tất nhiên rồi, mẹ ổn cả.” Bà xòe bàn tay ra, thân cây cỏ mềm rũ kia rơi xuống đất.
“Con đã nghĩ là mẹ sẽ ngạc nhiên.” Brianna lo lắng nhìn mẹ mình. “Đây không phải là tổ tiên của bố sao? Một người lính hy sinh trong trận Culloden?”
Claire liếc nhìn xuống tấm bia mộ bên chân bà.
“Đúng thế,” bà nói. “Và hắn chết rồi, đúng không?”
Roger và Brianna nhìn nhau. Cảm thấy có trách nhiệm, Roger chạm vào bờ vai Claire.
“Hôm nay trời khá nóng,” anh nói, cố gắng tỏ ra thản nhiên. “Có lẽ chúng ta nên vào trong nhà thờ cho mát. Trên bình đựng nước thánh có vài hình chạm khắc rất thú vị; rất đáng xem.”
Claire mỉm cười với anh. Lần này là một nụ cười thật sự, hơi mệt mỏi, nhưng rõ ràng là hoàn toàn tỉnh táo.
“Các con đi đi,” bà nói, hơi nghiêng đầu ý nói với cả Brianna. “Ta cần một chút không khí thoáng đãng. Ta sẽ ở ngoài này một lát.”
“Con sẽ ở lại cùng mẹ.” Brianna băn khoăn, rõ ràng không muốn để mặc mẹ cô một mình, nhưng Claire đã khôi phục lại cả sự trầm tĩnh lẫn khí thế ra lệnh.
“Vớ vẩn,” bà mạnh mẽ nói. “Mẹ hoàn toàn không sao cả. Mẹ sẽ vào ngồi dưới bóng cây đằng kia. Con đi đi! Mẹ muốn được ở riêng một lát,” bà bổ sung thêm với giọng kiên quyết khi thấy Roger mở miệng định phản đối.
Không nói gì thêm nữa, bà quay người bước đi, hướng về phía hàng cây thủy tùng râm mát nằm ven rìa phía tây của nghĩa địa. Brianna do dự, nhìn theo bà, nhưng Roger đã nắm lấy khuỷu tay cô gái, kéo cô về phía nhà thờ.
“Tốt nhất là để bà một mình,” anh thì thầm, “Dù thế nào mẹ cô cũng là bác sĩ, đúng không? Bà sẽ biết khi mọi thứ đều ổn cả.”
“Vâng… tôi cũng cho là thế.” Lo lắng liếc mắt lần cuối về phía bóng dáng đang xa dần của Claire, Brianna để Roger dẫn mình đi.
•••
Ngôi nhà thờ này không hơn gì một căn phòng sàn gỗ trống trơn, chỉ còn lại bình đựng nước thánh vì không thể dỡ bỏ mang đi được. Cái bồn nông đã bị hất khỏi bệ đá - thứ giờ đang nằm sát bức tường căn phòng. Bên trên cái bồn, khuôn mặt được chạm khắc của Thánh Kilda đăm đăm nhìn lên trần nhà, đôi mắt hướng lên sùng kính.
“Có lẽ ban đầu đó là một trong những vị thánh ngoại giáo,” Roger nói, ngón tay men theo đường nét chạm khắc. “Cô có thể thấy chỗ họ thêm vào mạng che mặt và khăn trùm đầu cho bức tượng nguyên bản - chưa nói tới đôi mắt.”
“Giống mấy quả trứng chần,” Brianna tán đồng, trợn trừng mắt lên để bắt chước. “Hình chạm này là gì đây? Trông giống như những họa tiết trên các tảng đá Pictish bên ngoài Clava ấy.”
Họ thơ thẩn đi một vòng quanh các bức tường của nhà thờ, hít thở bầu không khí bụi bặm, xem xét các bức chạm khắc cổ xưa trên tường đá, và đọc những bản khắc gỗ nhỏ mà những giáo dân đã mất từ lâu dành để tưởng nhớ những vị tổ tiên đã khuất núi còn lâu hơn nữa. Họ khe khẽ trò chuyện, vẫn lắng tai để ý bất cứ âm thanh nào vọng đến từ khu nghĩa địa nhà thờ, nhưng tất cả đều yên tĩnh, dần dần họ bắt đầu thả lỏng.
Roger theo Brianna hướng về phía mặt tiền của căn phòng, ngắm những lọn tóc loăn xoăn thoát ra khỏi bím tóc và dính vào cổ cô.
Tất cả những gì còn sót lại ở mặt tiền của nhà thờ là một cái gờ bằng gỗ trơn bên trên cái hồ nơi ban thờ bằng đá đã bị dời đi. Thế nhưng Roger vẫn thấy run rẩy nơi sống lưng khi anh đứng bên Brianna, đối diện với bệ thờ đã biến mất ấy.
Những cảm xúc mãnh liệt đang được khơi dậy trong anh dường như vang vọng giữa không gian trống vắng này. Anh hy vọng cô không nghe thấy được. Suy cho cùng, họ mới biết nhau vẻn vẹn có một tuần, cũng chưa có bất cứ cuộc trò chuyện riêng tư nào. Chắc chắn cô sẽ rụt lại, hoặc hoảng sợ, nếu cô biết anh đang cảm thấy gì. Hoặc tệ hơn nữa, cô sẽ cười nhạo anh.
Nhưng khi anh lén liếc nhìn cô, gương mặt cô thật điềm tĩnh và nghiêm túc. Gương mặt ấy cũng đang nhìn lại anh, biểu cảm trong đôi mắt màu xanh lam sẫm khiến anh quay hẳn về phía cô và vươn người tới mà không mảy may suy nghĩ.
Nụ hôn nhẹ nhàng thoáng qua y như nụ hôn nghi thức để kết thúc hôn lễ, nhưng lại có tác động mạnh như thể giờ phút này họ đã hứa hôn.
Roger đã thu tay về, nhưng hơi ấm của cô vẫn còn vương vấn trên tay, trên môi và cả thân thể anh nên anh có cảm giác mình vẫn đang ôm cô. Họ đứng đờ đẫn, ngây dại mất một lúc, hít thở bầu không khí của nhau, và rồi cô bước lùi lại. Anh vẫn có thể cảm thấy sự tiếp xúc với cô nơi lòng bàn tay mình. Nắm chặt các ngón tay, anh cố gắng giữ lấy cảm giác đó.
Bầu không khí tĩnh lặng của nhà thờ đột nhiên bị vỡ tan tành, những tiếng gào thét vọng lại khuấy tung những hạt bụi. Không kịp suy nghĩ gì, Roger lao như bay ra ngoài, suýt vấp ngã rồi trèo qua những tảng đá ngổn ngang, hướng về phía hàng cây thủy tùng tối sẫm. Anh đẩy những cành cây to vươn ra chắn ngang đường, không buồn giữ lại những cành cây nhỏ để mở đường cho Brianna đang theo sát gót anh.
Anh trông thấy mặt Claire Randall tái nhợt trong bóng râm của hàng cây. Trông bà như một hồn ma dưới cái bóng tối tăm của những cành thủy tùng. Bà đứng đó một lúc, toàn thân lắc lư và rồi quỵ xuống trên thảm cỏ, như thể đôi chân không còn chống đỡ được cơ thể.
“Mẹ!” Brianna quỳ xuống bên cạnh hình hài suy sụp ấy, chà xát bàn tay mềm oặt, thiếu sức sống của bà. “Mẹ, chuyện gì thế? Mẹ chóng mặt à? Mẹ nên gục đầu vào giữa hai đầu gối. Đây, sao mẹ không nằm xuống nhỉ?”
Claire kháng cự lại những lời thúc giục thiện ý của con gái, cố ngẩng đầu lên lần nữa.
“Mẹ không muốn nằm xuống,” bà thở gấp. “Mẹ muốn… Ôi, Chúa ơi. Ôi, Chúa linh thiêng của con.” Quỳ gối trên đám cỏ chưa cắt, bà vươn bàn tay run rẩy sờ lên mặt tấm bia đá. Nó là một phiến đá hoa cương đơn giản được khắc chữ.
“Bác sĩ Randall! À, cô Claire?” Roger cũng quỳ một chân xuống bên cạnh bà, một tay đỡ cánh tay kia của bà. Anh thật sự hoảng sợ trước bộ dạng của Claire lúc này. Một giọt mồ hôi lăn xuống bên thái dương bà, trông bà như có thể ngất đi bất cứ lúc nào. “Cô Claire,” anh lại hối gọi lần nữa, cố đánh động để bà tỉnh táo lại. “Chuyện gì thế? Cô biết người này sao?” Ngay khi thốt ra câu ấy, những lời do chính anh nói lúc nãy lại vang lên bên tai anh. Không có ai được chôn cất ở đây kể từ thế kỷ mười tám, anh đã nói với Brianna như thế. Không có ai được an táng ở đây trong vòng hai trăm năm qua.
Claire khẽ đẩy tay anh ra, chạm vào tấm bia đá, động tác mơn trớn âu yếm như đang chạm vào da thịt người nào, những ngón tay bà khẽ lần theo những chữ cái được khắc trên đó, đường rãnh khắc đã bị bào mòn nhưng vẫn còn rõ nét.
“JAMES ALEXANDER MALCOLM MACKENZIE FRASER,” bà đọc to. “Phải, ta biết ông ấy.” Bàn tay bà hạ xuống thấp hơn, quét qua đám cỏ mọc dày trước tấm bia đá, che khuất dòng chữ nhỏ hơn ở chân bia.
“Người chồng yêu dấu của Claire,” bà đọc tiếp.
“Phải, ta biết ông ấy,” bà lại nói, khẽ đến mức Roger khó khăn lắm mới nghe được. “Ta là Claire. Ông ấy là chồng của ta.” Rồi bà ngước lên, nhìn thẳng vào mặt con gái - khuôn mặt trắng bệch và choáng váng đang nhìn lại bà. “Và là cha của con,” bà nói.
Roger và Brianna chằm chằm nhìn bà, khu nghĩa địa im ắng, ngoại trừ tiếng xào xạc của hàng cây thủy tùng phía trên đầu.
•••
“Không!” Tôi nói, hơi cáu kỉnh. “Lần thứ năm nhé - không! Ta không muốn uống nước. Ta không bị say nắng. Ta không chóng mặt. Ta không ốm. Và ta cũng không mất trí, dù ta biết hai đứa đang nghĩ gì.”
Roger và Brianna liếc nhìn nhau với ánh mắt cho thấy đó rõ ràng là điều chúng đang nghĩ. Chúng đã đi kèm hai bên tôi để đưa tôi ra khỏi khu nghĩa địa của nhà thờ và vào trong xe ô tô. Tôi cự tuyệt tới bệnh viện, vậy nên chúng tôi đã quay về nhà mục sư. Roger đã cho tôi một ly whisky để xoa dịu cơn sốc nhưng ánh mắt lại phóng về phía chiếc điện thoại bàn như thể đang băn khoăn có nên quay số xin trợ giúp không - kiểu như một chiếc áo bó cho người điên chẳng hạn.
“Mẹ.” Brianna dịu dàng nói, đưa tay vén tóc tôi ra sau tai. “Mẹ đang bị rối loạn tinh thần.”
“Dĩ nhiên rồi, mẹ đang bị rối loạn tinh thần!” Tôi xẵng giọng, run rẩy hít một hơi thật dài, mím chặt môi cho tới khi tin chắc mình có thể nói chuyện một cách điềm tĩnh.
“Mẹ đang bối rối,” tôi bắt đầu nói, “nhưng mẹ không điên.” Tôi dừng lại, cố gắng kiểm soát cảm xúc. Đây không phải là cách mà tôi đã dự định. Tôi không biết mình đã dự định như thế nào, nhưng không phải là buột miệng nói ra sự thật mà không hề chuẩn bị hay có thời gian sắp xếp suy nghĩ của mình như thế này. Nhìn thấy ngôi mộ chết tiệt đó đã phá vỡ bất cứ kế hoạch nào mà tôi có thể hình dung.
“Đồ trời đánh, Jamie Fraser!” Tôi giận dữ mắng. “Anh đang làm cái quái gì ở đây, cách Culloden hàng dặm thế này!”
Mắt Brianna như muốn rớt ra ngoài, còn tay Roger thì đang lơ lửng gần chiếc điện thoại. Tôi dừng lại ngay tắp lự và cố gắng kiềm chế bản thân.
Bình tĩnh nào, Beauchamp, tôi ra lệnh cho mình. Thở sâu. Một… hai… một lần nữa. Tốt hơn rồi. Bây giờ. Vô cùng đơn giản; tất cả những gì mày phải làm là kể cho chúng sự thật. Rằng mày đến Scotland là vì cái gì, được chứ?
Tôi mở miệng, nhưng không có âm thanh nào phát ra. Tôi lại ngậm miệng, nhắm mắt, hy vọng rằng thần trí tôi sẽ tỉnh táo lại nếu tôi không trông thấy hai khuôn mặt tái mét ở trước mặt mình. Hãy… để… tôi… nói rõ… sự thật, tôi cầu nguyện, không biết mình đang nói với ai nữa. Là Jamie, tôi nghĩ thế.
Trước đây, tôi đã từng kể sự thật này một lần. Nhưng sự việc khi đó không mấy tốt đẹp.
Tôi khép mí mắt chặt hơn. Một lần nữa, tôi có thể ngửi thấy mùi thuốc khử trùng của bệnh viện, cảm thấy cái vỏ gối xa lạ được hồ cứng đặt bên dưới má mình. Từ hành lang bên ngoài, giọng Frank vọng vào, nghẹn ngào bởi cơn thịnh nộ bị kìm nén.
“Ý ông là gì cơ, không ép cô ấy? Không ép cô ấy ư? Vợ tôi biến mất gần ba năm trời, và rồi quay trở lại trong tình trạng bẩn thỉu, nhếch nhác, bị lạm dụng và có thai, vì Chúa, thế mà tôi không được hỏi han gì cả ư?”
Tiếng bác sĩ rì rầm xoa dịu. Tôi nghe được lõm bõm vài từ “ảo giác” và “sang chấn tâm lý”, rồi “chuyện đó để sau, ông bạn - chỉ một lát thôi”, là giọng của Frank, vẫn đang tranh cãi và cắt ngang, nhẹ nhàng nhưng kiên quyết làm âm thanh ồn ào ngoài hành lang chìm xuống. Giọng nói quá đỗi quen thuộc ấy một lần nữa làm dấy lên cơn bão đau thương, phẫn nộ và kinh hãi trong tôi.
Tôi cuộn người như một quả bóng trong tư thế phòng bị, siết chặt chiếc gối vào lồng ngực và cắn nó mạnh đến mức vỏ gối bằng cotton rách ra và những chiếc lông vũ mềm mại như lụa bị nghiến nát giữa hai hàm răng mình.
Lúc này tôi cũng đang nghiến chặt hai hàm răng, làm hỏng một mối hàn răng mới. Tôi dừng lại, mở choàng mắt.
“Nghe này,” tôi nói, tỏ ra lý trí hết mức. “Ta lấy làm tiếc, ta biết nó nghe kỳ quái đến mức nào. Nhưng đó là sự thật và ta không thể làm khác được.”
Mấy câu nói ấy chẳng trấn an được Brianna, con bé nép sát Roger hơn. Bản thân Roger cũng đã mất đi vẻ điềm tĩnh, mặc dù cậu ta vẫn đang bày ra những dấu hiệu cho thấy một sự hứng thú thận trọng. Liệu cậu ta có thật sự đủ trí tưởng tượng để lĩnh hội được sự thật này?
Tôi nhen nhóm hy vọng từ biểu cảm của cậu ta và thả lỏng hai nắm tay siết chặt.
“Đó là do mấy tảng đá chết tiệt,” tôi nói. “Cháu biết cái vòng tròn đá trên ngọn đồi tiên ở phía tây chứ?”
“Craigh na Dun,” Roger thì thầm. “Là nó ư?”
“Đúng thế.” Tôi thở ra một hơi. “Có lẽ cháu biết các truyền thuyết về những ngọn đồi tiên, đúng không? Về những người bị mắc kẹt trên những ngọn đồi lổn nhổn đá và tỉnh dậy vào hai trăm năm sau?”
Brianna lúc này trông còn hoảng hốt hơn.
“Mẹ, con thực sự nghĩ là mẹ nên lên gác và nằm xuống nghỉ ngơi,” con bé nói, nhổm dậy khỏi ghế. “Con có thể đi gọi Fiona…”
Roger đặt bàn tay lên cánh tay Brianna để ngăn con bé lại.
“Không, đợi đã,” cậu ta nói, rồi nhìn tôi với cái kiểu tò mò bị kìm nén mà một nhà khoa học bộc lộ khi đặt một mẫu vật dưới kính hiển vi. “Cô nói tiếp đi,” cậu ta nói với tôi.
“Cảm ơn,” tôi lạnh nhạt đáp. “Đừng lo, ta sẽ không dài dòng về thần tiên đâu; ta chỉ nghĩ các con sẽ muốn biết rằng những truyền thuyết này đều có một cơ sở nào đó. Ta không biết chuyện gì đã thực sự xảy ra ở đó, hay làm thế nào mà nó xảy ra, nhưng quả thực…” Tôi hít vào một hơi thật sâu. “Ừm, quả thực là ta đã đi xuyên qua một tảng đá nứt quỷ quái trong cái vòng tròn đó vào năm 1945, và kết thúc bằng việc xuất hiện ở sườn đồi bên dưới vào năm 1743.”
Tôi đã nói y như thế với Frank. Anh đã trừng trừng nhìn tôi một lúc lâu, rồi nhấc cái bình hoa ở chiếc bàn đầu giường của tôi và đập nó xuống sàn nhà.
Roger thì giống như một nhà khoa học đắc thắng khi tìm được một con vi khuẩn mói. Tôi thắc mắc tại sao, nhưng lại quá mải mê trong cuộc vật lộn tìm kiếm từ ngữ diễn đạt cho có vẻ đúng mực.
•••
“Người đầu tiên ta chạm mặt là một kỵ binh người Anh trang bị đầy đủ, chỉnh tề,” tôi kể. “Điều đó khiến ta lờ mờ nhận ra rằng có điều gì đó không ổn.”
Một nụ cười đột ngột thắp sáng khuôn mặt Roger, dù Brianna vẫn có vẻ kinh hãi. “Cháu nghĩ điều đó có thể xảy ra lắm,” cậu ta nói.
“Cái khó là ta không thể quay trở về được.” Tôi nghĩ mình nên tập trung kể cho Roger nghe, ít nhất cậu ta còn có vẻ tình nguyện lắng nghe, cho dù không biết cậu ta có tin tôi hay không.
“Vấn đề là hồi đó các quý cô không đi đến một nơi như thế khi không có người tháp tùng, và nếu có thì họ cũng không mặc váy in hoa và đi giày lười Oxford,” tôi giải thích. “Tất cả những người ta gặp, bắt đầu là gã đại úy kỵ binh kia, đều biết rằng ta có gì đó không bình thường - nhưng họ không biết chính xác đó là gì. Làm sao họ biết được chứ? Khi đó ta cũng không thể giải thích gì nhiều hơn bây giờ - nhà thương điên hồi đó kém thoải mái hơn bây giờ rất nhiều. Không có chuyện đan giỏ đâu[2],” tôi nói thêm, cố gắng gây cười một chút. Rõ ràng nỗ lực đó không thành công; Brianna cau có và trông lo lắng hơn bao giờ hết.
“Gã kỵ binh đó,” tôi nói, thoáng rùng mình khi hồi tưởng về Jonathan Wolverton Randall, Đại úy Đội Kỵ binh số tám của Hoàng Đế. “Ban đầu, ta nghĩ mình đang bị ảo giác, bởi vì người đàn ông đó rất giống Frank; thoạt nhìn, ta cứ tưởng hắn chính là ông ấy.” Tôi liếc nhìn cái bàn nơi có một cuốn sách của Frank để trên đó, bức ảnh ở bìa sau là một người đàn ông ngăm đen có khuôn mặt nhìn nghiêng điển trai.
“Thật là một sự trùng hợp ngẫu nhiên,” Roger nói. Ánh mắt cảnh giác gắn chặt vào tôi.
“Cái đó là ngẫu nhiên, nhưng cũng không phải ngẫu nhiên,” tôi nói, cố gắng dời mắt khỏi chồng sách kia. “Hắn chính là tổ tiên của Frank. Tất cả đàn ông trong gia tộc đó đều rất giống nhau - ít nhất là về ngoại hình,” tôi bổ sung thêm, nghĩ đến những điểm khác nhau rõ rệt mà không thuộc về thể chất.
“Cụ… cụ ấy thế nào?” Brianna dường như đang thoát ra khỏi trạng thái ngẩn ngơ, dù mới chỉ một chút.
“Hắn là một kẻ đồi bại bẩn thỉu chết tiệt,” tôi nói. Hai cặp mắt mở to và quay sang nhìn nhau với ánh mắt khiếp đảm.
“Hai đứa không cần bày ra vẻ mặt đó,” tôi nói. “Bọn họ sống sa đọa trong thế kỷ mười tám; chẳng có gì mới mẻ cả, các con biết đấy. Nó chỉ có tồi tệ hơn mà thôi, có lẽ vì không có người nào thực sự để tâm, miễn là mọi sự được giữ im lặng và vẻ bên ngoài vẫn đứng đắn, lịch sự. Và Jack Randall Hắc Ám theo binh nghiệp; hắn là đại úy của một đơn vị đồn trú trên vùng cao nguyên Scotland, có trách nhiệm kiểm soát các thị tộc ở đây - hắn có phạm vi quyền hạn khá lớn, tất cả đều được phê chuẩn chính thức.” Tôi uống một hớp rượu từ cốc whisky vẫn cầm trên tay để nâng đỡ tinh thần.
“Hắn thích làm người ta đau đớn,” tôi nói. “Hắn rất thích điều đó.”
“Ông ta… có làm hại cô không?” Roger đặt câu hỏi một cách uyển chuyển, sau một khoảng ngập ngừng thấy rõ. Bree dường như đang căng thẳng hết sức, làn da siết căng trên hai gò má con bé.
“Không phải một cách trực tiếp. Hay ít nhất là không nhiều lắm.” Tôi lắc đầu. Tôi có thể cảm thấy một chỗ lạnh lẽo trên vùng lõm thượng vị, nơi rượu whisky đang tan ra từng chút một. Jack Randall đã từng đấm vào chỗ đó, một lần. Tôi nhớ rõ cảm giác ấy, giống như cơn đau của một vết thương lâu lành.
“Hắn có khẩu vị khá đa dạng. Nhưng chính Jamie mới là người hắn… muốn.” Tôi sẽ không đời nào dùng từ “yêu”. Cổ họng tôi nghẹn lại, và tôi nuốt xuống những giọt whisky cuối cùng. Roger nhấc cái bình cổ cao, một bên mày nhướng lên dò hỏi, và tôi gật đầu, đưa cốc của mình ra.
“Jamie. Đó là Jamie Fraser ư? Và ông ấy là…”
“Ông ấy là chồng cô,” tôi nói.
Brianna lắc đầu y như một chú ngựa đang xua đuổi những con ruồi quấy nhiễu.
“Nhưng mẹ đã có một người chồng rồi mà,” con bé nói. “Mẹ không thể… thậm chí nếu… ý con là… mẹ không thể.”
“Mẹ phải làm thế,” tôi đều đều nói. “Cho dù mẹ không chủ định lấy người ấy.”
“Mẹ, mẹ không thể nào ngẫu nhiên kết hôn được!” Brianna đang đánh mất thái độ của một y tá tốt bụng đối với một bệnh nhân tâm thần. Tôi nghĩ đây có lẽ là một chuyện tốt, cho dù con bé đang giận dữ.
“À, nó không hẳn là một sự ngẫu nhiên,” tôi nói. “Đó là lựa chọn tốt nhất để thoát khỏi bàn tay của Jack Randall. Jamie cưới mẹ để bảo vệ mẹ - ông ấy thật rộng lượng,” tôi nói nốt, đăm đăm nhìn Bree qua miệng cốc. “Ông ấy không cần phải làm điều đó, nhưng ông ấy vẫn làm.”
Tôi quay lại với ký ức về đêm tân hôn của chúng tôi. Anh là trai tân; đôi bàn tay run run khi chạm vào tôi. Tôi cũng sợ hãi nhưng với lý do chính đáng hơn thế. Và rồi bình minh đến, anh ôm tôi, vòm ngực trần áp vào tấm lưng lõa lồ, hai bắp đùi ấm áp và mạnh mẽ của anh áp sát hai bắp đùi tôi, anh thì thầm vào mái tóc mây của tôi: “Đừng sợ. Giờ chỉ có hai chúng ta thôi.”
“Đấy,” tôi lại quay sang Roger, “ta không thể quay lại. Ta đang chạy trốn Đại úy Randall thì những người Scot tìm thấy ta. Một nhóm săn trộm gia súc. Jamie cùng hội với họ, đó là những người bên thị tộc nhà mẹ ông ấy, nhà MacKenzie của lâu đài Leoch. Họ không biết ta từ đâu tới, nhưng vẫn bắt ta mang đi. Và ta không thể bỏ trốn được.”
Tôi nhớ lại những cố gắng bất thành của mình hòng trốn khỏi lâu đài Leoch. Và rồi cái ngày tôi kể với Jamie sự thật, anh không tin, cũng chẳng hơn gì Frank, nhưng ít nhất anh cũng sẵn lòng tỏ vẻ như anh thật sự tin vào điều tôi kể, và đưa tôi quay lại chỗ ngọn đồi có các cột đá.
“Ông ấy nghĩ ta là phù thủy, có lẽ thế,” tôi vừa nói vừa nhắm mắt lại, mỉm cười trước hồi ức ấy. “Giờ thì họ nghĩ con bị điên; còn ngày xưa họ sẽ nghĩ con là phù thủy. Tục lệ văn hóa mà,” tôi giải thích, rồi mở mắt ra. “Tâm lý học chỉ là thứ ngày nay họ gọi thay cho từ phép thuật. Chẳng khác gì nhau cả.” Roger gật đầu, có vẻ hơi sững sờ.
“Họ đã thử xem ta có phép phù thủy không,” tôi kể tiếp. “Trong ngôi làng Cranesmuir, ngay dưới chân lâu đài. Jamie đã cứu ta, và rồi ta đã kể cho ông ấy nghe mọi chuyện. Ông ấy đưa ta tới ngọn đồi, bảo ta quay về nhà. Quay trở lại với Frank.” Tôi ngừng lại, hít một hơi thật sâu, nhớ lại buổi trưa tháng Mười ấy, ở cái nơi đã tước đoạt rồi lại đột ngột dúi vào tay tôi quyền điều khiển số mệnh của mình, không phải cho tôi sự lựa chọn mà là ra lệnh.
“Quay về đi!” Anh nói. “Ở đây chẳng có gì cho em đâu! Chẳng có gì ngoài nguy hiểm.”
“Ở đây thực sự chẳng có gì dành cho em ư?” Tôi hỏi. Quá kinh hãi không thể nói gì hơn, anh không trả lời thêm nữa và tôi phải đưa ra sự lựa chọn của mình.
“Quá muộn rồi,” tôi nói, nhìn đăm đăm xuống hai bàn tay đang xòe ra trên đầu gối. Ngày hôm ấy, trời sầm tối và đổ mưa, nhưng hai chiếc nhẫn cưới của tôi vẫn lấp lóe dưới ánh sáng yếu ớt, một chiếc bằng vàng, một chiếc bằng bạc. Tôi đã không tháo chiếc nhẫn vàng của Frank khỏi bàn tay trái khi kết hôn với Jamie, mà mang chiếc nhẫn bạc của Jamie trên ngón áp út của bàn tay phải suốt hơn hai mươi năm kể từ khi anh đeo nó vào đó.
“Ta đã từng yêu Frank,” tôi khẽ nói, không nhìn Bree. “Ta đã từng yêu ông ấy rất nhiều. Nhưng đến khi đó, Jamie đã trở thành trái tim, thành hơi thở của ta. Ta không thể rời bỏ ông ấy. Ta không thể,” tôi đột ngột ngẩng đầu nhìn Bree bằng vẻ khẩn cầu. Con bé đang đăm đăm nhìn tôi, gương mặt như hóa đá.
Tôi lại nhìn xuống hai bàn tay mình và tiếp tục.
“Ông ấy đưa ta về nhà của ông ấy - Lallybroch, đó là tên gọi của nó. Một nơi đẹp đẽ.” Tôi lại nhắm mắt, để tránh phải nhìn gương mặt Brianna, và cẩn thận hồi tưởng lại miền đất Broch Tuarach - Lallybroch, cho tới những con người sống ở đó. Một trang trại xinh đẹp trên vùng cao nguyên Scotland, với rừng cây và những con suối; thậm chí cả một mảnh đất màu mỡ - điều rất hiếm có ở vùng cao. Một nơi yên bình, đáng yêu nằm giữa những ngọn đồi cao khiến cho nó trở nên tách biệt, cách xa những tranh chấp, xung đột tái diễn đều đặn gây rắc rối cho vùng cao nguyên này. Nhưng ngay cả Lallybroch cũng chỉ là một nơi ẩn náu tạm thời.
“Jamie là một người sống ngoài vòng pháp luật,” tôi nói, nhìn thấy sau mí mắt đóng chặt của mình hình ảnh những vết sẹo bị quất bằng roi mà người Anh để lại trên lưng anh. Một mạng lưới chằng chịt những đường thẳng mảnh màu trắng đan dệt vào nhau từ bả vai xuống giống như một cái vỉ sắt được nung nóng để đóng dấu. “Đầu ông ấy được treo giải. Một tá điền đã phản bội ông ấy và báo cho người Anh. Chúng đã đến bắt và đưa ông ấy tới ngục Wentworth để treo cổ.”
Roger khẽ huýt một tiếng sáo dài.
“Địa ngục trần gian,” cậu ta nhấn mạnh. “Cô có nhìn thấy nơi đó không? Những bức tường chắc phải dày đến ba mét!”
Tôi mở mắt. “Đúng thế,” tôi nói một cách châm biếm. “Ta đã ở bên trong những bức tường ấy. Nhưng ngay cả những bức tường dày nhất cũng đều có cửa.” Tôi cảm thấy một ánh chớp nhoáng lên của sự can đảm tuyệt vọng đã đưa tôi vào ngục Wentworth, nó vẫn đeo đuổi bám riết lấy tim tôi. Nếu em đã có thể làm điều đó vì anh, tôi lặng lẽ nói với Jamie, thì bây giờ em cũng có thể làm điều này. Nhưng xin hãy giúp em, gã Scot chết tiệt ạ - xin hãy giúp em!
“Ta đã đưa ông ấy ra,” tôi vừa nói vừa hít vào một hơi thật sâu. “Những gì còn lại của ông ấy. Jack Randall là người chỉ huy quân đồn trú ở Wentworth.” Lúc này, tôi không muốn nhớ lại những hình ảnh mà những lời nói của tôi đã khơi dậy ấy, nhưng chúng không dừng lại. Jamie, trần trụi và đầm đìa máu trên sàn nhà của trang viên Eldrigde, nơi chúng tôi tìm thấy chỗ trú ẩn.
“Anh sẽ không để chúng đưa anh trở lại đó lần nữa, Sassenach,” anh nói với tôi, hai hàm răng nghiến chặt vì đau đớn khi tôi cố định những chiếc xương bị gãy trên tay anh và rửa sạch các vết thương cho anh. “Sassenach.” Anh đã gọi tôi như thế ngay từ lần đầu tiên; trong tiếng Gaelic, nó có nghĩa là người ngoại tộc, một kẻ xa lạ. Một người Anh. Ban đầu là lời chế nhạo, rồi sau đó là cách gọi trìu mến yêu thương.
Và tôi đã không để bọn chúng tìm được anh, với sự trợ giúp của một người bà con trong thị tộc Fraser tên là Murtagh, tôi đã đưa anh qua eo biển Anh tới Pháp để ẩn náu ở tu viện Ste. Anne de Beaupré, nơi một trong những người bác bên họ nội của anh là Tu viện trưởng. Nhưng khi đã được an toàn, tôi lại nhận ra rằng cứu sống anh ấy không phải là kết cục cho nhiệm vụ của tôi.
Điều Jack Randall làm với Jamie đã in hằn vào linh hồn anh y như những vết roi quất lằn sâu trên lưng anh, và những vết sẹo ấy sẽ còn mãi. Thậm chí đến bây giờ, tôi cũng không dám chắc mình đã làm gì, khi tôi khơi dậy những khía cạnh độc ác trong con người anh và đơn thương độc mã chiến đấu với chúng giữa vùng tâm trí tăm tối của anh; lúc ấy y học và pháp thuật cũng chẳng khác nhau là mấy, điều đó phần nào cũng là một cách chữa lành tổn thương.
Tôi vẫn có thể cảm thấy tảng đá lạnh lẽo, cứng rắn đã khiến tôi bầm giập, và sức mạnh của cơn thịnh nộ mà tôi đã khơi dậy bên trong anh, đôi bàn tay khép chặt quanh cổ tôi và sinh vật bừng bừng giận dữ đã săn đuổi tôi trong đêm tối.
“Nhưng ta đã chữa lành cho ông ấy,” tôi khẽ nói. “Ông ấy đã trở về với ta.”
Brianna đang chầm chậm lắc đầu, dáng vẻ bối rối nhưng bướng bỉnh. “Người nhà Graham thì ngu ngốc, nhà Campbell thì dối trá, nhà MacKenzie thì quyến rũ nhưng ranh mãnh, láu cá, còn người nhà Fraser thì cứng đầu, bướng bỉnh,” Jamie đã từng nói với tôi như thế cho tôi cái nhìn tổng quan về tính cách của các thị tộc ở xứ sở này. Cũng không sai số quá nhiều; người nhà Fraser đúng là cực kỳ bướng bỉnh, không chỉ anh. Cả Bree nữa.
“Con không tin,” con bé thẳng thừng nói. Nó ngồi thẳng dậy, chăm chú nhìn tôi. “Con nghĩ có lẽ mẹ đã suy nghĩ quá nhiều về những người đàn ông ở Culloden,” nó nói. “Suy cho cùng, gần đây mẹ đang bị căng thẳng, có lẽ cái chết của bố…”
“Frank không phải là bố của con,” tôi nói thẳng.
“Ông ấy là bố của con!” Con bé lập tức phản bác, nhanh đến nỗi cả hai chúng tôi cùng sững sờ.
Lúc đó, Frank đã khuất phục trước sự kiên quyết của bác sĩ rằng bất cứ cố gắng nào hòng “ép buộc tôi chấp nhận sự thực”, như cách bọn họ làm, có thể gây hại cho cái thai của tôi. Ngoài hành lang có rất nhiều tiếng xì xầm - và đôi khi cả tiếng la hét - nhưng ông ấy không còn hỏi tôi sự thật nữa. Còn tôi, trong tình trạng sức khỏe suy nhược và trái tim đau khổ, cũng đã từ bỏ việc kể lại sự thật với ông ấy.
Nhưng lần này tôi sẽ không từ bỏ.
“Mẹ đã hứa với Frank,” tôi nói. “Hai mươi năm trước, khi con ra đời. Mẹ đã cố rời xa ông ấy, nhưng ông ấy không để mẹ đi. Ông ấy rất yêu con.” Tôi cảm thấy giọng mình dịu dàng hơn khi nhìn Brianna. “Ông ấy không thể tin vào sự thật ấy, nhưng ông ấy biết - lẽ tất nhiên - rằng mình không phải là cha của con. Ông ấy đã cầu xin mẹ đừng nói cho con biết, để ông ấy được là cha của con, chừng nào ông ấy còn sống. Còn sau đó, ông ấy nói, tất cả đều tùy thuộc vào mẹ.” Tôi nuốt khan, liếm đôi môi khô nứt.
“Mẹ nợ ông ấy điều đó,” tôi nói. “Bởi vì ông ấy đã yêu thương con. Nhưng giờ Frank đã chết và con có quyền được biết sự thật mình là ai.”
“Nếu con nghi ngờ, hãy tới Phòng tranh Chân dung Quốc gia. Họ có một bức họa của Ellen MacKenzie; mẹ của Jamie. Bà ấy cũng đeo cái này.” Tôi chạm vào chuỗi ngọc trai trên cổ mình. Đó là một chuỗi những viên ngọc trai hoa mỹ theo phong cách baroque trong veo như nước, được lấy từ những dòng sông của Scotland, xâu tròn lại bằng một sợi vàng. “Jamie đã tặng chúng cho mẹ vào ngày cưới.”
Tôi nhìn Brianna, con bé đang ngồi thẳng đơ, nét mặt đanh lại biểu lộ sự phản đối. “Hãy cầm theo một cái gương nhỏ,” tôi nói. “Hãy ngắm thật kĩ bức chân dung đó rồi nhìn vào trong gương. Không phải là y hệt, nhưng con rất giống bà nội của mình đấy.”
Roger chăm chú nhìn Brianna như thể trước đây chưa bao giờ trông thấy con bé. Cậu ta liếc qua liếc lại giữa hai chúng tôi, rồi như đã quyết định điều gì đó, cậu ta đột ngột vươn thẳng vai, đứng dậy khỏi chỗ ngồi bên cạnh con bé ở xô pha.
“Có vài thứ anh nghĩ em nên xem,” cậu ta nói thẳng, rồi nhanh chóng đi qua chiếc bàn có nắp cuộn của mục sư và lôi ra từ một hốc bàn mớ bài viết cắt từ báo đã ngả vàng được buộc bằng dây chun.
“Khi em đọc chúng, hãy xem kĩ ngày tháng,” cậu ta nói với Brianna, rồi đưa mớ báo cho con bé. Sau đó, vẫn đứng, cậu ta quay sang nhìn tôi với ánh mắt đăm chiêu, bình thản, mang đầy tính khách quan của một học giả. Cậu ta chưa tin tưởng, nhưng đã có sự băn khoăn, lưỡng lự.
“Một nghìn bảy trăm bốn mươi ba,” cậu ta nói, như thể tự nhủ với chính mình. Cậu ta lắc đầu, kinh ngạc tự hỏi. “Vậy mà cháu đã nghĩ đó là một người đàn ông mà cô gặp ở đây vào năm 1945. Chúa ơi, cháu chưa bao giờ nghĩ tới - chà, Chúa ơi, ai mà ngờ chứ?”
Tôi cũng ngạc nhiên. “Cháu đã biết? Về cha của Brianna?”
Cậu ta gật đầu ra hiệu về phía những bài báo trong tay Brianna. Con bé vẫn chưa xem chúng, mà chỉ chằm chằm nhìn Roger, nửa bối rối, nửa giận dữ. Tôi có thể thấy bão tố đang tụ lại trong đôi mắt con bé, và tôi nghĩ Roger cũng có thể nhận thấy điều đó. Cậu ta vội vàng dời ánh mắt đi, quay lại truy vấn tôi.
“Vậy những người đàn ông có tên trong danh sách mà cô đưa cho cháu, bọn họ đã tham gia chiến đấu ở Culloden - cô đều biết họ ư?”
Tôi thở phào nhẹ nhõm. “Phải, cô biết họ.” Có tiếng sấm rền ì ùng ở đằng đông, mưa rơi lộp bộp trên những ô cửa sổ trổ từ sàn phòng cho tới trần nhà ở một mặt tường phòng làm việc. Brianna cúi đầu trên đám bài báo, những lọn tóc xòa xuống hai bên che đi mọi biểu cảm trên mặt con bé, chỉ lộ ra chóp mũi đỏ ửng. Mũi Jamie cũng thường đỏ như thế khi anh giận dữ hay buồn bã. Tôi đã quá quen với hình ảnh một người nhà Fraser khi ở bên bờ một trận bùng nổ.
“Và cô đã ở Pháp.” Roger lại lầm bầm như tự nói với chính mình, vẫn cẩn thận quan sát tôi. Cơn sốc trên mặt cậu ta đang phai nhạt dần thành sự kinh ngạc và một biểu cảm kích động phấn khích. “Cháu không cho là cô cũng biết…”
“Có, cô biết,” tôi nói với cậu ta. “Đó là lý do bọn cô đến Paris. Cô đã kể cho Jamie về trận Culloden vào năm 45 và chuyện gì sẽ xảy ra. Bọn cô đến Paris để cố gắng ngăn cản Charles Stuart.”
[1] Hệ thống chữ nổi được người khiếm thị sử dụng.
[2] Vào cuối thế kỷ mười chín, có nhà thương điên ở New York cho bệnh nhân làm công việc đan giỏ.