Tôi có thể cảm thấy những người đàn ông đó đến sát gần, tất cả ở xung quanh tôi trong bóng tối. Có một người thổi kèn đi bên cạnh tôi; tôi nghe thấy cả tiếng kẽo kẹt của chiếc túi đeo dưới cánh tay anh ta và nhìn thấy đường nét của những cái kèn thò ra từ phía sau. Chúng cử động theo bước đi của anh ta, như thể anh ta đang mang một con vật nhỏ đang vật lộn yếu ớt.
Tôi biết anh ta tên là Labhriunn Maclan. Những người thổi kèn túi của các thị tộc thay nhau báo bình minh ở Stirling, dạo qua dạo lại trong khu cắm trại với sải chân nhịp nhàng của dân thổi kèn, để cho tiếng rền rĩ của những chiếc kèn túi bật lên từ những cái lều mỏng manh, gọi tất cả những người trong đó bước vào trận chiến của một ngày mới.
Một lần nữa, vào buổi tối, một người thổi kèn túi sẽ đi ra ngoài, chậm rãi dạo qua bãi đất và khu lều trại sẽ dừng lại để lắng nghe, những giọng nói lặng đi và ánh hoàng hôn rực rỡ nhạt dần trên những tấm bạt căng lều. Những nốt nhạc cao của điệu nhạc hùng tráng gọi bóng đêm xuống từ bãi hoang, và khi người thổi kèn đó kết thúc điệu nhạc, màn đêm đã đến.
Tối hay sáng, Labhriunn Maclan cũng chơi kèn, mắt nhắm tịt, bước đi chắc chắn và chậm rãi ngang qua bãi đất và quay trở lại, khuỷu tay siết chặt cái túi và các ngón tay linh động trên các lỗ kèn. Bất chấp lạnh giá, đôi khi tôi ngồi quan sát vào các buổi tối, để âm thanh đó xuyên qua trái tim mình. Maclan sải bước tới lui, phớt lờ mọi vật xung quanh, thực hiện lượt thổi kèn của anh ta trên sàn khiêu vũ của riêng mình, rót sự tồn tại của mình ra theo tiếng kèn.
Có những ống kèn nhỏ của người Ireland dùng trong nhà để chơi nhạc và những ống kèn phương Bắc vĩ đại, dùng ở ngoài trời để làm hiệu lệnh đánh thức buổi sáng, gọi các thị tộc tới nhận nhiệm vụ hay khích lệ đàn ông ra trận. Thứ mà Maclan đang thổi chính là những ống kèn phương Bắc, anh ta dạo bước tới lui với hai mắt nhắm nghiền.
Đứng dậy khỏi chỗ ngồi khi anh ta chơi xong điệu nhạc buổi tối, tôi đợi trong khi anh ta ép hết không khí ra khỏi cái túi bằng một điệu nhạc rền rĩ lặng dần, và nhào tới bên cạnh anh ta khi anh ta gật đầu với người lính gác, đi vào cổng Stirling.
“Chúc bà buổi tối tốt lành, thưa bà,” anh ta nói. Giọng nói của anh ta thật êm ái, và mắt anh ta, giờ đã mở, còn êm ái hơn bởi thứ bùa chú chưa được hóa giải từ điệu nhạc anh ta chơi vẫn còn vương vấn trên người.
“Chúc anh buổi tối tốt lành, Maclan,” tôi nói. “Maclan, tôi thắc mắc là tại sao anh lại chơi kèn mà hai mắt nhắm nghiền như thế?”
Anh ta cười và gãi đầu, nhưng sẵn sàng trả lời.
“Tôi cho là vì tổ phụ của tôi đã dạy tôi, thưa bà, ông bị mù. Tôi luôn thấy ông khi tôi thổi kèn, ông sải bước trên bờ biển với bộ râu tung bay trong gió và đôi mắt mù lòa của ông nhắm lại để tránh cát bay vào làm đau, ông nghe tiếng chim hót vẳng xuống từ trên các vách đá và từ đó biết được nơi mình đang dạo bước.”
“Vậy nên anh thấy ông, và anh cũng chơi kèn cho các vách đá và biển cả ư? Anh từ đâu đến, Maclan?” Tôi hỏi. Giọng anh ta trầm thấp và nhiều âm gió hơn hầu hết những người ở vùng cao nguyên.
“Từ vùng Shetlands, thưa bà,” anh ta đáp, phát âm từ cuối cùng gần như là “Zetlands”. “Rất xa nơi đây.” Anh ta lại mỉm cười và cúi chào tôi khi chúng tôi đi tới khu vực dành cho khách, nơi tôi sẽ phải rẽ. “Nhưng mà tôi nghĩ bà còn đến từ một nơi xa hơn thế thưa bà.”
“Đúng vậy đấy,” tôi nói. “Chúc ngủ ngon, Maclan!”
•••
Một tuần sau, tôi tự hỏi không biết kỹ năng chơi kèn mà không nhìn có giúp được anh ta trong đêm tối ở đây không. Một khối thân hình to lớn của những người đàn ông di chuyển sẽ tạo ra tiếng ồn, cho dù họ đi nhẹ nhàng thế nào chăng nữa, nhưng tôi nghĩ bất kỳ tiếng vang nào họ tạo ra đều sẽ bị nhấn chìm trong tiếng gió hú mạnh dần. Đêm không trăng nhưng bầu trời vẫn sáng, nhiều mây và mưa tuyết lạnh giá đang rơi, chích vào má tôi đau nhói.
Đội quân của những người đàn ông vùng cao phủ khắp mặt đất thành từng nhóm nhỏ mười hay hai mươi người, di chuyển trên những quãng đường mấp mô vá víu, như thể mặt đất bỗng đội lên những ngọn đồi nhỏ ở chỗ này hay chỗ kia, hay như thể những rừng thông rụng lá và tống quán sủi đang bước đi xuyên qua đêm tối. Tin tức của tôi không phải không hỗ trợ được gì; gián điệp của Ewan Cameron cũng đã báo cáo về sự di chuyển của Hawley, và đội quân của người Scotland bây giờ đang trên đường chạm mặt ông ta, ở đâu đó về phía nam của lâu đài Stirling.
Jamie đã thôi thúc giục tôi trở về. Tôi đã hứa là sẽ tránh xa nếu có một trận đánh diễn ra, dù gì thì các bác sĩ của đội quân cũng phải lui về phía sau. Tôi có thể biết khi nào anh chuyển sự chú ý sang những người đàn ông của mình và những khung cảnh phía trước bằng mỗi lần anh đột ngột nghểnh cổ lên. Anh ngồi trên lưng Donas, đủ cao để tôi nhìn rõ anh như một cái bóng đen, ngay cả khi trời tối, và khi anh vung tay lên, hai cái bóng nhỏ hơn liền tách ra khỏi đội ngũ đang di chuyển để đến bên cạnh bàn đạp ngựa của anh. Sau một lúc thì thào trao đổi, anh ngồi thẳng lên trên yên ngựa và quay sang tôi.
“Lính do thám nói chúng ta đã bị phát hiện; lính gác của Anh đã phi về tòa nhà Callendar để báo cho Tướng Hawley. Chúng ta sẽ không phải chờ đợi lâu hơn nữa đâu; anh sẽ mang người của mình vòng qua các trung đoàn của Dougal để đến phía bên kia đồi Falkirk. Bọn anh sẽ tràn xuống từ phía sau khi nhà MacKenzie đến từ phía tây. Có một nhà thờ nhỏ ở trên đồi phía bên tay trái của em, có lẽ cách khoảng một phần tư dặm. Đó là chỗ của em, Sassenach ạ! Hãy cưỡi ngựa đến đó ngay bây giờ và ở yên đó.” Anh mò tìm tay tôi trong bóng tối và siết chặt lấy.
“Anh sẽ đến tìm em khi nào có thể, hoặc cử Murtagh tới nếu anh không thể. Nếu mọi chuyện không ổn, hãy đi vào nhà thờ và yêu cầu được trú ẩn ở đó. Đó là điều tốt nhất anh có thể nghĩ đến.”
“Đừng lo cho em,” tôi nói. Môi tôi lạnh cóng và tôi hy vọng giọng mình nghe không run rẩy như tôi đang cảm thấy lúc này. Tôi kìm lại câu “Hãy cẩn thận” và chạm vào anh thật nhanh, bờ má anh lạnh giá, cứng như kim loại dưới tay tôi và lọn tóc lành lạnh, mềm mại y như một tấm da hươu.
Tôi ghìm cương sang trái, chầm chậm rẽ trong khi những người đàn ông vẫn tiếp tục tiến lên như dòng nước chảy quanh tôi. Con ngựa thiến bị kích động bởi sự náo động này; nó hất đầu, khịt mũi thở phì phò và bồn chồn bên dưới tôi. Tôi kéo cương thật mạnh như Jamie đã dạy và tiếp tục giữ chặt dây cương khi mặt đất đột nhiên dốc đứng bên dưới vó ngựa. Tôi liếc nhìn lại đằng sau một lần nữa, nhưng Jamie đã biến mất vào bóng đêm, và tôi phải tập trung cao độ để tìm kiếm ngôi nhà thờ trong bóng tối.
Nó là một tòa kiến trúc nhỏ bằng đá với một cái mái lợp rạ, núp mình trong một hõm đất nho nhỏ trên đồi, giống như một con thú đang thu mình lại. Tôi cảm thấy một sự đồng cảm mạnh mẽ với nó. Từ chỗ này có thể nhìn thấy rõ những đống lửa trại của người Anh, ánh lửa le lói đang xuyên qua cơn mưa tuyết, và tôi có thể nghe thấy tiếng quát thét đằng xa - quân Scot hay quân Anh, tôi không biết nữa.
Rồi tiếng kèn túi vang lên, một tiếng thét gào mong manh kỳ quái trong cơn bão. Những tiếng kêu thét chói tai nổi lên một cách bí hiểm từ vài chỗ khác nhau trên ngọn đồi. Đã trông thấy nó trước đây ở cự ly gần, tôi có thể hình dung ra những người thổi kèn thổi căng chiếc túi của họ, lồng ngực phồng lên với những hơi thở nhanh gấp gáp và những đôi môi xanh tái bặm chặt vào đầu thổi của chiếc kèn, những ngón tay cứng ngắc lạnh giá dò dẫm để hướng hơi thổi thành chuỗi âm thanh mạch lạc.
Tôi gần như có thể cảm thấy sự kháng cự bướng bỉnh của những cái túi da, chúng được giữ ấm và mềm dẻo dưới chiếc áo choàng len nhưng mãi không chịu phồng căng lên, thế rồi chúng đột nhiên sống dậy, trở thành một phần thân thể của người thổi kèn, giống như lá phổi thứ ba, thở thay anh ta khi cơn gió đánh cắp hơi thở của anh ta, như thể tiếng thét của những tộc viên ở ngay gần anh ta đã lấp đầy cho nó.
Tiếng thét càng lúc càng lớn, lan tới chỗ tôi thành từng đợt khi gió chuyển hướng, mang theo những hạt mưa tuyết. Trên sườn đồi không có mái hiên để trú ẩn hay bất kỳ rặng cây nào để cản cơn gió lại. Con ngựa của tôi quay đi và chúi đầu xuống, chống chọi với cơn gió, cái bờm của nó quất mạnh vào mặt tôi, thô ráp vì băng lạnh.
Ngôi nhà thờ cung cấp chỗ trú ẩn để tránh khỏi những sức mạnh từ thiên nhiên cũng như quân đội Anh. Tôi đẩy mở cánh cửa và giật mạnh dây cương, dẫn con ngựa vào trong.
Bên trong tối đen, chỉ có độc một ô cửa sổ được che vải dầu, không hơn gì một mảnh vá lờ mờ trong màn tối đen phía trên bệ thờ. Nó có vẻ ấm áp, đối lập với thời tiết bên ngoài, nhưng mùi ẩm mốc cũ kỹ khiến nó thật ngột ngạt. Không có chỗ để buộc ngựa; cũng chẳng có đồ đạc gì ngoại trừ một hòm đựng thánh cốt nhỏ được gắn vào một bức tường và cái bệ thờ chính. Bị áp chế bởi hơi người nồng đậm, con ngựa đứng lặng im, khịt mũi và thở phì phì, nhưng không bồn chồn quá mức. Thận trọng để mắt đến nó, tôi quay trở lại cửa và thò đầu ra.
Không ai biết chuyện gì đang xảy ra trên đồi Falkirk. Những tia sáng lóe lên của hỏa lực ngẫu nhiên lướt qua trong bóng tối. Tôi nghe thấy, yếu ớt và gián đoạn, tiếng ngân của kim loại và tiếng nổ ầm ầm thỉnh thoảng vang lên. Đôi lúc có tiếng kêu gào của một người đàn ông bị thương vẳng đến, cao ngang với tiếng rít gào của chiếc kèn túi, khác biệt hẳn những tiếng gào khóc bằng tiếng Gaelic của các chiến binh. Rồi cơn gió chuyển hướng, và tôi chẳng nghe thấy gì hoặc tưởng như nghe thấy những giọng nói mà thực ra chính là tiếng gió gào.
Tôi không nhìn thấy cuộc chiến ở Prestonpans; vì trong tiềm thức đã quen với sự chuyển động chậm chạp của những đội quân lớn có cả xe tăng và súng cối, tôi không nhận ra mọi thứ có thể diễn ra nhanh chóng thế nào trong một trận đánh dàn trận giáp lá cà và được trang bị vũ khí nhỏ nhẹ.
Sự cảnh báo đầu tiên tôi nghe thấy là một tiếng thét ngay gần bên. “Tulach Ard!” Bị gió làm cho ù tai, tôi không nghe thấy tiếng bọn họ lên đồi. “Tulach Ard!” Đó là tiếng hô xung trận của thị tộc MacKenzie; một số quân của Dougal đang bị đẩy lui về phía chỗ trú ẩn của tôi. Tôi khom người, rụt lại vào bên trong, nhưng vẫn để cánh cửa mở hé để có thể nhìn lén ra ngoài.
Một toán nhỏ đang chạy lên đồi. Những người vùng cao, xét cả từ âm thanh lẫn hình dáng của họ, mặc áo choàng len và râu tóc tung bay nên trông giống như một đám mây đen nổi bật trên con dốc cỏ mọc đầy, lao thẳng lên đồi trước cơn gió.
Tôi nhảy lùi vào trong nhà thờ khi người đầu tiên trong bọn họ xông qua cánh cửa. Tối quá, tôi không trông rõ mặt anh ta, nhưng tôi có thể nhận ra giọng nói khi anh ta đâm sầm vào con ngựa của tôi.
“Jesus!”
“Willie!” Tôi hét lên. “Willie Coulter!”
“Trời đánh thánh vật! Ai đó?”
Tôi chưa kịp trả lời thì cánh cửa đã bị xô vào tường, hai dáng người đen sì nữa lao vào ngôi nhà thờ bé tẹo. Bị chọc tức bởi sự xâm nhập ồn ào, con ngựa của tôi lồng lên và hí vang, huơ huơ móng trong không trung. Việc này khiến những kẻ xâm nhập la hét ầm ĩ, vì họ vốn nghĩ nhà thờ này trống không và bị bối rối khi phát hiện điều ngược lại.
Lối vào có thêm mấy người đàn ông nữa, chỉ càng làm tăng thêm sự náo động, còn tôi thì chẳng nghĩ ra được điều gì để làm cho con ngựa dịu đi. Bị dồn vào phía cuối nhà thờ, tôi ôm siết lấy người mình, nép vào một khoảng không nhỏ giữa bệ thờ và bức tường, chờ đợi cho mọi việc tự ổn định lại.
Họ bắt đầu hành động khi một trong số những giọng nói hoang mang rống lên át những kẻ khác.
“IM NÀO!” Giọng nói đó quát lên bằng ngữ điệu không cho phép phản đối. Mọi người ngoại trừ con ngựa đều nghe theo, và khi sự huyên náo lắng xuống, ngay cả con ngựa cũng dịu đi. Nó lui vào một góc và thở phì phì, xen lẫn với tiếng kêu ré khó chịu.
“Ta là MacKenzie của Leoch,” giọng nói hống hách kia nói.
“Những ai đang ở đây?”
“Tôi là Geordie đây, Dougal, và em trai tôi,” một giọng gần đó nói, ngữ điệu hết sức nhẹ nhõm. “Chúng tôi mang Rupert đi cùng; ông ấy bị thương. Chúa ơi, tôi cứ nghĩ quỷ đang ở trong này chứ!”
“Gordon McLeod của Ardsmuir,” một giọng lạ khác mà tôi không nhận ra nói.
“Và Ewan Cameron của Kinnoch,” người khác nói. “Con ngựa này của ai thế?”
“Của tôi,” tôi nói, thận trọng chui ra từ phía sau bệ thờ. Giọng nói của tôi gây nên một đợt bùng nổ khác, nhưng Dougal lại một lần nữa chấm dứt nó, ông ta cao giọng át đi tiếng huyên náo.
“IM LẶNG, chết tiệt đám các người! Có phải cô đó không, Claire Fraser?”
“Đúng vậy, không phải nữ hoàng đâu,” tôi bực mình nói. “Willie Coulter cũng ở đây, hay đúng ra anh ta đã ở đây một phút trước. Không ai có hộp đánh lửa à?”
“Không được thắp sáng!” Dougal nói. “Có khả năng bọn Anh sẽ trông thấy chỗ này nếu chúng bám theo chúng ta, nhưng nên hạn chế việc gây sự chú ý với chúng nếu chúng không bám theo.”
“Được rồi,” tôi nói, cắn môi. “Rupert, ông có thể nói chuyện không? Nói gì đó để tôi biết ông ở đâu.” Tôi không biết mình có thể làm gì cho ông ta trong bóng tối thế này; tôi thậm chí còn không thể tìm thấy hộp thuốc của mình nữa. Nhưng tôi không thể để mặc ông ta chảy máu đến chết trên sàn nhà này.
Có một tiếng ho nghe có vẻ khó chịu vang lên phía bên kia nhà thờ, đối diện chỗ của tôi và một giọng khàn khàn nói: “Ở đây, cô gái,” và lại ho lần nữa.
Tôi lần mò đi tới, miệng lầm bầm rủa. Nghe tiếng ho đó, tôi biết tình trạng của ông ta rất tệ; tệ đến mức hộp thuốc của tôi cũng không thể giúp được gì. Tôi lom khom đi mấy bước cuối cùng, hai cánh tay quờ quạng thật rộng để cảm nhận xem có gì trên đường đi của mình không.
Bàn tay tôi đập vào một thân hình ấm áp, và một bàn tay to tóm lấy tôi. Đó hẳn là Rupert; tôi có thể nghe được tiếng thở hồng hộc của ông ta, kèm theo tiếng òng ọc khe khẽ.
“Tôi đây,” tôi nói, dò dẫm vỗ nhẹ vào người ông ta, hy vọng có thể trấn an ông ta đôi chút. Tôi cho rằng nó đã có tác dụng, bởi vì ông ta phát ra một tiếng cười khùng khục hổn hển và ưỡn cong hông lên, ấn mạnh tay tôi xuống người ông ta.
“Làm lại lần nữa đi, cô gái, và tôi sẽ quên đi tất cả những gì liên quan đến viên đạn hỏa mai ấy,” ông ta nói.
Tôi giật mạnh tay lại.
“Có lẽ để lát nữa đi,” tôi lạnh nhạt nói, rồi di chuyển bàn tay ngược lên trên, lướt qua người ông ta để tìm tới phần đầu. Bộ râu dày cứng nói cho tôi biết tôi đã đến được đích, và tôi cẩn thận lần mò dưới khu rừng rậm rạp đó để tìm mạch đập ở cần cổ ông ta. Nhanh và nông, nhưng vẫn khá đều đặn. Trán ông ta đầm đìa mồ hôi, mặc dù làn da lạnh và ẩm. Chóp mũi ông ta lạnh ngắt khi tôi xoa lên nó, cái lạnh giá đến từ không khí bên ngoài.
“Tiếc là tôi không phải chó,” ông ta nói, tiếng cười mỏng manh phát ra giữa hai lần thở gấp. “Mũi lạnh… sẽ là một dấu hiệu tốt.”
“Sẽ còn tốt hơn nếu ông đừng nói nữa,” tôi nói. “Viên đạn trúng vào chỗ nào? Không, đừng nói, hãy cầm tay tôi và đặt vào chỗ bị thương… và nếu ông đặt nó vào bất kỳ chỗ nào khác, Rupert MacKenzie, ông có thể chết ngay ở đây y như một con chó đấy, một sự giải thoát tốt lành cho ông.”
Tôi có thể cảm thấy lồng ngực rộng dưới bàn tay mình rung rung vì tiếng cười bị kìm nén. Ông ta chậm rãi kéo tay tôi luồn xuống dưới chiếc áo choàng len và tôi dùng tay kia đẩy lớp vải gây cản trở đó ra.
“Được rồi, tôi thấy nó rồi,” tôi thì thầm. Tôi cảm thấy một miếng rách nhỏ trên áo sơ mi của ông ta, máu ướt đẫm quanh mép rách, tôi liền đặt cả hai tay lên chỗ đó và xé mở chỗ đó ra. Tôi nhè nhẹ chà các ngón tay dọc theo bên sườn ông ta, cảm nhận gai ốc nổi lên và rồi đến một cái lỗ nhỏ hẳn là miệng vết thương. Nó có vẻ đặc biệt nhỏ so với thân hình to lớn của Rupert, vì ông ta vốn là một người đàn ông vạm vỡ.
“Nó có đi ra ở chỗ nào không?” Tôi thì thầm. Bên trong nhà thờ hoàn toàn yên tĩnh, ngoại trừ con ngựa vẫn đang cử động liên tục ở trong cái góc của nó. Cánh cửa ra vào đã đóng nên âm thanh của cuộc chiến ở bên ngoài dù vẫn nghe thấy được nhưng đã loãng đi; khó có thể nói họ ở cách chúng tôi bao xa.
“Không,” ông ta nói và lại ho. Tôi cảm thấy tay ông ta hướng về phía miệng và tôi đưa một nếp gấp của chiếc áo choàng len lên theo. Mắt tôi đã quen với bóng tối hết mức có thể nhưng ông ta vẫn không hơn gì một hình khối đen sì trên sàn nhà trước mặt tôi. Mặc dù đối với một vài thứ, chạm vào cũng đủ rồi. Vết thương không chảy máu nhiều nhưng miếng vải tôi đưa lên miệng ông ta lại làm ướt đẫm bàn tay tôi với một sự ấm nóng ẩm ướt đột ngột.
Viên đạn đã xuyên qua ít nhất một lá phổi, có lẽ là cả hai, và lồng ngực của ông ta dính đầy máu. Ông ta có thể kéo dài được vài giờ trong tình trạng này, có lẽ là một ngày nếu một lá phổi vẫn còn duy trì được chức năng của nó. Nếu màng ngoài tim bị khía vào, ông ta sẽ ra đi nhanh hơn. Nhưng chỉ có phẫu thuật mới cứu được ông ta, và đó là điều mà tôi không thể làm được.
Tôi cảm thấy một sự hiện diện ấm áp phía sau mình, và nghe thấy hơi thở bình thường khi có ai đó dò dẫm hướng về phía tôi. Tôi với về phía sau và cảm thấy tay mình bị nắm chặt. Dougal MacKenzie.
Ông ta đã tìm đường đến bên cạnh tôi và đặt một bàn tay lên cơ thể nằm ngửa của Rupert.
“Thế nào rồi, anh bạn?” Ông ta khẽ hỏi. “Anh có thể đi được không?” Bàn tay kia của tôi vẫn đặt trên người Rupert, tôi có thể cảm thấy đầu ông ta lắc lắc để trả lời câu hỏi của Dougal. Những người đàn ông trong nhà thờ phía sau chúng tôi đã bắt đầu thì thầm trò chuyện với nhau.
Bàn tay Dougal ấn xuống bờ vai tôi.
“Cô cần những gì để có thể giúp anh ta? Cái hộp nhỏ của cô ư? Nó ở trên mình con ngựa à?” Ông ta đứng lên trước khi tôi kịp nói rằng trong hộp không có thứ gì giúp được Rupert cả.
Một tiếng rắc lớn đột ngột vang lên từ phía bệ thờ làm im bặt mọi tiếng thì thầm, những người đàn ông nhanh chóng vồ lấy món vũ khí mà họ đã đặt xuống. Lại thêm một tiếng rắc khác và tiếng thứ gì đó bị xé rách, rồi tấm vải dầu phủ trên cửa sổ bị lột đi, khiến một luồng không khí lạnh giá, sạch sẽ tràn vào, cuốn theo vài bông tuyết xoay lộn quay cuồng.
“Sassenach! Claire! Em có ở đó không?” Giọng nói trầm thấp khẽ vọng vào từ cửa sổ khiến tôi đứng bật dậy, trong thoáng chốc hoàn toàn quên bẵng Rupert.
“Jamie!” Xung quanh tôi là một tràng thở phào nhẹ nhỏm, và tiếng lanh canh của kiếm và khiên rơi xuống đất. Ánh sáng yếu ớt mới từ bên ngoài rọi vào bị che kín trong giây lát bởi cái đầu và hai bờ vai to lớn của Jamie. Anh nhẹ nhàng thả người xuống từ bệ thờ, bóng hình nổi bật trước cái cửa sổ để mở.
“Ai ở đây thế?” Anh nhìn quanh, khẽ hỏi. “Dougal, cậu đây à?”
“Phải, là ta! Cả vợ cháu và vài người nữa. Cháu có trông thấy mấy tên con hoang ngoại tộc ở đâu đó quanh đây không?”
Jamie bật ra một tiếng cười ngắn.
“Cậu nghĩ tại sao cháu phải trèo vào qua đường cửa sổ hả? Có khoảng hai mươi tên đang ở dưới chân đồi đấy.”
Dougal hừ một tiếng khó chịu. “Chắc chắn chúng là lũ con hoang đã chặn ngang đường của chúng ta, tách chúng ta khỏi đạo quân chính.”
“Vậy đó. Ho, mo cridh! Ciamar a tha thu[1]?” Nhận ra một giọng nói quen thuộc giữa đám người điên cuồng, con ngựa của tôi hất mũi lên, kèm theo một tiếng hí chào đón thật to.
“Suỵt, đồ ngu ngốc!” Dougal phẫn nộ nói với nó. “Mày muốn bọn Anh nghe thấy à?”
“Cháu không nghĩ là bọn Anh sẽ treo cổ cậu nhóc đâu,” Jamie thản nhiên bình luận. “Chúng cũng chẳng cần dùng đến tai để biết cậu đang ở đây, nếu chúng có mắt; con dốc ngoài kia đầy bùn, và những dấu chân của tất cả các vị trông rõ rành rành.”
“Hừm!” Dougal ném ánh mắt về phía cửa sổ, nhưng Jamie lắc đầu.
“Không tốt, cậu Dougal! Đội quân chính đang hướng về phía nam và Lãnh chúa George Murray đã đi đón đầu chúng, nhưng vẫn còn vài tên người Anh từ đạo quân chúng ta chạm trán lúc nãy ở lại bên này. Một nhóm đã truy đuổi cháu khắp đồi; cháu đã lẩn sang bên sườn đồi và bò sấp trên cỏ lên tới nhà thờ này, nhưng cháu đoán chúng vẫn càn phía trên sườn đồi.” Anh chìa một bàn tay về phía tôi và tôi nắm lấy nó. Tay anh lạnh và ẩm ướt vì đã bò qua đám cỏ, nhưng tôi vui mừng khi được chạm vào anh, được có anh ở đây.
“Bò vào hử? Vậy cháu định ra ngoài như thế nào?” Dougal hỏi.
Tôi cảm thấy Jamie nhún vai. Anh nghiêng đầu về phía con ngựa của tôi.
“Cháu nghĩ mình có thể xông ra và dẫn chúng đi xuống; chúng sẽ không biết gì về con ngựa này. Chuyện đó sẽ gây ra náo loạn đủ để giúp Claire lẻn đi.”
Dougal cười khẩy. “Phải, và chúng sẽ lôi cháu xuống khỏi ngựa giống như hái một quả táo chín.”
“Đó không hẳn là vấn đề,” Jamie lạnh nhạt nói. “Cháu thấy đám người các cậu sẽ không thể lặng lẽ lẻn ra ngoài mà không bị kẻ nào phát hiện, cho dù cháu có đánh lạc hướng ồn ào thế nào chăng nữa.”
Như thể xác nhận điều này, Rupert rên một tiếng thật lớn bên cạnh bức tường. Dougal và tôi lại vội vàng quỳ sụp xuống cạnh ông ta, Jamie cũng làm theo nhưng chậm hơn.
Ông ta chưa chết, nhưng cũng không khỏe. Hai tay ông ta đã lạnh toát, hơi thở khò khè, rên rỉ.
“Dougal,” ông ta thì thầm.
“Tôi đây, Rupert! Yên nào, anh bạn, anh sẽ sớm ổn thôi!” Người đứng đầu nhà MacKenzie nhanh chóng cởi chiếc áo choàng len của mình và gấp nó lại thành một cái gối, nhét xuống dưới đầu và vai Rupert. Được nâng lên một chút, hơi thở của ông ta dường như dễ dàng hơn, nhưng sờ vào phía dưới bộ râu của ông ta, tôi thấy chiếc áo sơ mi của ông ta đã ướt đẫm. Ông ta vẫn còn chút sức lực, bèn với tay ra nắm lấy cánh tay Dougal.
“Nếu… chúng tìm được chúng ta… hãy cho tôi một bó đuốc,” ông ta nói, thở hổn hển. “Tôi muốn nhìn mặt ngài lần nữa, Dougal!”
Ở sát bên Dougal, tôi cảm nhận được một cú sốc chạy xuyên khắp người ông ta khi nghe những lời này và hàm ý của chúng. Ông ta quay đầu về phía tôi, nhưng dĩ nhiên là không thể nhìn thấy nét mặt tôi. Ông ta thì thầm một mệnh lệnh qua vai và sau một lúc dao động và rì rầm, người nào đó cắt bừa một nắm mái rạ, xoắn lại thành một bó đuốc và thắp sáng bằng đá lửa. Nó cháy rất nhanh, nhưng cung cấp đủ ánh sáng để tôi kiểm tra Rupert trong khi những người đàn ông đục bừa xuống một mảnh gỗ dài từ trên những cây cột chống mái để dùng làm đuốc tạm thời.
Ông ta trông trắng bệch như một con cá chết ngửa bụng, mái tóc ướt đẫm mồ hôi, một vệt máu bẩn lờ mờ vẫn trông thấy rõ trên cái môi dưới đầy đặn. Trên bộ râu đen bóng có những đốm sẫm màu, nhưng ông ta vẫn cười yếu ớt với tôi khi tôi cúi xuống để kiểm tra mạch của ông ta lần nữa. Nhẹ hơn và rất nhanh, đôi lúc lỗi nhịp. Tôi vuốt mái tóc của ông ta ra sau, ông ta chạm vào tay tôi vẻ cảm ơn.
Tôi cảm thấy bàn tay Dougal đặt trên khuỷu tay mình, liền ngồi hẳn xuống gót chân và quay mặt ra phía ông ta. Trước đây, tôi đã từng đối diện với ông ta giống như thế này, qua thân thể của một người đàn ông bị thương nặng vì một con lợn lòi. Ông ta đã hỏi tôi: “Anh ta có sống được không?” và giờ tôi nhìn thấy ký ức của ngày hôm đó thoáng qua trên gương mặt ông ta. Câu hỏi ấy lại hiện ra trong mắt ông ta lần nữa, nhưng lần này, trong đôi mắt lóe lên sự sợ hãi trước câu trả lời của tôi. Rupert là người bạn thân thiết nhất của ông ta, người bà con đã rong ruổi và chiến đấu như là cánh tay phải của ông ta, giống như Ian đối với Jamie.
Lần này, tôi không trả lời; Rupert làm điều đó hộ tôi.
“Dougal,” ông ta nói, mỉm cười với người bạn đang lo lắng cúi xuống nhìn mình. Ông ta nhắm mắt lại trong thoáng chốc và thở sâu hết mức có thể, tập hợp lại sức lực.
“Dougal,” Rupert lại nói, mở mắt ra. “Ngài đừng đau buồn vì tôi!”
Gương mặt Dougal giần giật dưới ánh đuốc. Tôi có thể nhìn thấy lời phủ nhận về cái chết đã đến bên môi ông ta, nhưng ông ta nén lại và gạt nó sang một bên.
“Ta là thủ lĩnh của anh, anh bạn!” Dougal nói với nụ cười nửa miệng run rẩy. “Anh không được ra lệnh cho ta; ta sẽ đau buồn vì anh và ta thích thế.” Ông ta vỗ lên bàn tay đang đặt trên ngực của Rupert và nắm chặt lấy nó.
Một tiếng cười khò khè yếu ớt phát ra từ Rupert, và một tiếng ho nữa.
“Chà, thế thì cứ đau buồn vì tôi đi, Dougal,” ông ta nói nốt. “Và tôi mừng vì điều đó. Nhưng ngài không thể đau buồn cho tới khi tôi chết, đúng không? Tôi sẽ chết bởi chính tay ngài, mo caraidh, không phải chết bởi tay những kẻ xa lạ.”
Dougal giật nẩy mình, Jamie và tôi trao nhau những cái liếc mắt kinh hãi sau lưng ông ta.
“Rupert…” Dougal mở đầu một cách bất lực, nhưng Rupert đã ngắt ngang lời ông ta, vỗ vỗ vào tay ông ta và khẽ lắc lắc nó.
“Ngài là bạn của tôi, trời ạ, và đó là nhiệm vụ của ngài,” Rupert thì thầm. “Thôi nào! Làm ngay bây giờ đi! Cái chết từ từ làm tôi đau đớn, Dougal, và tôi nhờ ngài kết thúc nó.” Ánh mắt ông ta di chuyển không ngừng, chiếu vào tôi.
“Cô sẽ nắm tay tôi trong khi tôi ra đi chứ, cô gái?” Ông ta hỏi. “Tôi muốn vậy.”
Dường như chẳng thể làm gì khác. Tôi chầm chậm cử động, cảm thấy tất cả chuyện này chỉ là một giấc mơ, tôi nắm lấy bàn tay to lớn đầy lông lá đen sì ấy bằng cả hai tay mình, siết chặt nó như thể bằng cách ấy, tôi có thể ép hơi ấm của mình sang làn da lành lạnh của ông ta.
Với một tiếng cằn nhằn, Rupert ráng sức xoay sang một bên và liếc lên nhìn Jamie, anh đang ngồi cạnh đầu ông ta.
“Đáng lẽ cô ấy nên cưới tôi, chàng trai ạ, khi cô ấy được lựa chọn,” ông ta thở khò khè. “Cậu là đồ ẻo lả đáng thương, nhưng hãy làm hết sức mình.” Ông ta nháy mắt vẻ tinh quái. “Hãy đối xử tốt với cô ấy cho tôi, chàng trai!”
Đôi mắt đen láy xoay trở lại phía tôi, và một nụ cười tươi rói cuối cùng cũng nở rộng trên khuôn mặt ông ta.
“Vĩnh biệt, cô gái xinh đẹp,” ông ta khẽ nói.
Con dao găm của Dougal cắm vào bên dưới xương ức của ông ta, mạnh và thẳng tắp. Thân hình vạm vỡ chấn động, quay sang bên cạnh với một cơn ho ra máu, nhưng tiếng kêu đau đớn ngắn ngủi lại phát ra từ Dougal.
Người tộc trưởng của nhà MacKenzie như đông cứng lại trong một lúc, hai mắt nhắm nghiền, hai tay siết chặt trên cán con dao găm. Rồi Jamie đứng lên, nắm lấy hai vai ông ta và xoay người ông ta đi, thì thầm điều gì đó bằng tiếng Gaelic. Jamie liếc mắt sang tôi và tôi gật đầu, giơ hai cánh tay ra. Anh dịu dàng xoay Dougal hướng về phía tôi, và tôi kéo ông ta lại với mình trong khi cả hai chúng tôi cùng quỳ sụp trên sàn, đỡ Dougal trong khi ông ta khóc.
Ngay khuôn mặt Jamie cũng đầm đìa nước mắt, và tôi nghe thấy những tiếng thở dài ngắn ngủi, những tiếng nức nở từ phía những người đàn ông khác. Tôi cho rằng điều đó là tốt hơn cả, họ khóc cho Rupert hơn là khóc cho chính họ. Nếu người Anh đến đây, tất cả chúng tôi sẽ bị treo cổ vì tội mưu phản. Vì vậy, khóc than cho Rupert là dễ dàng hơn cả, ông ta đã ra đi an toàn, lên đường nhanh chóng trong tay của một người bạn.
•••
Chúng không hề tấn công trong đêm mùa đông dài dằng dặc đó. Chúng tôi túm tụm vào nhau, tựa vào một bức tường, dưới những chiếc áo choàng len và áo khoác ngắn tay, chờ đợi.
Tôi lơ mơ ngủ, dựa vào vai Jamie, Dougal khom người im lặng ở một bên. Tôi nghĩ rằng không ai trong số họ ngủ cả, chỉ nhìn xuyên qua bóng đêm vào xác Rupert đang nằm lặng im dưới chiếc áo choàng len của chính mình ở góc bên kia nhà thờ, bên kia vực thẳm chia cắt cõi chết và cõi sống.
Chúng tôi nói rất ít, nhưng tôi biết bọn họ đang nghĩ gì. Họ đang băn khoăn, cũng như tôi, liệu quân Anh đã bỏ đi để tập hợp với đạo quân chính ở tòa nhà Callendar phía dưới, hay vẫn đang quan sát ở ngoài kia, chờ đợi bình minh tới trước khi hành động, để không cho bất cứ kẻ nào trong ngôi nhà thờ bé nhỏ này thoát được dưới sự che chắn của màn đêm đen.
Vấn đề đã ngã ngũ cùng với tia sáng đầu tiên rọi đến.
“Này, những người trong nhà thờ! Ra ngoài và đầu hàng đi!” Tiếng gọi vọng tới từ dưới con dốc, một chất giọng Anh mạnh mẽ.
Những người đàn ông trong nhà thờ xôn xao, và con ngựa vẫn đang gà gật ở góc của nó liền dựng thẳng đầu lên, thở phì phì vì giật mình trước động tĩnh ở gần nó. Jamie và Dougal liếc mắt nhìn nhau, rồi như thể đã lên kế hoạch trước, họ cùng nhổm người dậy, vai kề vai, trước cánh cửa đóng chặt. Jamie hất hàm ra hiệu cho tôi lui về phía cuối nhà thờ, quay lại chỗ trú ẩn đằng sau bệ thờ.
Một tiếng quát khác từ bên ngoài vẫn được đáp trả bằng sự im lặng. Jamie rút khẩu súng từ thắt lưng ra và lắp đạn, vẻ thản nhiên, như thể còn có rất nhiều thời gian. Anh quỳ một chân xuống, nâng khẩu súng lên, nhắm vào cánh cửa, tầm cao bằng đầu người.
Geordie và Willie gác ở cửa sổ đằng sau, kiếm và súng sẵn sàng. Nhưng có khả năng cuộc tấn công sẽ đến từ phía trước; ngọn đồi phía sau nhà thờ dốc đứng, khoảng trống giữa con dốc và bức tường nhà thờ chỉ vừa đủ cho một người chen qua.
Tôi nghe thấy tiếng chân bước lép nhép trên bùn tiếp cận cửa trước và tiếng lách cách yếu ớt ở bên sườn nhà thờ. Những âm thanh đó dừng lại cách nhà thờ một đoạn, và một giọng nói lại vang lên, gần hơn và lớn hơn.
“Nhân danh Bệ hạ, Đức vua George, hãy ra và đầu hàng đi! Chúng ta biết các người ở đó!”
Jamie khai hỏa. Tiếng nổ bên trong nhà thờ nhỏ vang lên đinh tai. Nó hẳn cũng đủ gây ấn tượng với bên ngoài; tôi nghe thấy tiếng rút lui vội vàng, kèm theo những tiếng nguyền rủa loáng thoáng. Viên đạn tạo ra một cái lỗ nhỏ trên cánh cửa; Dougal len lén tới đó, ngó ra ngoài.
“Chết tiệt,” ông ta khẽ lẩm bầm. “Chúng đông quá!”
Jamie liếc nhanh về phía tôi, rồi mím môi và chuyển sự chú ý vào việc lắp lại đạn cho khẩu súng. Rõ ràng những người Scot không định đầu hàng. Và người Anh cũng không có ý muốn thổi bay nhà thờ, vì chúng có thể dễ dàng chặn lối ra. Chúng không định khiến chúng tôi chết đói chứ? Chắc chắn đội quân cao nguyên sẽ cử người đến tìm kiếm những người bị thương trong trận đánh từ đêm hôm trước. Nếu họ đến trước khi người Anh có cơ hội mang một khẩu đại bác tới nã vào nhà thờ thì chúng tôi có thể được cứu.
Thật không may, ngoài kia càng tập trung hơn. Những bước chân lại một lần nữa tiến tới và rồi một giọng Anh thận trọng, đầy uy quyền cất lên.
“Các người có một phút để ra ngoài và nộp mình, nếu không bọn ta sẽ đốt mái rạ.”
Tôi liếc nhìn lên phía trên trong sự kinh hãi. Các bức tường của nhà thờ bằng đá, nhưng rơm rạ sẽ cháy rất nhanh, cho dù đã ướt đẫm vì mưa tuyết, và một khi đã bắt lửa, chúng sẽ lan ra và trút xuống chúng tôi một trận mưa than um khói để chôn vùi chúng tôi. Tôi nhớ tốc độ cháy nhanh đến khủng khiếp của ngọn đuốc làm bằng sậy đêm hôm trước; dấu vết của nó còn nằm trên sàn nhà, gần cái xác được che phủ của Rupert, một biểu tượng rùng rợn dưới ánh bình minh màu xám.
“Không!” Tôi gào lên. “Quân khốn kiếp! Đây là nhà thờ! Các người chưa bao giờ nghe nói về chốn linh thiêng ư?”
“Ai đó?” Giọng nói mạnh mẽ từ bên ngoài vọng vào. “Có một phụ nữ Anh ở trong đó à?!”
“Đúng!” Dougal thét lên, xô vào cánh cửa, làm nó tách ra một khe hở và gầm lên với đám lính Anh ở dưới sườn đồi. “Đúng! Bọn tao đang bắt giữ một quý bà người Anh! Đốt mái rạ đi và cô ta sẽ chết cùng chúng tao!”
Những tiếng nói võ òa dưới chân đồi và giữa những người đàn ông trong nhà thờ cũng có một sự xáo động đột ngột. Jamie quay ngoắt về phía Dougal, giận dữ nói: “Cái gì…!”
“Đó là cơ hội duy nhất!” Dougal rít lên đáp lại. “Để bọn chúng mang cô ta đi, đổi lấy sự tự do của chúng ta. Bọn chúng sẽ không làm hại cô ta nếu chúng nghĩ cô ta là con tin của chúng ta, và chúng ta sẽ tìm lại cô ta sau, khi chúng ta đã được tự do!”
Tôi ra khỏi chỗ nấp và đi tới bên Jamie, tóm lấy cổ tay áo anh.
“Làm đi!” Tôi thúc giục. “Dougal nói đúng, đó là cơ hội duy nhất!”
Anh nhìn xuống tôi vẻ bất lực, cơn thịnh nộ và sự sợ hãi trộn lẫn trên nét mặt anh. Và ẩn dưới tất cả những điều đó là một chút hài hước mỉa mai trước sự trớ trêu của tình huống này.
“Rốt cuộc thì em là Sassenach mà,” tôi nói khi nhìn thấy vẻ mặt ấy.
Anh thoáng chạm vào mặt tôi với một nụ cười ảo não.
“Đúng, mo duinne. Nhưng em là Sassenach của anh.” Anh quay sang Dougal, vươn thẳng hai vai, hít vào một hơi thật sâu và gật đầu.
“Được rồi. Bảo chúng rằng chúng ta đã bắt cô ấy,” anh suy nghĩ nhanh, một tay vò tóc, “từ đường Falkirk vào cuối ngày hôm qua.”
Dougal gật đầu, không đợi thêm, lách ra khỏi cánh cửa nhà thờ, giơ cao một chiếc khăn tay trắng trên đầu, là tín hiệu tạm đình chiến.
Jamie quay sang tôi, cau mày, liếc ra cửa nhà thờ, nơi những giọng nói của người Anh vẫn nghe thấy được, mặc dù chúng tôi không phân biệt được từng từ họ nói.
“Anh không biết em định nói gì với bọn chúng, Claire; có lẽ em nên giả vờ là quá sốc đến nỗi không thể nói được. Có lẽ làm thế tốt hơn là kể một câu chuyện; vì nếu chúng nhận ra em là ai…” Anh đột ngột dừng nói và xoa tay thật mạnh lên mặt.
Nếu chúng nhận ra tôi là ai, tôi sẽ bị đưa đến London, và Tòa Tháp - tiếp đó có khả năng sẽ bị hành hình nhanh chóng. Tuy nhiên, mặc dù các báo khổ lớn đã nhắc nhiều đến “phù thủy nhà Stuart”, nhưng không một ai, theo như tôi biết, nhận ra hoặc công bố sự thật rằng phù thủy đó là một người Anh.
“Đừng lo,” tôi nói, nhận ra đây là một lời khuyên ngớ ngẩn đến mức nào, nhưng không thể nghĩ ra điều gì hay hơn. Tôi đặt tay lên tay áo anh, cảm nhận mạch đập dồn dập trên cổ tay anh. “Anh sẽ đón em về trước khi chúng có cơ hội nhận ra bất cứ điều gì. Anh nghĩ chúng sẽ đưa em tới tòa nhà Callendar ư?”
Anh gật đầu, lấy lại sự tự chủ. “Phải, anh nghĩ vậy. Nếu có thể, hãy cố ở một mình gần cửa sổ, sau khi trời tối. Anh sẽ đến tìm em.”
Không còn thời gian nữa. Dougal đã trở lại, cẩn thận đóng cánh cửa phía sau mình.
“Xong,” ông ta nói, nhìn từ tôi sang Jamie. “Sau khi giao cô ta cho chúng, chúng ta sẽ được phép rời đi mà không bị cản trở. Không truy đuổi. Chúng ta sẽ giữ con ngựa. Chúng ta sẽ cần nó cho Rupert, cô thấy đấy,” ông ta nói với tôi, tỏ vẻ áy náy phần nào.
“Thế cũng được,” tôi bảo ông ta. Tôi nhìn cánh cửa có cái lỗ nhỏ màu đen nơi viên đạn đã xuyên qua, cùng kích cỡ với cái lỗ ở bên sườn của Rupert. Miệng tôi khô khốc và tôi khó nhọc nuốt khan. Tôi là một quả trứng chim cu, sắp sửa bị đặt vào nhầm tổ. Ba người chúng tôi ngập ngừng trước cánh cửa, miễn cưỡng thực hiện bước cuối cùng.
“Em n-nên đi rồi,” tôi nói, cố gắng kiểm soát giọng nói và tứ chi run rẩy. “Bọn chúng sẽ thắc mắc điều gì đang kìm giữ chúng ta.”
Jamie nhắm mắt trong thoáng chốc, rồi gật đầu và bước về phía tôi.
“Anh nghĩ em nên bất tỉnh, Sassenach,” anh nói. “Có lẽ cách ấy sẽ dễ dàng hơn.” Anh khom người, bế tôi lên, mang tôi đi qua cánh cửa Dougal đang giữ mở.
Tim anh đập như trống dưới tai tôi. Tôi cảm thấy hai cánh tay anh run run trong khi bế tôi. Sau cảm giác ngột ngạt của nhà thờ, với mùi mồ hôi, máu, thuốc súng và phân ngựa, làn không khí tươi mát lạnh giá của buổi sớm mai khiến tôi như nghẹt thở, và tôi rúc vào anh, rùng mình. Hai bàn tay anh siết chặt đầu gối và vai tôi, như một lời hứa hẹn; anh sẽ không bao giờ để tôi đi.
“Chúa ơi,” anh nói một lần, rất khẽ, và rồi chúng tôi tới chỗ chúng. Sau những câu hỏi sắc bén, những câu trả lời lầm bầm, bàn tay anh miễn cưỡng nới lỏng khi đặt tôi xuống đất, và rồi bước chân anh loạt soạt rời xa trên cỏ ướt. Tôi chỉ còn một mình, trong tay những kẻ xa lạ.
[1] Tiếng Gaelic: Trái tim của ta! Mày khỏe không?