“Người đàn ông nhỏ thó kỳ dị đó là ai?” Tôi tò mò hỏi Jamie. Người đàn ông được hỏi đến đó đang chậm chạp đi xuyên qua một nhóm khách khứa tụ tập trong phòng khách chính của nhà de Rohan. Ông ta dừng lại trong chốc lát, quét mắt nhìn nhóm người bằng con mắt phê bình đánh giá, rồi nhún đôi vai xương xẩu và đi qua, hoặc đột nhiên bước lại gần một người, giơ thứ gì đó ra trước mặt họ và đưa ra một dạng mệnh lệnh nào đó. Cho dù người này đang làm gì thì hành động của ông ta bề ngoài có vẻ thật buồn cười.
Trước khi Jamie kịp trả lời, người đàn ông đó, một mẫu vật khô đét, nhỏ bé trong bộ đồ may bằng vải xẹc, đã phát hiện ra chúng tôi, gương mặt ông ta sáng bừng lên. Ông ta nhào tới chỗ Jamie như một chú chim nhỏ săn mồi đột nhiên sà xuống một con thỏ to lớn làm nó bị giật mình.
“Hát đi,” ông ta ra lệnh.
“Hả?” Jamie chớp chớp mắt nhìn xuống con người bé nhỏ trong sự kinh ngạc.
“Tôi nói “Hát đi”,” người đàn ông kiên nhẫn đáp lời. Ông ta chọc chọc vào ngực Jamie vẻ ngưỡng mộ. “Với một cái khoang vang dội như thế này, anh hẳn phải có một âm lượng tuyệt vời.”
“Ồ, anh ấy có âm lượng lớn lắm,” tôi vui thích nói. “Ông có thể nghe thấy tiếng anh ấy từ cách đây ba cái quảng trường thành phố khi anh ấy bị chọc tức.”
Jamie bắn sang tôi một cái nhìn hắc ám. Người đàn ông đi vòng tròn quanh anh, đo bề ngang lưng anh và vỗ vỗ lên người anh như một con chim gõ kiến đang thử một cái cây tốt nhất.
“Tôi không biết hát,” anh phản đối.
“Vô lý, vô lý. Dĩ nhiên là anh có thể. Một giọng nam trung trầm ấm, tuyệt đẹp nữa là đằng khác,” người đàn ông nhỏ bé lầm bầm ra vẻ hài lòng. “Tuyệt vời. Đúng thứ chúng ta cần. Đây, một chút trợ giúp cho anh. Cố hát theo âm thanh này xem sao.”
Khéo léo rút ra một chiếc âm thoa nhỏ từ trong túi, ông ta gõ mạnh nó vào một cây cột trụ và giữ nó gần tai trái của Jamie.
Jamie đảo mắt nhìn lên trần, nhưng vẫn nhún vai và hát lên một nốt nhạc. Người đàn ông nhỏ con giật bắn ra sau như thể vừa bị trúng đạn.
“Không,” ông ta thốt lên vẻ không tin nổi.
“Tôi e là vậy đấy,” tôi nói vẻ cảm thông. “Anh ấy đã đúng, ông biết mà. Anh ấy thực sự không thể hát.”
Người đàn ông nhỏ con nheo mắt nhìn Jamie với vẻ oán trách, sau đó gõ cây âm thoa của ông ta lần nữa và giơ nó ra vẻ mời gọi.
“Thêm lần nữa đi,” ông ta dỗ. “Chỉ cần lắng nghe rồi phát ra cùng một âm thanh như thế.”
Kiên nhẫn hơn bao giờ hết, Jamie cẩn thận lắng nghe nốt La của cây âm thoa, và hát lại, tạo ra một âm thanh nằm đâu đó giữa nốt Mi giáng và Rê thăng.
“Không thể nào,” người đàn ông thốt lên, trông có vẻ hoàn toàn vỡ mộng. “Không ai có thể hát kém tới mức đó, ngay cả là cố ý.”
“Tôi có thể,” Jamie hớn hở nói và lịch sự cúi chào người đàn ông bé nhỏ. Đến lúc này, chúng tôi đã bắt đầu thu hút một đám đông nhỏ những người hứng thú quan sát. Louise de Rohan là một nữ chủ nhân tuyệt vời, các phòng khách của cô thu hút tinh hoa của xã hội Paris.
“Phải, anh ấy có thể,” tôi cam đoan với vị khách. “Anh ấy bị điếc âm, ông thấy đó.”
“Phải, tôi thấy rồi,” người đàn ông nói, tỏ vẻ hoàn toàn chán nản. Sau đó, ông ta bắt đầu đưa mắt nhìn tôi vẻ suy đoán.
“Không phải tôi!” Tôi bật cười, nói.
“Bà chắc chắn không bị điếc âm chứ, thưa bà?” Đôi mắt lóe sáng giống như một con rắn đang trườn về phía một chú chim bị làm cho tê liệt, người đàn ông nhỏ con bắt đầu di chuyển về phía tôi, chiếc âm thoa rung lên giống như cái lưỡi thò ra thụt vào của một con hổ mang.
“Đợi một phút,” tôi nói, đưa tay ra ngăn lại. “Ông là ai đã?”
“Đây là Herr[1] Johannes Gerstmann, Sassenach ạ.” Tỏ ra vui mừng khi thấy tôi gặp họa, Jamie cúi chào người đàn ông lần nữa. “Thầy dạy nhạc của Đức vua. Cho phép tôi giới thiệu với ngài, vợ của tôi, phu nhân Broch Tuarach, ngài Gerstmann.” Tôi tin rằng Jamie biết mọi nhân vật trong vương triều này, cho dù người đó có không quan trọng đi nữa.
Johannes Gerstmann. À, điều đó lý giải cho trọng âm yếu ớt của ông ta mà tôi đã nhận thấy rằng khác với cách phát âm trang trọng của triều đình Pháp. Tôi thắc mắc, người Đức, hay người Áo nhỉ?
“Tôi đang soạn một khúc túc hứng nhỏ,” ông thầy giáo bé nhỏ giải thích. “Những giọng ca không cần phải điêu luyện, nhưng phải khỏe và chân thật.” Ông ta ném về phía Jamie một ánh mắt chán chường vỡ mộng, anh chàng chỉ nhăn nhở cười đáp lại. Anh lấy cây âm thoa từ ngài Gerstmann và giơ nó về phía tôi vẻ dò hỏi.
“Ồ, được rồi,” tôi kêu lên và hát.
Bất kể ngài Gerstmann nghe thấy gì, có vẻ nó cũng an ủi ông ta rất nhiều, vì ông ta đã bỏ cây âm thoa xuống và nhìn tôi chằm chằm một cách thích thú. Bộ tóc giả của ông ta có vẻ quá to và có xu hướng trượt về phía trước mỗi khi ông ta gật gù hứng thú. Lúc này, ông ta gật đầu, tùy tiện đẩy bộ tóc về phía sau rồi nói: “Một chất giọng tuyệt hảo, thưa bà! Thực sự rất hay, quả là rất rất hay. Bà có biết bài Le Papillon không?” Ông ta ngâm nga vài nốt bắt nhịp.
“À, tôi ít nghe thấy bài đó,” tôi thận trọng trả lời. “Ừm. Ý tôi là giai điệu đó; tôi không biết lời.”
“À! Không có gì khó đâu, thưa bà. Điệp khúc của nó đơn giản lắm; như thế này này…”
Cánh tay tôi bị ông thầy nắm chặt, tôi thấy mình đang bị kiên quyết kéo tới hướng có tiếng đàn cla-vơ-xanh vẳng đến từ căn phòng xa xa, ngài Gerstmann ư ử bên tai tôi như một chú ong vo ve điên loạn.
Tôi ném một ánh mắt bất lực về phía Jamie, anh chỉ cười nhe nhởn và nâng cốc nước hoa quả lên trong dáng điệu chào từ biệt trước khi quay sang trò chuyện với ông Duverney trẻ, con trai của ngài Bộ trưởng Tài chính.
Ngôi nhà của gia tộc Rohan - nếu bạn có thể dùng từ “nhà” để miêu tả một nơi như thế - sáng bừng bởi những chiếc đèn lồng đung đưa treo khắp vườn sau và bên rìa mái hiên. Khi ngài Gerstmann kéo tôi đi xuyên qua dãy hành lang, tôi trông thấy đám người hầu đang vội vã ra vào phòng ăn, bày biện những chiếc khăn vải lanh và đồ bạc để chuẩn bị cho bữa tối một lát nữa sẽ diễn ra ở đó. Hầu hết “các phòng khách” đều là nơi diễn ra những chuyện yêu đương thân mật nho nhỏ, nhưng Công nương Louise de La Tour de Rohan là một con người có tính cách cởi mở, phóng khoáng.
Tôi đã gặp vị công nương này một tuần trước, trong một bữa tiệc tối khác, và thấy ở cô một vài điều thật đáng ngạc nhiên. Đẫy đà và khá mộc mạc, cô có khuôn mặt tròn với cái cằm nhỏ ngấn thịt, đôi mắt xanh lam không có lông mi và một cái nốt ruồi giả hình ngôi sao chẳng để làm gì cho đời. Đây chính là quý bà đã lôi kéo Hoàng tử Charles phớt lờ tiếng gọi của sự đúng mực ư? Tôi nghĩ và khẽ nhún gối chào ở hàng tiếp đón khách.
Nhưng ở con người cô có một bầu không khí sống động và khá là hấp dẫn, cùng với một khuôn miệng mềm mại dễ thương màu hồng tươi. Trên thực tế, cái miệng là phần sinh động nhất trên khắp cả người cô.
“Nhưng tôi đã bị quyến rũ mất rồi!” Cô cảm thán, nắm lấy bàn tay tôi khi đến lượt tôi được diện kiến. “Thật tuyệt khi cuối cùng đã được gặp bà! Chồng và cha tôi, cả hai đều ca ngợi mãi về ngài Broch Tuarach, nhưng về người vợ thú vị của ngài ấy thì họ lại chẳng nói gì. Ngay từ xa, tôi đã bị mê hoặc bởi cách bà tiến tới, bạn thân yêu của tôi, một quý bà ngọt ngào - hẳn tôi phải gọi là Broch Tuarach, hay chỉ là phu nhân Tuarach thôi nhỉ? Tôi không chắc là mình có thể nhớ được toàn bộ cái tên ấy, nhưng một từ, chắc hẳn rồi, dù là một từ nghe lạ lùng - nó là tiếng Scotland phải không? Thật quyến rũ làm sao!”
Thực ra, Broch Tuarach có nghĩa là “tòa tháp quay mặt về hướng bắc”, nhưng nếu cô muốn gọi tôi là “phu nhân quay mặt về hướng bắc” thì tôi thấy cũng được thôi. Nhưng cô nhanh chóng từ bỏ việc ghi nhớ “Tuarach”, và từ đó chỉ gọi tôi là “ma chère Claire[2]”.
Bản thân Louise đang ở cùng với một nhóm nhỏ các ca sĩ tại phòng nhạc, cô xôn xao trò chuyện và cười đùa với hết người này tới người khác. Khi trông thấy tôi, cô lao qua căn phòng, xông tới nhanh hết mức những vạt váy rườm rà trên người cho phép, khuôn mặt mộc mạc sáng lên vẻ sinh động.
“Ma chère Claire!” Cô thốt lên, tàn nhẫn tước đoạt tôi từ tay ngài Gerstmann. “Bà đến vừa đúng lúc! Lại đây, bà phải trò chuyện với đứa trẻ người Anh ngờ nghệch này cho tôi.”
“Đứa trẻ người Anh ngờ nghệch” thực ra là một thiếu nữ; một cô gái chưa quá mười lăm, với mái tóc quăn đen bóng, hai má ửng hồng vẻ ngượng nghịu gợi cho tôi nhớ đến một cây anh túc sáng chói. Thực ra, chính đôi má hồng của cô bé khiến tôi nhớ ra; cô gái mà tôi đã thoáng gặp trong khu vườn ở Versailles, ngay trước sự xuất hiện làm đảo lộn mọi thứ của Alexander Randall.
“Bà Fraser cũng là người Anh,” Louise đang giải thích với cô gái. “Bà ấy sẽ nhanh chóng khiến cô cảm thấy như đang ở nhà. Cô bé đang ngượng ngùng này,” Louise vừa giải thích vừa quay sang phía tôi mà không buốn ngừng lại để lấy hơi. “Hãy trò chuyện với cô bé; thuyết phục cô ấy hát cùng chúng tôi. Cô bé có một chất giọng đáng say mê, tôi cam đoan là thế. Đó, mes enfants[3], hãy vui vẻ tận hưởng nhé!” Và khẽ vỗ nhẹ vào người cô bé vẻ chúc phúc, cô rời đi sang phía bên kia căn phòng, cảm thán, phỉnh phờ, bày tỏ sự ngạc nhiên với một chiếc váy dài nữa mới đến, ngừng lại để vuốt ve một người trẻ tuổi quá cần đang ngồi cạnh chiếc đàn cla-vơ-xanh trong khi cô tán chuyện với Công tước di Castellotti.
“Chỉ nhìn bà ấy thôi cũng khiến em thấy mệt rồi, phải không?” Tôi nói bằng tiếng Anh, mỉm cười với cô gái. Một nụ cười dè dặt hiện ra trên môi và cô khẽ gật đầu, nhưng không nói gì. Tôi nghĩ đây chắc hẳn là do bị choáng ngợp quá, các bữa tiệc của Louise đều có khuynh hướng làm đầu óc tôi quay cuồng và cô gái nhỏ như cây anh túc này có lẽ hiếm khi bước chân ra khỏi trường học.
“Tôi là Claire Fraser,” tôi nói, “nhưng Louise không nhớ để bảo cho tôi biết tên em.” Tôi ngừng lại vẻ khích lệ, nhưng cô bé không đáp lời. Gương mặt cô càng lúc càng đỏ hơn, môi mím chặt vào nhau, hai nắm tay siết chặt để xuôi hai bên người. Tôi có hơi hoảng trước dáng vẻ của cô ấy, nhưng cuối cùng cô bé cũng thu đủ dũng khí để nói. Hít vào một hơi thật sâu, cô bé nâng cằm lên như chuẩn bị đi lên đoạn đầu đài.
“T-t-tên-tôi là… M-M-M,” cô bắt đầu, ngay lập tức tôi hiểu sự im lặng và vẻ bẽn lẽn đau đớn của cô bé. Cô nhắm mắt, cắn môi vẻ khổ sở, rồi mở mắt và đánh liều cố gắng một lần nữa. “M-M-Mary Hawkins,” cuối cùng cô bé cũng xoay xở thốt ra được. “Tôi k-kh-không biết hát,” cô bướng bỉnh bổ sung.
Nếu trước đó tôi thấy cô bé thật thú vị thì giờ đây tôi bị quyến rũ rồi. Vậy đây chính là cháu gái của Silas Hawkins, con gái một vị tòng nam tước và là hôn thê dự định của Tử tước Marigny! Có vẻ như những người đàn ông đã đặt lên người cô gái trẻ này một gánh nặng kỳ vọng quá lớn. Tôi liếc nhìn quanh để xem vị Tử tước kia có đang chứng kiến vụ việc này không và nhẹ nhõm khi không thấy ông ta.
“Đừng lo về chuyện đó,” tôi nói, bước tới trước mặt cô bé để che chắn cho cô khỏi làn sóng người lúc này đang đổ dồn vào phòng âm nhạc. “Em không cần phải nói chuyện nếu em không muốn. Dù vậy, có lẽ em nên cố gắng hát thử xem,” tôi nói, một ý nghĩ lóe lên trong đầu. “Tôi biết một bác sĩ từng là chuyên gia chữa trị chứng nói lắp; ông ta bảo rằng những người nói lắp không mắc phải tật đó khi họ hát.”
Đôi mắt Mary Hawkins mở lớn vẻ ngạc nhiên trước câu nói này. Tôi nhìn quanh và thấy một hốc tường gần đó, rèm được kéo vào để che đi một chiếc ghế băng ấm cúng.
“Đây,” tôi nói, cầm lấy tay cô bé. “Em có thể ngồi ở đây, vậy là không cần phải nói chuyện với mọi người nữa. Nếu em muốn hát, em có thể bước ra khi chúng tôi bắt đầu; nếu không, chỉ cần ở yên đây cho tới khi bữa tiệc này kết thúc.” Cô bé nhìn tôi chằm chằm một phút, rồi đột nhiên tặng cho tôi một nụ cười chói lòa đầy lòng biết ơn và chui tọt vào sau tấm rèm che hốc tường.
Tôi tha thẩn đi bên ngoài, ngăn cản bất cứ tên gia nhân ồn ào nào có thể đến quấy rầy chỗ ẩn nấp của cô bé, chuyện phiếm với những người đi ngang qua.
“Tối nay trông bà mới đáng yêu làm sao, ma chère!” Đó là bà de Ramage, một trong những thị nữ của hoàng hậu. Một người phụ nữ lớn tuổi và đức hạnh, bà đã đến dự bữa tối ở đường Tremoulins một, hai lần. Bà nồng nhiệt ôm tôi rồi nhìn quanh để chắc chắn rằng chúng tôi không bị quan sát.
“Tôi đã hy vọng có thể gặp bà ở đây, bạn thân yêu ạ,” bà nói, ghé lại gần hơn và hạ thấp giọng. “Tôi đã ước gì có thể khuyên bà hãy cẩn thận với Bá tước St. Germain.”
Tôi quay sang hướng bà đang nhìn chằm chằm, tôi trông thấy một người đàn ông đã gặp ở cảng Le Havre, đang bước vào phòng nhạc với một phụ nữ trẻ trung ăn vận trang nhã khoác tay ông ta. Ông ta không nhìn thấy tôi, bề ngoài có vẻ là thế, tôi vội vàng quay trở lại với bà de Ramage.
“Ông ta… ý tôi là… cái gì…” Tôi có thể cảm thấy người mình ửng hồng, trở nên lập cập, lúng túng trước sự xuất hiện của gã Bá tước ủ rũ đó.
“À, đúng vậy, ông ta đã nghe nói về bà,” bà de Ramage nói, tốt bụng giúp tôi thoát khỏi lúng túng. “Tôi đồ là đã có rắc rối nho nhỏ nào đó ở Le Havre hả?”
“Đại loại là thế,” tôi nói. “Chuyện là tôi đã nhận ra một ca nhiễm bệnh đậu mùa, nhưng hậu quả là khiến cho chiếc thuyền của ông ta bị phá hủy, và… ông ta không vui vẻ gì về chuyện đó,” tôi ủ rũ kết luận.
“À, ra là vậy.” Bà de Ramage trông có vẻ vui mừng. Tôi hình dung nội dung bên trong câu chuyện này, xem có gì để cung cấp cho bà ấy một ít thông tin nóng hổi làm lợi thế trong các cuộc tán gẫu của đời sống xã giao ở Paris.
“Ông ta đang nói với mọi người rằng ông ta tin bà là một phù thủy,” bà de Ramage nói, mỉm cười và vẫy tay với một người bạn ở phía bên kia phòng. “Một câu chuyện mới hay ho làm sao! Ồ, không ai tin nó cả,” bà ấy cam đoan với tôi. “Mọi người đều biết rằng nếu có kẻ nào dính dáng tới chuyện phù thủy này kia thì đó chính là bản thân ông Bá tước!”
“Thật ư?” Tôi muốn hỏi bà ấy có ý gì, nhưng ngay lúc đó ngài Gerstmann đã thúc giục, vỗ tay như thể đang xua một đàn gà mái.
“Nào, nào, các quý bà!” Ông ta nói. “Chúng ta đã xong cả rồi; bắt đầu hát nào!”
Trong khi đội hợp xướng hối hả tập trung lại bên cạnh chiếc đàn cla-vơ-xanh, tôi nhìn về phía hốc tường đằng sau nơi giấu Mary Hawkins. Tôi nghĩ là mình đã thấy tấm rèm hơi nhăn lại, nhưng không chắc chắn. Âm nhạc bắt đầu, những giọng hát cùng hòa vào nhau vang lên, tôi nghĩ mình đã nghe thấy một giọng nữ cao vút trong trẻo cất lên từ phía hốc tường - nhưng một lần nữa tôi không dám chắc chắn.
•••
“Rất hay, Sassenach,” Jamie nói khi tôi gặp lại anh, mặt đỏ bừng và nghẹt thở sau khi hát xong. Anh cười toe toét và vỗ nhẹ lên vai tôi.
“Làm sao anh biết được?” Tôi nói, nhận lấy một ly rượu pân từ một người phục vụ đi ngang qua. “Anh còn không thể phân biệt được bài hát này với bài hát khác.”
“Ồ, nhưng dù sao em hát rất to,” anh nói, hết sức bình thản. “Anh có thể nghe rõ từng từ.” Tôi cảm thấy anh hơi cứng người lại ngay bên cạnh mình, bèn quay ra xem xem thứ gì - hay người nào - mà anh đang nhìn.
Một phụ nữ vừa mới bước vào, vóc người bé nhỏ, chỉ cao tới ngang bụng Jamie, tay chân trông như búp bê, hai hàng lông mày thanh thanh như hóa trang theo kiểu Trung Quốc bên trên đôi mắt đen sẫm như những trái mận gai. Cô ta tiến về phía trước bằng bước đi nhẹ bẫng, trông như thể đang lướt đi trên mặt đất.
“Đó là Annalise de Marillac,” tôi nói, vẻ ngưỡng mộ. “Trông cô ấy không đáng yêu sao?”
“Ồ, có chứ!” Điều gì đó trong giọng anh khiến tôi phải lập tức liếc mắt nhìn lên. Một thoáng ửng hồng yếu ớt hiện ra trên vành tai anh.
“Mà này, em đã nghĩ anh dành những năm tháng sống ở Pháp để đánh nhau chứ không phải để tạo ra những cuộc chiếm đoạt mang màu sắc lãng mạn,” tôi nói một cách chua ngoa.
Trước sự ngạc nhiên của tôi, lần này anh cười vang. Nghe thấy tiếng cười, người phụ nữ kia liền quay về phía chúng tôi. Một nụ cười chói lóa thắp sáng cả khuôn mặt cô ta khi trông thấy Jamie hiện ra to lớn giữa đám đông. Cô ta rẽ sang như định tiến về phía chúng tôi, nhưng lại bị một quý ông, đầu đội tóc giả rực rỡ, mặc bộ đồ xa tanh màu oải hương, cắt ngang, kẻ này đặt một bàn tay gạ gẫm lên cánh tay mong manh dễ vỡ của Annalise de Marillac. Cô ta khẽ phất cây quạt một cách quyến rũ về phía Jamie trong một cử chỉ đỏm dáng tỏ ý lấy làm tiếc trước khi dâng hiến sự chú ý của mình cho người bầu bạn mới.
“Gì mà vui thế?” Tôi hỏi, thấy anh vẫn đang toe toét cười nhìn theo tà váy ren đung đưa nhẹ nhàng của cô ta.
Anh đột ngột tỉnh trí, ý thức được sự hiện diện của tôi, liền cúi xuống cười.
“Ồ, không có gì, Sassenach ạ. Chỉ là điều em nói về chuyện đánh đấm thôi. Anh đã thực hiện trận đấu tay đôi đầu tiên của mình - à, thực ra là trận duy nhất - vì Annalise de Marillac. Hồi anh mười tám.”
Giọng anh hơi mơ màng, mắt dõi theo mái đầu đen bóng mượt kia đi xa dần xuyên qua đám đông, bị vây quanh bởi cơ man những mái tóc giả màu trắng và tóc rắc phấn, lác đác có một bộ tóc giả màu hồng nhạt nổi bật khác lạ.
“Một trận đấu tay đôi? Với ai?” Tôi hỏi, cảnh giác nhìn bất cứ cái đuôi giống đực nào tiếp cận cô nàng búp bê Trung Quốc kia, kẻ có khả năng dính líu đến cuộc tranh chấp năm xưa.
“Ấy, hắn ta không có ở đây,” Jamie nói, trực tiếp cắt ngang tầm mắt tôi. “Hắn chết rồi.”
“Anh đã giết hắn?” Bị kích động, tôi buột miệng nói to. Vài cái đầu ở gần tò mò quay về phía chúng tôi, Jamie nắm lấy khuỷu tay tôi và hối hả hướng tôi tiến về phía cánh cửa ra vào gần nhất.
“Cẩn thận với cái giọng của em đấy, Sassenach,” anh nói, đủ ôn tồn. “Không, anh không giết hắn. Dù đã muốn thế lắm,” anh rầu rĩ nói thêm, “nhưng không được. Hắn chết hai năm sau đó, bị sưng họng mà chết. Jared kể với anh thế.”
Anh dẫn tôi đi xuống một lối mòn trong vườn, được chiếu sáng bởi những gia nhân cầm đèn lồng đứng như những cây cột cách nhau khoảng năm mét một người suốt từ hiên nhà cho tới đài phun nước cuối con đường. Giữa một cái bể nước lớn, bốn con cá heo phun ra những màn nước trước cái nhìn khó chịu của Thần biển Triton ở trung tâm bể, vị thần này vung một cây đinh ba về phía chúng chẳng để làm gì.
“Vậy thì đừng có làm cho em phải nghi ngờ,” tôi thúc giục khi chúng tôi đi ra xa khỏi tầm nghe của những nhóm người quanh quẩn dưới hàng hiên. “Chuyện gì đã xảy ra?”
“Được rồi, thế này,” anh nói, vẻ cam chịu. “À thì, em thấy là Annalise khá là xinh đẹp, đúng không?”
“Ồ, thật thế à? Có lẽ, lúc này anh nhắc tới em mới nhận ra có vẻ là thế thật,” tôi ngọt ngào trả lời, lườm một cái vẻ khiêu khích và theo sau là một nụ cười nửa miệng.
“Đúng vậy. Hồi đó, anh không phải là chàng trai trẻ ga lăng duy nhất ở Paris có quan điểm như thế, cũng không phải là người duy nhất mất trí vì cô ta. Trong tình trạng mụ mị mê mẩn, anh đã sa chân. Chờ đợi trên đường với hy vọng được nhìn thấy cô ta đi ra khỏi nhà và lên xe ngựa. Thậm chí quên cả ăn; Jared đã nói rằng cái áo khoác treo trên người anh trông như áo của một thằng bù nhìn, và tình trạng tóc tai của anh cũng tương tự.” Bàn tay anh lơ đãng đưa lên đầu, vỗ nhẹ lên bím tóc tết đuôi sam hoàn hảo không chê vào đâu được nằm sát sau gáy, được buộc lại bằng một sợi ruy băng xanh.
“Quên cả ăn? Chúa ơi, anh đã tệ đến mức đó cơ à?” Tôi bình luận.
Anh cười lặng lẽ. “Đúng thế! Và còn tệ hơn nữa khi cô ta bắt đầu đùa bỡn với Charles Gauloise. Em hãy nhớ là,” anh thẳng thắn nói thêm, “cô ta tán tỉnh đùa giỡn với tất cả mọi người - chuyện đó cũng ổn cả thôi - nhưng cô ta lại chọn hắn làm bạn cùng ăn tối và nhảy với hắn quá nhiều trong các bữa tiệc, và… kết cục là, Sassenach, anh đã bắt gặp hắn đang hôn cô ta dưới ánh trăng trên hiên nhà cha cô ta vào một đêm nọ và anh đã thách đấu hắn.”
Lúc này, chúng tôi đã đi dạo đến đài phun nước. Jamie kéo tôi tới chỗ nghỉ và ngồi xuống thành đài phun, xuôi hướng gió với đám bụi nước phun ra từ miệng những con cá heo. Jamie cho một bàn tay xuống làn nước tối đen và nâng tay lên để nước nhỏ giọt xuống, lơ đãng ngắm nhìn những giọt nước lóng lánh màu bạc chảy xuống theo các ngón tay anh.
“Hồi đó ở Paris, đấu kiếm là phạm pháp, cũng giống như bây giờ. Nhưng vẫn có chỗ, luôn luôn có. Hắn ta chọn địa điểm, một nơi ở trong rừng Boulogne[4], gần đường Thất Thánh, nhưng được che khuất bằng một tấm bình phong thiên nhiên của những cây sồi. Chọn vũ khí cũng là hắn ta. Anh đã kỳ vọng là súng lục cơ, nhưng hắn đã chọn kiếm.”
“Tại sao hắn lại làm thế? Anh hẳn phải cao hơn hắn ta ít nhất là mười lăm phân.” Tôi không thông thạo nhưng tất nhiên là tôi đã học được đôi chút về chiến lược và chiến thuật đấu kiếm; Cứ hai, ba ngày, Jamie và Murtagh lại luyện tập một lần: xông vào, gạt đỡ, đâm thọc lên xuống khắp khu vườn, không bị ngăn trở nên đám gia nhân, nam và nữ đều như nhau, vui thích đổ xô ra các ban công để xem hai người đấu kiếm.
“Tại sao hắn lại chọn đoản kiếm ư? Bởi vì hắn là một tay cừ trong môn này. Đồng thời, anh nghi ngờ là hắn nghĩ anh có thể ngẫu nhiên giết chết hắn nếu đấu súng, trong khi anh sẽ thỏa mãn nếu chỉ cần rút ít máu của hắn bằng một lưỡi kiếm. Anh không có ý định giết hắn, em biết đấy,” anh giải thích, “chỉ muốn làm bẽ mặt hắn thôi. Và hắn biết điều đó. Hắn không hề ngu ngốc, Charles của chúng ta là thế,” anh nói, buồn bã lắc đầu.
Màn sương từ đài phun nước đang làm cho tóc của tôi tuột mất nếp, loăn xoăn phủ xuống quanh mặt. Tôi gạt một mớ tóc ra sau và hỏi: “Vậy anh có làm cho hắn bẽ mặt được không?”
“À, anh đã làm hắn bị thương, ít nhất là thế.” Tôi ngạc nhiên khi nghe thấy một nốt thỏa mãn trong giọng anh, liền nhướng mày nhìn anh. “Hắn đã học ngón đấu kiếm từ Lejeune, một trong những thầy dạy kiếm giỏi nhất nước Pháp.” Jamie giải thích. “Giống như đánh nhau với một con bọ chét chết tiệt ấy, y như thế, và anh cũng đã đấu với hắn bằng tay phải.” Anh đưa tay vuốt tóc lần nữa, như để kiểm tra phần tóc buộc có được chặt không.
“Giữa chừng tóc anh bị tuột ra,” anh nói. “Sợi dây buộc bị đứt và cơn gió thổi tóc bay vào mắt anh, vậy nên tất cả những gì anh có thể trông thấy chỉ là hình dáng màu trắng của Charles trong chiếc áo sơ mi, phóng ra và lùi lại như một con cá tuế. Và cuối cùng, đó chính là cách anh đánh hắn, cách mà em đâm một con cá bằng dao găm ấy.” Anh cười khẩy.
“Hắn bật ra một tiếng gào như bị anh đâm trúng, mặc dù anh biết là mình đã đánh trúng thật nhưng chỉ là xiên vào cánh tay hắn thôi. Cuối cùng, anh gạt tóc ra khỏi mặt, nhìn qua người hắn ra phía xa và thấy Annalise đang đứng bên rìa khu đất trống, với đôi mắt mở to và đen như cái bể nước đằng kia kìa.” Anh ra hiệu về phía mặt nước màu đen ánh bạc bên cạnh chúng tôi.
“Thế là anh tra kiếm của mình vào bao, vuốt tóc ra sau, đứng đó, khấp khởi hy vọng cô ta sẽ tiến đến và lao vào vòng tay anh.”
“Ừm,” tôi ậm ừ. “Em đoán là cô ta đã không làm thế?”
“Phải, anh chẳng hiểu tí gì về phụ nữ cả, đúng không?” Anh hỏi. “Không, cô ta đã đi đến và lao vào lòng hắn, dĩ nhiên là thế.” Anh thốt ra một âm thanh trong cổ họng đúng kiểu người Scot, một kiểu tự giễu và chán ghét rất khôi hài. “Và kết hôn với hắn ta một tháng sau đó, anh nghe nói thế.”
“Vậy đấy!” Anh đột nhiên nhún vai với một nụ cười buồn bã. “Vậy là trái tim anh tan nát. Anh trở về quê nhà Scotland và thẫn thờ suốt nhiều tuần lễ, cho tới khi cha anh mất hết kiên nhẫn với anh.” Anh bật cười. “Anh thậm chí đã nghĩ đến việc phải đi tu. Anh đã nói với cha vào bữa tối một ngày nọ rằng anh nghĩ có lẽ vào mùa xuân anh sẽ tới tu viện và trở thành một tu sĩ tập sự.”
Tôi phá lên cười trước ý nghĩ này. “Vậy thì chắc anh không gặp khó khăn gì với lời thề sống trong cảnh nghèo nàn thiếu thốn; nhưng sự trinh bạch và phục tùng thì có lẽ khó khăn hơn một chút. Cha anh đã nói gì?”
Anh cười toe toét, hàm răng trắng bóc trên khuôn mặt tối đen. “Ông đang ăn bột yến mạch[5]. Ông đặt thìa xuống và nhìn anh một lúc. Sau đó, ông thở dài và lắc đầu, nói: “Đó sẽ là một ngày dài đấy, Jamie.” Rồi ông cầm thìa lên lần nữa và quay lại với bữa tối của mình, còn anh thì không bao giờ nói một lời nào về chuyện đó nữa.”
Anh ngẩng lên nhìn con dốc dẫn tới hiên nhà, nơi những người không khiêu vũ đang đi tha thẩn tới lui, họ hóng gió mát giữa các điệu nhảy, nhấm nháp rượu vang và tán tỉnh nhau sau những chiếc quạt. Anh thở dài lưu luyến.
“Phải, một thiếu nữ rất xinh xắn, Annalise de Marillac. Duyên dáng như làn gió, nhỏ bé đến mức em muốn nhét cô ta vào trong áo sơ mi và mang cô ta theo như một chú mèo con.”
Tôi lặng im, lắng nghe tiếng nhạc văng vẳng thoát ra từ những cánh cửa để mở phía trên kia, trong khi thưởng ngoạn đôi giày mềm bằng vải xa tanh lóng lánh bao quanh bàn chân cỡ số chín của mình.
Sau một lúc, Jamie bắt đầu ý thức được sự im lặng của tôi.
“Gì thế, Sassenach?” Anh hỏi, đặt tay lên cánh tay tôi.
“Ồ, không có gì,” tôi nói, kèm theo một tiếng thở dài. “Em chỉ đang nghĩ là liệu có ai sẽ miêu tả em “duyên dáng như một làn gió” không thôi.”
“A.” Đầu anh hơi xoay nghiêng, sống mũi cao thẳng và chiếc cằm cương nghị được chiếu sáng từ phía sau bởi ngọn đèn lồng gần nhất. Tôi có thể trông thấy nụ cười nửa miệng của anh khi anh quay về phía tôi.
“Vậy thì anh sẽ nói, Sassenach ạ, “duyên dáng” có thể không phải là từ đầu tiên bật ra trong đầu khi anh nghĩ về em.” Anh luồn một cánh tay ra sau lưng tôi, bàn tay to và ấm áp bao quanh bờ vai được bọc trong lớp vải lụa của tôi.
“Nhưng anh trò chuyện với em như anh trò chuyện với chính linh hồn mình,” anh nói, xoay mặt tôi đối diện với anh. Anh đưa tay lên ôm lấy má tôi, những ngón tay mơn trớn bên thái dương của tôi.
“Và Sassenach ạ,” anh thì thầm, “khuôn mặt em chính là trái tim anh.”
Gió đang đổi hướng, vài phút sau, nó tạt một màn bụi nước rõ đẹp từ đài phun vào chúng tôi. Chúng tôi vội vàng tách ra và đứng dậy, bật cười to vì cơn lạnh đột ngột từ làn nước. Jamie nghiêng đầu về phía hàng hiên vẻ dò hỏi, tôi khoác lên cánh tay anh và gật đầu.
“Vậy,” tôi nhận xét khi chúng tôi chầm chậm đi ngược lên những bậc thang rộng rãi dẫn tới phòng khiêu vũ, “bây giờ em thấy là anh đã học được nhiều hơn một chút về phụ nữ rồi.”
Anh bật cười, cúi xuống thật thấp, siết lấy eo tôi.
“Điều quan trọng nhất anh học được về phụ nữ, Sassenach ạ, là phải chọn ai.” Anh bước lùi ra xa, cúi chào tôi và ra hiệu về phía cánh cửa mở dẫn đến quang cảnh lộng lẫy bên trong. “Anh có thể mời em điệu nhảy này chứ, thưa phu nhân?”
•••
Tôi dành cả buổi chiều ngày hôm sau ở nhà d’Arbanville, nơi tôi gặp lại vị thầy giáo dạy nhạc của Đức vua. Lần này, chúng tôi đã có thời gian để trò chuyện nhiều hơn, sau đó tôi kể lại chi tiết cho Jamie sau bữa tối.
“Em nói cái gì cơ?” Jamie nheo mắt nhìn tôi như thể anh nghi ngờ tôi đang nói đùa.
“Em nói, ngài Gerstmann đã gợi ý rằng em có thể thích gặp gỡ một người bạn của ngài ấy. Mẹ Hildegarde chịu trách nhiệm quản lý nhà thương Des Anges - anh biết đấy, một bệnh viện từ thiện ngay gần nhà thờ lớn.”
“Anh biết chỗ đó ở đâu.” Giọng anh chứng tỏ anh không mấy hào hứng với chủ đề này.
“Ông ấy bị đau họng nên em nói cho ông ấy biết cần phải chăm sóc nó thế nào, dùng thuốc gì, và việc em quan tâm như thế nào tới các căn bệnh, anh biết đấy, cứ con cà ra con kê, chuyện này dẫn đến chuyện khác.”
“Với em thì như thế là bình thường,” anh tán thành, rõ ràng đang giễu cợt. Tôi phớt lờ giọng điệu của anh và tiếp tục.
“Vậy nên em sẽ đi đến bệnh viện đó vào ngày mai.” Tôi kiễng chân để với lấy hộp thuốc của mình từ trên giá. “Có lẽ em sẽ không mang nó đi cùng vào lần đầu tiên,” tôi nói, trầm ngâm kiểm tra những thứ có trong hộp. “Như thế có vẻ hăng hái quá nhỉ! Anh nghĩ sao?”
“Hăng hái?” Anh thốt lên vẻ sửng sốt. “Em đang ám chỉ việc đến thăm một địa điểm, hay chuyển vào đó vậy?”
“À, thì là,” tôi ậm ừ, hít vào một hơi thật sâu. “Em, ờ, đã nghĩ có lẽ em có thể làm việc ở đó thường xuyên. Ngài Gerstmann nói rằng tất cả bác sĩ và thầy thuốc đều đến đó làm từ thiện khi có thời gian. Hầu hết bọn họ không đến được hằng ngày, nhưng em có rất nhiều thời gian và em có thể...”
“Rất nhiều thời gian?”
“Đừng có lặp lại mọi lời em nói nữa đi,” tôi nói. “Phải, rất nhiều thời gian. Em biết việc đi tới các phòng khách và tham dự những bữa tiệc tối là rất quan trọng, nhưng nó không mất cả ngày - ít nhất là không cần thiết phải làm thế. Em có thể…”
“Sassenach, em đang mang thai! Em không định đi ra ngoài chăm sóc cho những tên ăn mày và tội phạm đấy chứ?” Giờ thì giọng anh nghe thật bất lực, như thể đang băn khoăn không biết phải xử lý thế nào với một kẻ bỗng nhiên lên cơn điên trước mặt anh.
“Em không quên,” tôi cam đoan với anh, áp hai bàn tay vào bụng mình, liếc nhìn xuống.
“Nó còn chưa lộ rõ đâu; với một chiếc váy rộng rãi, em có thể xoay xở được trong một thời gian nữa. Em chẳng sao cả ngoại trừ mấy cơn nôn ọe vào buổi sáng; nên không có lý do gì để em không thể làm việc thêm vài tháng nữa.”
“Không có lý do gì, ngoại trừ việc anh sẽ không để em làm thế!” Vì tối nay không có khách nên anh đã cởi tất và mở cổ áo khi về nhà. Tôi có thể trông thấy màu đỏ sậm đang lan lên cổ họng anh.
“Jamie,” tôi nói, cố gắng tìm kiếm lý lẽ. “Anh biết em là ai mà.”
“Em là vợ anh!”
“À, cái đó, cũng đúng.” Tôi búng mấy ngón tay gạt ý tưởng đó sang một bên. “Em là một y tá, Jamie ạ. Một thầy thuốc. Anh có lý do để biết rõ điều đó mà.”
Anh đỏ mặt tía tai. “Ừ, anh biết. Và bởi vì em đã khâu vết thương cho anh nên anh phải nghĩ em đi chăm sóc cho bọn ăn xin và đĩ điếm cũng là đúng đắn à? Sassenach, em có biết loại người nào được nhà thương Des Anges đó đón vào không?” Anh nhìn tôi với vẻ khẩn nài, như thể mong chờ lý trí của tôi quay trở lại.
“Có gì khác nhau đâu?”
Anh điên cuồng nhìn xung quanh phòng, cầu xin bức chân dung phía trên mặt lò sưởi làm chứng cho sự vô lý quá đáng của tôi.
“Em có thể bị lây một căn bệnh bẩn thỉu nào đó, ôi vì Chúa! Em không quan tâm đến con của mình sao, cho dù em không buồn quan tâm đến anh đi nữa?”
Đến lúc này thì chẳng cần lý lẽ gì nữa.
“Dĩ nhiên là có chứ! Anh nghĩ em là loại người khinh suất, không có trách nhiệm nào sao?”
“Là loại bỏ rơi chồng để chạy đi chơi trò hớt váng trong rãnh nước!” Anh bật lại. “Bởi vì em đã hỏi.” Anh luồn bàn tay to vào mái tóc mình và làm cho nó xù lên như một cái mũ miện.
“Bỏ rơi anh? Từ khi nào việc thực sự làm một điều gì đó thay vì ngồi mốc meo trong phòng khách nhà d’Arbanville, ngắm Louise de Rohan tự nhồi nhét bản thân bằng bột nhão, lắng nghe những bài thơ dở tệ và âm nhạc còn tệ hơn lại là bỏ rơi anh hả? Em muốn là người có ích!”
“Công việc chăm lo gia đình của em không có ích sao? Việc kết hôn với anh không phải là có ích à?” Cái túm tóc buộc của anh tuột ra dưới cơn căng thẳng, mớ tóc dày bị giũ tung ra giống như một vầng hào quang rực lửa. Anh trừng mắt nhìn xuống tôi y như một thiên thần báo thù.
“Nói người phải nghĩ đến mình,” tôi lạnh lùng vặn lại. “Việc cưới em có đủ thỏa mãn anh không? Sao em không thấy anh quanh quẩn trong nhà cả ngày, không thấy anh tôn sùng, kính yêu em? Và về chuyện nội trợ, tào lao!”
“Tào lao ư? Cái gì tào lao?” Anh hỏi.
“Linh tinh và vô nghĩa! Vớ vẩn! Vô lý! Nói cách khác, đừng có làm trò nực cười! Bà Vionnet làm mọi việc rồi và còn làm tốt hơn em cả chục lần.”
Điều này quá hiển nhiên đến nỗi làm anh dừng khựng lại mất một lúc. Anh trợn mắt nhìn tôi, quai hàm nghiến trèo trẹo.
“Ồ, phải! Vậy nếu anh cấm em đi thì sao?”
Đến lượt tôi đứng hình mất một lúc. Tôi vươn thẳng người, ngẩng lên nhìn anh từ trên xuống dưới, rồi lại từ dưới lên trên. Mắt anh có màu của đá đen lạnh lẽo, cái miệng rộng mím chặt thành một đường thẳng. Hai vai bạnh ra cứng ngắc, hai tay khoanh trước ngực như một bức tượng bằng đá lạnh lùng, “nguy hiểm chớ lại gần” chính xác là cụm từ hay nhất để miêu tả anh lúc này.
“Anh cấm em à?” Bầu không khí căng thẳng tóe lửa giữa hai chúng tôi. Tôi muốn chớp mắt, nhưng sẽ không cho anh cảm thấy thỏa mãn khi bẻ gãy được ánh mắt đanh thép của tôi. Tôi sẽ làm gì nếu anh ngăn cấm tôi đi? Các phương án lựa chọn chạy lướt qua trong đầu tôi, từ việc cắm một con dao mở thư bằng ngà voi vào giữa đám xương sườn của anh tới việc phóng hỏa đốt nhà kèm theo cả anh ở trong đó. Ý tưởng duy nhất tôi tuyệt đối loại bỏ là lùi bước nhượng bộ.
Anh ngừng lại, hít vào một hơi thật sâu trước khi nói. Hai tay anh siết chặt thành nắm đấm áp sát hai bên sườn, anh đã cố thả lỏng chúng ra bằng một nỗ lực thấy rõ.
“Không,” anh nói. “Không, anh không cấm em.” Giọng anh hơi run run vì cố gắng kiềm chế bản thân. “Nhưng nếu anh yêu cầu em thì sao?”
Tôi nhìn xuống, mắt đăm đăm dán vào hình phản chiếu của anh trên mặt bàn bóng loáng. Ban đầu, ý nghĩ đến thăm nhà thương Des Anges có vẻ như chỉ là một ý tưởng thú vị, một lựa chọn hấp dẫn thay thế cho trò tán gẫu bất tận và những âm mưu ngấm ngầm vặt vãnh của xã hội Paris. Nhưng bây giờ… tôi có thể cảm thấy các thớ thịt trên hai cánh tay mình đang căng cứng khi tôi siết chặt nắm đấm. Tôi không phải chỉ muốn lại được làm việc; tôi cần làm việc.
“Em không biết,” cuối cùng, tôi nói.
Anh hít vào một hơi thật sâu rồi từ từ thở ra.
“Em sẽ suy nghĩ về chuyện đó chứ, Claire?” Tôi có thể cảm thấy ánh mắt anh dán chặt vào người mình. Sau một khoảng thời gian suy nghĩ dường như rất dài, tôi gật đầu.
“Em sẽ suy nghĩ về nó.”
“Tốt.” Sự căng thẳng tan vỡ, anh bồn chồn quay đi. Anh quanh quẩn đi lại trong phòng khách, cầm thứ này thứ kia lên xem rồi lại để xuống, cuối cùng đi đến bên giá sách, dựa vào đó và thất thần nhìn chằm chằm những tựa sách bọc bìa da. Tôi ngập ngừng bước tới bên cạnh anh và đặt một bàn tay lên cánh tay anh.
“Jamie, em không định làm anh buồn đâu.”
Anh liếc nhìn tôi và nhếch miệng cười.
“Phải, đúng thế! Anh cũng không định cãi cọ với em đâu, Sassenach ạ! Anh nóng tính và dễ tự ái, anh nghĩ thế.” Anh vỗ nhẹ lên tay tôi tỏ ý xin lỗi, rồi đi qua một bên, đứng nhìn xuống bàn làm việc của anh.
“Anh vẫn đang làm việc chăm chỉ,” tôi nói vẻ xoa dịu và bám theo anh.
“Không phải thế!” Anh lắc đầu, với tay lật giở mấy trang cuốn sổ cái lớn đặt ở giữa bàn làm việc.
“Chuyện kinh doanh rượu; cái đó thì ổn cả. Đó là một công việc tuyệt vời, đúng vậy, nhưng anh không quan tâm đến nó. Là thứ khác kia.” Anh ra hiệu về phía một chồng thư nhỏ, được một cái chặn giấy bằng thạch cao tuyết hoa đè lên. Một trong số đó là thư của Jared, nó được khắc một hình hoa hồng trắng - vật tượng trưng của nhà Stuart. Những lá thư kia không nghi ngờ gì là đến từ Tu viện trưởng Alexander, Bá tước Mar và các thành viên Jacobite cốt cán khác. Tất cả đều đầy những lời hỏi han úp mở, những hứa hẹn mịt mờ, những kỳ vọng mâu thuẫn.
“Anh cảm thấy mình như đang đánh nhau với một đám lông vũ!” Jamie nói vẻ phẫn nộ. “Một trận đánh thực sự thì anh còn có thể chạm tay vào được, nhưng chuyện này...” Anh nắm cả một vốc thư từ dưới bàn lên và quăng chúng lên không trung. Căn phòng giá lạnh, giấy tờ lả tả rơi liệng theo đường chữ chi, lướt xuống dưới đám đồ đạc bằng gỗ và đáp xuống thảm trải sàn.
“Chẳng được gì cả,” anh nói một cách bất lực. “Anh có thể nói với hàng nghìn người, viết hàng trăm lá thư, uống rượu với Charles cho tới khi mù mắt và không bao giờ biết liệu mình còn đứng lên được nữa hay không.”
Tôi để mặc những lá thư rải rác nằm ở đó; một cô hầu gái có thể thu nhặt chúng sau.
“Jamie,” tôi khẽ nói. “Chúng ta chẳng thể làm gì khác ngoài việc cố gắng.”
Anh cười yếu ớt, chống hai tay lên bàn. “Phải. Anh mừng là em đã nói “chúng ta”, Sassenach ạ! Đôi lúc, anh thực sự cảm thấy rất cô đơn với tất cả những gánh nặng này.”
Tôi vòng hai tay ôm eo anh và áp mặt lên lưng anh.
“Anh biết là em sẽ không bỏ lại anh một mình với nó mà,” tôi nói. “Xét cho cùng, em chính là người đã kéo anh vào chuyện này ngay từ đầu.”
Tôi cảm thấy một sự rung động nhỏ dưới má mình khi anh cười.
“Phải, chính là em. Anh sẽ không dùng nó để chống lại em đâu, Sassenach.” Anh quay người lại, cúi xuống và hôn lên trán tôi. “Em trông có vẻ mệt rồi, mo duinne. Giờ thì lên giường đi! Anh làm việc thêm một lúc nữa nhưng sẽ đến với em nhanh thôi.”
“Được rồi.” Tối nay tôi mệt mỏi thật, dù cơn buồn ngủ thường thấy trong thời kỳ đầu có thai đang mang tới năng lượng mới; tôi đang bắt đầu cảm thấy tỉnh táo hơn vào ban ngày, lúc nào cũng có cảm giác thúc giục muốn được hoạt động.
Tôi dừng lại trước cánh cửa trên đường đi ra. Anh vẫn đang đứng cạnh bàn, chăm chú nhìn xuống quyển sổ cái để mở.
“Jamie?” Tôi gọi.
“Ừ?”
“Chuyện bệnh viện - em đã nói là sẽ suy nghĩ. Cả anh cũng vậy nhé!”
Anh quay đầu lại, một bên lông mày nhướng cao như cánh cung. Rồi anh mỉm cười và hơi gật đầu.
“Anh sẽ đến với em nhanh thôi, Sassenach,” anh nói.
•••
Trời vẫn mưa tuyết, những mảnh li ti của trận mưa đông lạnh ấy rơi lộp bộp táp vào cửa sổ và rít lên trong lò sưởi khi trận gió đêm hắt chúng rơi xuống qua ống khói. Cơn gió ở trên cao rền rĩ và gầm gào trong các ống khói, làm cho căn phòng ngủ dường như càng ấm cúng hơn bởi sự đối lập với thời tiết bên ngoài. Bản thân chiếc giường đã là một ốc đảo của sự ấm áp và thoải mái, được trang bị những chiếc chăn lông ngỗng, những chiếc gối lớn mềm mại, và Jamie - thủy chung phát ra nhiệt lượng như một chiếc lò sưởi điện.
Bàn tay to lớn của anh nhẹ nhàng vuốt ve bụng tôi, hơi ấm xuyên qua lớp lụa mỏng của chiếc váy ngủ tôi đang mặc.
“Không, ở chỗ kia cơ. Anh phải ấn mạnh hơn một chút.” Tôi nắm tay anh và ấn các ngón tay xuống phía dưới, ngay trên xương mu của tôi, nơi tử cung đã bắt đầu nhô lên rõ ràng, một khối tròn, cứng và chỉ lớn hơn quả nho một chút.
“Phải, anh cảm thấy nó rồi,” anh thì thầm. “Anh chàng thực sự ở đó.” Một nụ cười tủm tỉm vui sướng đầy vẻ tôn sùng nhếch lên trên khóe miệng anh. Anh ngước nhìn tôi, đôi mắt sáng lấp lánh. “Em có thể cảm thấy nó động đậy không?”
Tôi lắc đầu. “Chưa đâu. Khoảng một tháng nữa cơ, em nghĩ vậy, theo như chị Jenny của anh nói.”
“Ừm,” anh đáp, hôn lên chỗ bụng đã phình ra của tôi. “Em nghĩ “Dalhousie” thì thế nào, Sassenach?”
“Em nghĩ gì về “Dalhousie” nghĩa là gì?” Tôi hỏi lại.
“À, một cái tên,” anh nói. Anh nhè nhẹ vỗ về bụng tôi. “Cậu nhóc cần một cái tên chứ.”
“Thật vậy,” tôi nói. “Nhưng điều gì khiến anh nghĩ đó là một cậu nhóc? Nó có thể là một cô bé.”
“Ồ? Đúng nhỉ,” anh công nhận, như thể khả năng đó chỉ vừa mới xuất hiện đối với anh. “Nhưng tại sao không bắt đầu với tên của các cậu bé trước nhỉ? Chúng mình có thể đặt tên cho nó theo tên ông bác đã nuôi lớn em.”
“Ừmm.” Tôi nhíu mày. Mặc dù vô cùng yêu quý bác Lamb, tôi không biết mình có muốn giáng cái tên “Lambert” hay “Quentin” lên một đứa bé còn ẵm ngửa không nữa. “Không, em không nghĩ vậy. Em cũng không muốn đặt tên con theo tên một trong những ông cậu của anh đâu.”
Jamie lơ đãng vuốt ve bụng tôi, nghĩ ngợi.
“Thế tên cha em thì sao, Sassenach?” Anh hỏi.
Tôi đã phải nghĩ mất một lúc mới nhớ ra.
“Henry,” tôi nói. “Henry Montmorency Beauchamp. Jamie, em sẽ không có một đứa con nào tên là “Montmorency Fraser” đâu nhé, dù thế nào cũng không. Em cũng không thích cái tên Henry lắm, mặc dù nó còn hay hơn Lambert. Thế William thì sao?” Tôi gợi ý. “Theo tên anh trai anh?” Anh trai của Jamie, William, đã mất từ khi còn nhỏ, nhưng anh đã sống đủ lâu để khiến Jamie nhớ về anh với tình yêu thương sâu sắc.
Anh nhíu mày ngẫm nghĩ. “Hừm,” anh nói, “được, có thể. Hoặc chúng ta có thể gọi nó là…”
“James,” một giọng nói sầu thảm, trống rỗng vọng ra từ ống khói.
“Gì cơ?” tôi thốt lên, ngồi thẳng dậy trên giường.
“James,” cái lò sưởi lại nói, vẻ nôn nóng. “James, James!”
“Ôi thánh thần ơi,” Jamie thốt lên, nhìn chằm chằm vào ngọn lửa bập bùng trên vỉ lò sưởi. Tôi cảm thấy lông tơ dựng đứng lên trên cánh tay anh, cứng lại như dây thép. Anh ngồi đông cứng trong một lúc; sau đó, một ý nghĩ nảy ra, anh nhảy xuống giường, đi tới cửa sổ mái nhà, không bận tâm khoác thêm thứ gì ngoài chiếc áo sơ mi đang mặc trên người.
Anh đẩy khung cửa kính lên, đón nhận luồng không khí buốt giá để thò đầu ra ngoài nhìn. Tôi nghe thấy một tiếng thét nghèn nghẹn và rồi một âm thanh bò trườn qua mái nhà lợp đá đen, ướt đẫm nước mưa, vừa nỗ lực vừa cằn nhằn. Anh kéo người đó vào, có hai cánh tay ôm siết cổ anh, thân hình của một chàng trai xinh đẹp trong bộ quần áo tối màu, mặc dù ướt sũng, với một mảnh vải dính máu bọc quanh một bàn tay.
Vị khách bám hai bàn chân lên bậu cửa sổ và vụng về tiếp đất, nằm lăn ra sàn nhà. Cậu ta bò lên ngay lập tức và cúi chào tôi, bỏ chiếc mũ ướt trên đầu xuống.
“Chào bà,” cậu ta nói bằng một thứ tiếng đặc trọng âm Pháp. “Tôi xin bà thứ lỗi vì đã đến rất không đúng lễ nghi như thế này. Tôi không mời mà đến, nhưng vì là chuyện cấp thiết nên tôi mới ghé thăm người bạn James của mình vào một giờ không thích hợp như vậy.”
Cậu ta là một chàng trai ưa nhìn và cứng cáp, với mái tóc dày màu nâu nhạt loăn xoăn xõa trên vai và một khuôn mặt đẹp, hai má đỏ hồng vì lạnh và ráng sức. Cậu ta bị sổ mũi, bèn dùng mu bàn tay băng bó quệt đi, mặt hơi cau lại khi làm thế.
Jamie, cả hai lông mày nhướng lên, lịch sự cúi chào vị khách.
“Ngôi nhà của tôi xin sẵn sàng phục vụ ngài, thưa Điện hạ,” anh nói, mắt liếc nhìn tổng thể bộ đồ nhếch nhác của vị khách. Chiếc khăn cà vạt của cậu ta còn chưa đeo vào vẫn đang treo lủng lẳng quanh cổ, khuy áo cài lệch một nửa phía trên, khóa quần vẫn chưa đóng hoàn chỉnh. Tôi thấy Jamie hơi cau mày khi nhìn chỗ đó, và anh kín đáo di chuyển đến trước mặt chàng thanh niên để chắn tầm nhìn của tôi khỏi hình ảnh bất nhã ấy.
“Tôi xin được giới thiệu vợ của mình, thưa Điện hạ.” Anh nói. “Claire, phu nhân Broch Tuarach. Claire, đây là Điện hạ, Hoàng tử Charles, con trai của Vua James của Scotland.”
“Vâng,” tôi nói, “tôi đã được nghe nói về người. À, buổi tối tốt lành, thưa Điện hạ.” Tôi hòa nhã gật đầu chào, kéo chiếc chăn quấn quanh người mình. Tôi cho rằng trong tình huống này, tôi có thể bỏ qua việc nhún gối cúi chào như bình thường.
Hoàng tử đã tranh thủ bài giới thiệu dài của Jamie để lần mò chỉnh lại chiếc quần của mình cho chỉnh tề hơn và lúc này gật đầu đáp lại tôi, đầy phong thái hoàng gia.
“Tôi rất lấy làm vinh hạnh, thưa bà,” cậu ta nói, một lần nữa cúi chào, trong tư thế cao nhã hơn nhiều. Cậu ta đứng thẳng lại và chuyển chiếc mũ từ tay này sang tay kia, rõ ràng là đang cố nghĩ xem nên nói gì tiếp theo. Jamie đang đi chân trần, mặc độc một chiếc áo sơ mi, liếc nhìn từ tôi sang Charles, có vẻ như anh cũng đang trong tình trạng tạm thời mất khả năng ngôn ngữ.
“À...” Tôi cất lời, phá tan sự im lặng. “Ngài đã gặp tai nạn ư, thưa Điện hạ?” Tôi ra dấu về phía chiếc khăn tay quấn quanh bàn tay của cậu ta, Hoàng tử liếc nhìn xuống như thể lần đầu tiên nhận ra nó.
“Phải,” cậu ta nói, “à… không. Ý tôi là… không có chuyện gì cả, thưa phu nhân.” Mặt cậu ta đỏ hơn, nhìn chằm chằm vào bàn tay mình. Cách hành xử của cậu ta thật kỳ quái; có điều gì đó giữa ngượng ngùng và tức giận. Tôi thấy vết bẩn trên mảnh vải kia đang lan rộng ra, bèn bước xuống giường, mò mẫm tìm cái áo choàng mặc nhà.
“Ngài nên để tôi kiểm tra một chút,” tôi nói.
Vết thương này, căn cứ theo dáng vẻ miễn cưỡng của Hoàng tử, có vẻ không nghiêm trọng lắm, nhưng chắc chắn nó cũng không bình thường.
“Trông giống vết cắn của động vật,” tôi nói vẻ hoài nghi, tay vỗ nhẹ lên vết thương nhỏ hình bán nguyệt nằm giữa ngón cái và ngón trỏ. Hoàng tử Charles nhăn mặt khi tôi nặn máu để thanh tẩy vết thương trước khi băng nó lại.
“Phải,” cậu ta nói. “Một con khỉ cắn. Con quái thú rận rệp, đáng ghê tởm!” Cậu ta buột miệng thốt lên. “Tôi đã bảo cô ấy là phải tống khứ nó đi. Không nghi ngờ gì, con vật ấy là điều không lành!”
Tôi tìm hộp thuốc của mình và bôi một lớp mỏng thuốc mỡ được chế ra từ cây long đởm lên vết thương. “Tôi nghĩ ngài không cần phải lo lắng đâu,” tôi nói, mải mê với việc của mình. “Miễn là nó không bị dại.”
“Dại?” Hoàng tử trở nên tái xanh. “Bà nghĩ là nó có thể ư?” Rõ ràng cậu ta không hiểu “dại” có nghĩa là gì, nhưng vẫn không muốn bị dính dáng đến nó.
“Bất cứ điều gì đều có thể xảy ra,” tôi vui vẻ nói. Bị sự xuất hiện của cậu ta làm cho kinh ngạc, tôi chợt có một ý nghĩ rằng nếu chàng trai trẻ này không kháng cự nổi một căn bệnh nào đó và nhanh chóng bị mất mạng thì sau này mọi người sẽ được giải thoát khỏi rắc rối to lớn kia. Nhưng trái tim tôi không đành lòng cầu cho cậu ta bị chứng hoại tử hay bệnh dại, tôi băng bó bàn tay cậu ta bằng băng vải lanh mới tinh một cách gọn gàng.
Cậu ta cười, cúi đầu chào lần nữa và cảm ơn tôi rất nhiều một cách vô cùng duyên dáng bằng một thứ hỗn hợp cả tiếng Pháp lẫn tiếng Ý. Vẫn còn xin lỗi hết lời vì sự viếng thăm đường đột của mình, Hoàng tử đã bị Jamie - giờ anh đã mặc váy đàng hoàng - dắt xuống nhà để uống một ly.
Cảm thấy sự lạnh giá của căn phòng thấm qua chiếc váy dài, tôi bò trở vào giường và kéo chăn lông lên đến tận cằm. Vậy đây chính là Hoàng tử Charles! Đủ xinh đẹp, chắc chắn thế; ít nhất là nhìn bề ngoài. Cậu ta dường như còn rất trẻ - trẻ hơn Jamie rất nhiều, mặc dù tôi biết Jamie chỉ lớn hơn cậu ta một, hai tuổi là cùng. Vị Điện hạ này quả là có phong thái quyến rũ, dù khá là tự cao, bất chấp việc ăn mặc lôi thôi. Liệu điều đó đã thực sự đủ để đưa cậu ta tới Scotland, trong vai trò đứng đầu của một đội quân để giành lại vương quyền? Trong khi thả hồn lơ đãng, tôi tự hỏi chính xác thì người thừa kế ngai vàng Scotland này đã làm gì mà lang thang trên các mái nhà Paris giữa đêm hôm khuya khoắt với một vết thương do khỉ cắn trên tay như thế.
Câu hỏi này vẫn còn trong đầu tôi khi Jamie đánh thức tôi sau đó, lúc anh lẻn trở lại giường và áp bàn chân to lớn lạnh như đá vào ngay khuỷu chân tôi.
“Đừng có gào lên như thế,” anh nói, “em sẽ đánh thức người hầu dậy bây giờ.”
“Thế quái nào mà Charles Stuart lại chạy rông trên mái nhà với khỉ hả?” Tôi hỏi, đánh trống lảng. “Bỏ mấy cục đá chết tiệt đó ra khỏi người em ngay.”
“Đi thăm tình nhân của cậu ta,” Jamie đáp ngắn gọn. “Được rồi, thế; đừng có đá anh nữa.” Anh bỏ bàn chân ra và ôm lấy tôi, rùng mình, trong khi đó tôi quay mặt về phía anh.
“Cậu ta có tình nhân? Ai?” Bị kích thích bởi hơi lạnh và vụ xì căng đan, tôi nhanh chóng tỉnh hẳn.
“Là Louise de La Tour,” Jamie miễn cưỡng giải thích, để đáp lại cú thúc của tôi. Mũi anh trông dài và sắc cạnh hơn bình thường với hàng lông mày rậm kéo lại gần nhau phía trên. Theo quan điểm Công giáo của người Scotland, có tình nhân là đủ tồi tệ rồi, nhưng mọi người đều biết rằng hoàng gia có những đặc quyền hiển nhiên trong vấn đề này. Tuy thế, Công nương Louise de La Tour đã kết hôn. Và dù hoàng gia hay không hoàng gia, thì việc biến một người phụ nữ đã kết hôn thành nhân tình hiển nhiên là hành vi vô đạo đức, người họ hàng Jared chính là một ví dụ.
“Ha,” tôi thốt lên với vẻ thỏa mãn. “Em biết mà!”
“Cậu ta nói cậu ta yêu cô ấy,” anh báo cáo gọn lỏn, kéo chiếc chăn lông lên qua vai. “Cậu ta khăng khăng cô ấy cũng yêu mình; nói rằng cô ấy đã chỉ chung thủy với cậu ta suốt ba tháng vừa qua. Trời ạ!”
“Thế à, cần phải biết chuyện đã xảy ra chứ,” tôi thích thú nói. “Vậy cậu ta đang đi thăm cô ấy ư? Làm thế nào mà cậu ta lại lên trên mái nhà được? Cậu ta có kể với anh chuyện đó không?”
“Ồ, có. Cậu ta đã kể.”
Charles, sau khi được củng cố tinh thần để chống chọi với đêm nay bằng vài cốc rượu vang đỏ lâu năm thượng hảo hạng của Jared, đã sẵn sàng kể rõ mọi chuyện. Sức mạnh của một tình yêu chân chính đã bị thử thách trong đêm nay, theo lời Charles, vì người tình của cậu ta rất cưng chiều con thú cưng của mình, một con khỉ khá là xấu tính đã dám đáp trả sự chán ghét của cậu ta bằng cách làm nhiều trò ám chỉ để bày tỏ thái độ của nó. Khi búng ngón tay vào mũi con khỉ để trêu chọc nhạo báng, Hoàng tử Điện hạ đã phải hứng chịu một cú cắn vào tay, rồi sau đó là một cú cắn còn đau đớn hơn từ miệng lưỡi người tình của mình, cậu ta bị chỉ trích cay đắng. Cặp đôi này đã nóng nảy cãi vã, đến mức Công nương de Rohan đã ra lệnh cho Charles biến đi cho khuất mắt. Cậu ta đã buộc bản thân mình phải đi và không bao giờ - cậu ta đã kịch liệt nhấn mạnh thế - quay trở lại.
Tuy nhiên, việc rời đi của Hoàng tử đã gặp phải một sự ngăn trở to lớn bởi phát hiện ra chồng của Công nương đã trở về nhà sớm hơn sau buổi chơi bài của ông ta tối hôm nay và đang ngồi thoải mái trong phòng chờ cùng với một chai rượu brandy.
“Vậy là,” Jamie cười nói bất chấp bản thân mình nghĩ gì, “cậu ta không ở lại chỗ người phụ nữ đó được nữa, nhưng lại không thể đi ra cửa, cho nên đành ném khăn thắt lưng và trèo lên mái nhà. Cậu ta nói cậu ta gần như đã trèo được xuống đường, theo những đường ống máng dẫn nước; nhưng rồi cảnh vệ thành phố đi tuần và cậu ta lại phải bò ngược trở lên để tránh bị họ phát hiện. Cậu ta nói có rất ít thời gian để hành động, phải lẩn tránh sau các ống khói và trượt xuống mái đá ướt nước, cho tới khi cậu ta phát hiện ra rằng nhà của chúng ta chỉ cách đó có ba nhà trong cùng dãy và mái các nhà lại đủ gần để có thể nhảy qua một cách khẽ khàng.”
“Hừm,” tôi nói, cảm thấy sự ấm áp đã quay trở lại với mấy ngón chân mình. “Anh đã tống cậu ta về nhà bằng xe ngựa thuê hả?”
“Không, Hoàng tử lấy một con ngựa trong chuồng.”
“Nếu cậu ta đã uống rượu mạnh của Jared, em hy vọng cả người và ngựa sẽ tới được Montmartre,” tôi bình luận. “Đó là một đoạn đường dài.”
“À, đó sẽ là một hành trình lạnh giá và ẩm ướt, không nghi ngờ gì cả,” Jamie nói với vẻ tự mãn của một người đàn ông đoan chính được nhét vào một chiếc giường ấm áp với bà vợ hợp pháp cưới hỏi đàng hoàng. Anh thổi tắt nến và kéo tôi vào ngực mình, theo kiểu úp thìa thịnh hành.
“Đáng đời,” anh lầm bầm. “Một người đàn ông thì nên cưới vợ.”
•••
Người hầu đã thức dậy từ trước lúc bình minh, đánh bóng và lau dọn để chuẩn bị cho buổi tiêu khiển với ngài Duverney sau bữa tối riêng tư tối nay.
“Em không hiểu tại sao bọn họ lại phải phiền hà thế,” tôi bảo Jamie trong khi vẫn nằm dài trên giường, hai mắt nhắm chặt, lắng nghe tiếng ồn ào ở nhà dưới. “Tất cả những gì cần làm là lau bụi khỏi bàn cờ và lấy một chai rượu brandy ra; ông ta sẽ không phát hiện ra điều gì khác cả.”
Anh bật cười và cúi xuống hôn chào tạm biệt tôi. “Thế cũng ổn thôi; anh sẽ cần một bữa tối ngon lành nếu anh sắp sửa lại đánh bại ông ta.” Anh vỗ vỗ lên vai tôi để tạm biệt. “Anh sẽ đến nhà kho, Sassenach ạ; anh sẽ về nhà đúng giờ để thay quần áo.”
Để kiếm việc gì đó giúp mình khỏi phải lảng vảng vướng chân đám gia nhân, cuối cùng tôi quyết định gọi một người hầu hộ tống mình đến nhà Rohan. Có lẽ Louise đang cần giải khuây, tôi nghĩ thế, sau trận cãi vã của cô với người tình tối hôm trước. Sự tò mò thiếu tế nhị, tôi đứng đắn tự nhủ, không liên quan gì tới quyết định này của tôi cả.
Khi quay trở về vào cuối buổi chiều, tôi thấy Jamie ngồi thõng thượt trên chiếc ghế gần cửa sổ phòng ngủ, hai chân gác lên bàn, cổ áo để mở và mái tóc rối bù trong khi miệt mài nghiên cứu một thếp giấy viết nguệch ngoạc. Anh ngước lên nhìn khi nghe thấy tiếng cửa đóng và nét mặt nhu hòa liền tan chảy thành một nụ cười toe toét.
“Sassenach! Em đây rồi!” Anh vung đôi chân dài và đứng dậy, băng qua phòng, đi tới ôm lấy tôi. Anh vùi mặt mình vào tóc tôi, hít ngửi rồi lùi lại và hắt hơi. Anh lại hắt hơi cái nữa và thả tôi ra để lục tìm trong ống tay áo chiếc khăn mùi soa anh vẫn mang theo ở đó, đúng phong cách nhà binh.
“Em có mùi gì thế; Sassenach?” Anh hỏi, ấn chiếc khăn lanh vuông vắn lên mũi ngay khi lại sắp sửa hắt xì một cái khác.
Tôi thò tay vào ngực váy, lôi ra cái túi ướp nước hoa nho nhỏ.
“Hoa nhài, hoa hồng, hoa dạ hương và hoa ly… cả cỏ lưỡi chó nữa, hình như thế,” tôi bổ sung thêm khi anh xì mũi và thở khò khè vào chiếc khăn tay to tướng kia. “Anh ổn chứ?” Tôi tìm quanh để kiếm thứ gì đó đựng rác và quyết định thả cái túi hương vào một chiếc hộp văn phòng phẩm trên bàn viết của tôi ở góc xa trong phòng.
“Ừ, anh ổn. Cái dạ… hư… hương, ắt x…ì… ì!”
“Trời ơi!” Tôi hấp tấp mở tung cánh cửa sổ và ra hiệu cho anh. Anh làm theo, thò đầu và vai ra ngoài trời ẩm ướt mưa phùn, hổn hển hít vào bầu không khí trong lành không có mùi dạ hương.
“Ôi trời, tốt hơn rồi,” anh nói vẻ nhẹ nhõm, ít phút sau thì rụt đầu vào, hai mắt mở to. “Em đang làm cái gì thế, Sassenach?”
“Tắm,” tôi vừa giải thích vừa đánh vật để cởi dây buộc sau lưng chiếc váy dài. “Hoặc ít nhất là rửa ráy tạm. Cả người em toàn mùi dầu dạ hương thôi,” tôi nói, khi anh chớp chớp mắt nhìn. “Nếu em không tắm sạch nó, anh sẽ lại hắt xì hơi mất.”
Anh lơ đãng xoa mũi và gật đầu.
“Em ở yên đó đi, Sassenach. Anh sẽ bảo người hầu mang lên một ít nước nóng nhé?”
“Không, không cần phiền thế đâu. Lau rửa qua một cái là có thể loại bỏ gần hết mùi của nó rồi,” tôi đảm bảo với anh, cởi khuy và dây buộc nhanh nhất có thể. Tôi lau rửa hai cánh tay, với ra sau gáy để túm tóc lại thành một búi. Đột nhiên Jamie cúi người tới trước và tóm lấy cổ tay tôi, kéo lên cao.
“Anh đang làm gì thế này?” Tôi giật mình, nói.
“Em đã làm gì thế, Sassenach?” Anh hỏi, nhìn chằm chằm vào dưới cánh tay tôi.
“Cạo,” tôi kiêu ngạo nói. “Hoặc còn gọi là tẩy sáp. Louise có servants aux petits soins[6] của cô ấy - anh biết người hầu riêng của cô ấy không? - ở đó sáng nay, cô ấy tẩy lông và em cũng làm.”
“Tẩy sáp?” Jamie trông khá dữ dằn dưới ánh nến trên cái giá nến cạnh bình đựng nước phía sau tôi. “Em cho sáp vào nách à?”
“Không phải loại sáp đó,” tôi trấn an anh. “Sáp ong có mùi thơm cơ. Người hầu đã đun nóng sáp, rồi trải sáp ấm lên chỗ đó. Khi nó nguội rồi, anh chỉ cần giật nó ra,” tôi nhăn mặt trong giây lát hồi tưởng lại, “và Bob là chú của anh[7].”
“Chú Bob của anh sẽ không ủng hộ bất cứ chuyện gì như thế,” Jamie gay gắt nói. “Em làm cái trò quỷ quái này để làm gì hả?” Anh nhìn gần hơn vào “thực địa”, vẫn nắm cổ tay tôi giơ lên. “Nó không đa… đau… ắt x… ì…ì!” Anh thả tay tôi ra và nhanh chóng lùi lại.
“Nó không đau chứ?” Anh hỏi, đưa khăn tay lên mũi lần nữa.
“À, một chút,” tôi thừa nhận. “Dù vậy cũng đáng mà, anh không nghĩ vậy à?” Tôi hỏi, giơ hai cánh tay lên giống một vũ công ba lê và hơi quay tới quay lui. “Lần đầu tiên trong nhiều tháng qua, em cảm thấy hoàn toàn sạch sẽ.”
“Đáng giá á?” Anh hỏi, giọng nghe có vẻ hơi sửng sốt. “Cái đó thì có liên quan gì tới chuyện sạch sẽ, sao phải nhổ đi tất cả lông dưới cánh tay em?”
Có phần hơi trễ, tôi nhận ra rằng mình chưa từng bắt gặp một người phụ nữ Scotland nào sử dụng bất cứ hình thức nhổ hay tẩy lông nào. Hơn nữa, hiển nhiên là Jamie gần như chưa bao giờ có mối quan hệ đủ thân thiết với tầng lớp thượng lưu ở Paris để biết rằng có rất nhiều người trong số họ làm chuyện đó. “À,” tôi ậm ừ, đột nhiên nhận ra sự khó khăn của một nhà nhân loại học khi phải cố gắng can thiệp vào một số tập quán của những bộ lạc nguyên thủy. “Nó ít mùi hơn,” tôi đáp.
“Có gì không ổn với việc em có mùi như thế nào?” Anh nóng nảy nói. “Ít nhất em có mùi giống một người đàn bà, chứ không phải một cái vườn hoa chết tiệt. Em nghĩ anh là ai, một người đàn ông hay một con ong nghệ? Em sẽ tắm chứ, Sassenach, anh không thể đến gần em trong vòng ba mét.”
Tôi lấy một miếng vải và bắt đầu chà cần cổ của mình. Bà Laserre, người hầu riêng của Louise, đã đắp một thứ dầu thơm lên khắp người tôi; tôi hy vọng là nó sẽ dễ dàng lau đi được. Thật bối rối khi anh cứ lảng vảng ở bên ngoài, mũi đánh hơi, trừng trừng nhìn tôi y như chó sói đang rình mồi.
Tôi quay lưng lại để nhúng miếng vải vào bát nước, nói với qua vai một cách thoải mái: “À, em cũng làm cả ở hai chân nữa.”
Tôi trộm liếc nhanh qua vai. Cơn sốc ban đầu đang nhạt dần đi thành một cái nhìn hoàn toàn hoang mang bối rối trên mặt anh.
“Chân em không có mùi giống bất cứ thứ gì,” anh nói. “Trừ phi em lội vào chuồng bò đến tận đầu gối.”
Tôi quay lại và kéo váy lên quá đầu gối, chĩa mũi chân ra phía trước, trưng ra những đường cong tinh tế của bắp và cẳng chân.
“Nhưng trông chúng đẹp hơn nhiều,” tôi nhấn mạnh. “Tất cả đều đẹp và mịn màng; không giống như Harry đười ươi.”
Anh liếc mắt nhìn xuống hai đầu gối bờm xờm của mình, cảm thấy bị xúc phạm.
“Đười ươi, anh á?”
“Không phải anh, là em!” Tôi nói, bắt đầu cáu tiết.
“Hai chân anh còn nhiều lông hơn chân em trước kia!”
“À, người ta không nghĩ thế; anh là đàn ông mà!”
Anh hít vào một hơi như chuẩn bị đáp trả, rồi lại thở ra, lắc đầu và lầm bầm một mình bằng tiếng Gaelic. Anh quăng người vào chiếc ghế bành và ngả ra sau, quan sát tôi qua đôi mắt nheo lại thành hai khe hẹp, thỉnh thoảng lại lẩm bẩm một mình. Tôi quyết định không đòi anh dịch nghĩa làm gì.
Sau khi gần như đã lau rửa xong xuôi trong bầu không khí có thể miêu tả là căng thẳng, tôi quyết định thử giảng hòa.
“Anh biết đấy, nó có thể còn tồi tệ hơn cơ,” tôi nói, cọ miếng bọt biển vào bên trong bắp đùi. “Louise đã tẩy lông toàn thân.”
Điều đó làm anh giật mình, quay trở lại với tiếng Anh, ít nhất là tạm thời.
“Cái gì, cả ở chỗ đó hả?” Anh thốt lên, kinh hãi sa vào thói thô tục vốn không phải tính cách vốn có của anh.
“Hừ… ừm,” tôi ậm ừ đáp, hài lòng thấy cảnh tượng này ít nhất đã đánh lạc hướng anh khỏi chú ý đến tình trạng của tôi. “Tất cả. Bà Laserre đã nhổ hết.”
“Mary, Michael và Bride!” Anh nhắm tịt mắt, lảng tránh còn tốt hơn là suy tưởng về cảnh tượng tôi miêu tả.
Rõ ràng chỉ một lát thôi, vì anh mở mắt trở lại và trừng trừng nhìn tôi, hỏi: “Cô ta giờ trần trụi y như một cô gái nhỏ à?”
“Cô ấy nói,” tôi thận trọng đáp, “rằng đàn ông thấy điều đó rất gợi tình.”
Cặp lông mày của anh gần như sắp chạm cả vào chân tóc, một thói quen đặc trưng của những người có lông mày cao kinh điển.
“Em ước gì anh thôi ngay cái trò lẩm bẩm ấy đi,” tôi phê phán, vắt miếng vải lên lưng ghế cho khô. “Em không thể hiểu một từ nào anh nói.”
“Toàn bộ, Sassenach ạ,” anh đáp, “thế càng tốt.”
[1] Tiếng Đức, nghĩa tương đương với “Lord” trong tiếng Anh: ngài, đức ông.
[2] Tiếng Pháp: Claire thân yêu của tôi.
[3] Tiếng Pháp, dùng như cách gọi thân mật: con ta.
[4] Rừng Boulogne là một khu rừng nhỏ nằm dọc theo rìa phía tây của quận 16 thành phố Paris, với diện tích khoảng 846 hecta, được xem như lá phổi xanh của Paris.
[5] Nguyên văn: brose - món ăn của Scotland giống cháo, làm từ nước thịt luộc, sữa, quấy cùng với bột yến mạch.
[6] Tiếng Pháp: người hầu chuyên chăm sóc riêng.
[7] Nguyên văn: Bob’s your uncle, thành ngữ có nghĩa là “dễ như ăn cháo”.