Broch Tuarach là một tòa tháp đá hình trụ, được xây từ hàng trăm năm trước trên ngọn đồi phía sau trang viên. Những người sống quanh vùng gọi nó là “Lallybroch.” Theo như những gì tôi tìm hiểu được, cái tên này có nghĩa là “tháp lười”, và đối với một kiến trúc hình trụ, nó không mang nhiều ý nghĩa, giống như cái tên “Tòa tháp quay mặt về hướng bắc” vậy.
“Làm sao tòa tháp tròn có thể quay mặt về hướng bắc được?” Tôi thắc mắc trong lúc dẫn ngựa bước thật chậm xuôi theo triền dốc dài đầy đá hoa cương và cây thạch nam. Mấy con ngựa bước thành hàng một, men theo con đường mòn hẹp, quanh co mà loài hươu hung đã giày xéo trong suốt quá trình trưởng thành của chúng. “Nó không có mặt.”
“Nó có một cánh cửa,” Jamie trả lời ngắn gọn. “Cánh cửa quay về hướng bắc.” Anh ấn chân xuống tại điểm con đường bắt đầu đổ dốc và huýt sáo qua kẽ răng để ra hiệu cho con ngựa đằng sau đi theo. Cơ bắp trên hai chân sau của con ngựa trước mặt tôi đột ngột co lại, những bước đi thận trọng bỗng chuyển thành dáng vẻ ngập ngừng. Từng móng guốc đặt xuống nền đất ẩm ướt, trượt đi vài phân, trước khi nó mạo hiểm đặt bước tiếp theo. Chúng tôi mua ngựa ở thị trấn Inverness. Chúng có kích thước chuẩn và là những con thú bốn chân tuyệt đẹp. Loại ngựa dáng nhỏ của vùng cao nguyên sẽ đi vững vàng hơn trên dốc đứng, còn những con ngựa này đều là ngựa cái, được dùng để phối giống, không phải để làm việc.
“Ra vậy,” tôi đáp, cẩn thận bước qua một rãnh nước nhỏ vắt ngang lối đi. “Thật hợp lý! Vậy cái tên Lallybroch thì sao? Tại sao nó lại là một tòa tháp lười?”
“Nó bị nghiêng một chút,” Jamie đáp. Tôi thấy đầu anh cúi xuống, tập trung vào bước chân, một cơn gió nhẹ buổi chiều đang thổi khô con đường dốc và làm mấy lọn tóc màu hung của anh phất phơ trên đỉnh đầu. “Nếu đứng ở hướng tây, em sẽ thấy nó nghiêng về hướng bắc. Nếu nhòm qua một khe hở ở tầng cao nhất, trên vị trí cánh cửa, em sẽ không thể nhìn thấy bức tường bên dưới vì nó bị nghiêng.”
“Em đoán vào thế kỷ mười ba, người ta chưa biết đến dây rọi,” tôi nhận xét. “Cho đến bây giờ, tòa tháp chưa đổ đã là một điều kỳ diệu rồi.”
“Ôi, nó đổ rất nhiều lần,” Jamie cao giọng nói khi một luồng gió tươi mới bỗng thổi đến. “Người dân sống ở đó đã dựng lại tòa tháp, có lẽ vì thế mà nó bị nghiêng.”
“Cháu hiểu rồi! Cháu hiểu rồi!” Fergus la hét phấn khích đằng sau lưng tôi. Tuy cậu nhóc được yêu cầu ngồi yên trên lưng ngựa và bởi nhẹ cân nên Fergus không làm con ngựa đi lại khó khăn, thế nhưng bước chân của nó vẫn loạng choạng. Tôi liếc ra sau và thấy cậu nhóc đang quỳ trên yên ngựa, nhảy tưng tưng vì hào hứng. Con ngựa của cậu, một con ngựa cái nhẫn nhục và xinh đẹp, chỉ khẽ phì phì khó chịu mà vẫn nhường nhịn, không hất ngay Fergus vào đám cây thạch nam bên đường. Từ hồi bắt đầu chuyến phiêu lưu với con ngựa Percheron tại Argentan, Fergus luôn chộp lấy bất kỳ cơ hội nào để được trèo lên lưng ngựa. Jamie cảm thấy thích thú và thông cảm với kẻ yêu ngựa giống mình nên anh chiều theo ý Fergus, cho cậu nhóc ngồi sau yên, đi dạo khắp phố phường Paris. Thi thoảng, anh để cậu nhóc một mình cưỡi ngựa kéo xe của Jared, những con vật to lớn và rắn chắc, chỉ vẫy nhẹ hai tai thách thức trước tiếng quát tháo và các cú thúc của Fergus.
Tôi che mắt cho khỏi chói, nhìn theo hướng anh chỉ. Anh nói đúng. Từ điểm nhìn cao hơn, anh đã thấy bóng dáng u ám của tòa tháp đá hình trụ nằm trên đồi từ bao nhiêu năm nay. Ngôi nhà mới dựng trong trang viên dưới chân tháp thì khó nhìn thấy hơn. Nó được xây bằng đá vôi trắng nên ánh mặt trời lấp lóa phản chiếu từ các bức tường cũng như những cánh đồng xung quanh. Tuy nằm trong một lòng chảo dốc và được bao bọc bởi các đồng lúa mì, nhưng chúng tôi vẫn trông thấy ngôi nhà nhờ vào một hàng cây chắn gió ở chân mỗi cánh đồng.
Tôi thấy Jamie đang ngẩng đầu, khuôn mặt nghiêm nghị và ánh mắt gắn chặt vào nông trại gia đình dưới chân Lallybroch. Anh đứng yên một lúc, không cất lời, nhưng tôi thấy anh rướn đôi vai rộng cho chúng thẳng lên. Cơn gió thổi bay mái tóc cùng nếp gấp trên tấm áo choàng len, tựa như anh có thể bay theo gió, vui sướng khác nào một cánh diều.
Điều này khiến tôi nhớ đến những cánh buồm no gió và hồi tưởng lại mũi đất nằm trên lộ trình của mọi con thuyền, khi chúng tôi rời khỏi bến cảng Le Havre. Tôi đứng cuối cầu tàu, quan sát sự hối hả của những con thuyền đến và đi cùng việc trao đổi buôn bán. Bầy mòng biển vừa lao xuống vừa la hét inh tai giữa các cột buồm, cái giọng khàn khàn thiên bẩm của chúng như tiếng quát tháo của những gã thủy thủ.
Jared Munro Fraser đứng cạnh tôi, ánh mắt dịu dàng quan sát dòng chảy trôi của sự giàu có sinh ra từ biển, một số trong đó là của ông. Chiếc Portia sẽ đưa chúng tôi về Scotland là một trong số những con thuyền của ông. Jamie từng kể rằng các con thuyền của Jared được đặt theo tên những người tình và hình chạm khắc ở mũi thuyền là chân dung của vị phu nhân cùng tên. Tôi nheo mắt trước cơn gió biển ở mũi thuyền, ngẫm nghĩ xem liệu Jamie có trêu đùa mình hay không. Nếu anh nói nghiêm túc thì tôi có thể thấy là Jared thích những người đàn bà có bộ ngực lớn.
“Ta sẽ nhớ cả hai đứa,” Jared lặp lại câu này đã bốn lần trong vòng một tiếng rưỡi. Ông tỏ ra tiếc nuối chân thành đến nỗi ngay cả cái mũi hóm hỉnh của ông cũng không hếch lên lạc quan như thường lệ. Chuyến đi tới nước Đức của ông đã thành công. Có thể thấy điều đó qua cách ăn mặc của Jared, ông trưng một viên kim cương lớn trên chiếc khăn đeo cổ và chiếc áo khoác đang mặc được làm từ vải nhung màu lục sẫm đắt tiền, đơm khuy bạc.
“Phải,” ông lắc đầu. “Ta càng muốn giữ chàng trai này ở bên thì càng không thể miễn cưỡng chúc mừng cho chuyến trở về nhà của cậu ấy. Có lẽ ta sẽ đến thăm các cháu vào một ngày nào đó, cháu gái thân mến. Đã lâu rồi, ta không đặt chân lên Scotland.”
“Chúng cháu cũng sẽ nhớ bác,” tôi thật lòng nói. Tôi sẽ nhớ nhiều người khác - Louise, Mẹ Hildegarde, ngài Gerstmann và trên hết là ông chủ Raymond. Tôi háo hức được trở về Scotland, về Lallybroch. Tôi không muốn quay lại Paris và có những người tôi chắc chắn không mong gặp lại - Vua Louis của nước Pháp là một ví dụ.
Charles Stuart là một ví dụ khác. Những cuộc thăm dò thận trọng giữa nhóm người Jacobite ở Paris đã chứng minh ấn tượng ban đầu của Jamie. Niềm lạc quan được châm ngòi từ lời nói khoác của Charles Stuart về “vụ đầu tư rất lớn”, sau một thời kỳ bùng nổ, giờ đã tắt ngóm. Mặc dù những người ủng hộ trung thành của Vua James luôn tận trung với nhà vua của họ nhưng lòng trung thành dửng dưng mà họ dành cho Charles, xuất phát từ khả năng chịu đựng ngoan cường, sẽ không bao giờ trở thành hành động.
Thế thì, hãy để mặc Charles sống cuộc sống lưu vong yên ổn, tôi nghĩ. Giờ đây, công việc của chúng tôi đã kết thúc. Chúng tôi sẽ về nhà.
“Hành lý đã ở trên thuyền,” một giọng Scotland lạnh lùng nói. “Thuyền trưởng bảo cô hãy lên thuyền, chúng ta sẽ khởi hành khi thủy triều lên.”
Jared quay sang Murtagh, sau đó liếc trái liếc phải khắp bến cảng. “Chàng trai trẻ đâu rồi?” Ông hỏi.
Murtagh hất đầu về phía đầu kia của cầu tàu. “Trong quán rượu đằng kia. Đang say bí tỉ.”
Tôi cũng muốn biết Jamie đã lên kế hoạch để vượt qua eo biển như thế nào. Sớm nay, anh chỉ nhìn bầu trời đỏ au của buổi bình minh báo hiệu những cơn bão sắp đến có một lần, rồi xin cáo lỗi với Jared và biến đi đâu mất. Tôi nhìn theo hướng Murtagh chỉ thì trông thấy Fergus, cậu nhóc đang ngồi trên một cái cọc gần lối vào quán rượu và làm nhiệm vụ canh gác.
Ban đầu, Jared tỏ ra không tin nổi, sau đó thái độ chuyển thành vui vẻ, thích thú. Khi được biết về vấn đề của cậu cháu họ, ông đã cười rất tươi.
“Ồ, vậy sao?” Ông nói. “Vậy thì, ta hy vọng cậu ấy để dành cốc cuối cùng, đợi chúng ta tới. Nếu Jamie không tự đi được, chúng ta sẽ phải rất vất vả để mang cậu ấy qua ván cầu.”
“Anh ấy uống rượu làm gì?” Tôi gặng hỏi Murtagh với thái độ hơi bực tức. “Tôi đã bảo tôi có cồn thuốc phiện cho anh ấy mà.” Tôi vỗ nhẹ vào cái túi lụa đang mang bên mình. “Tôi sẽ làm anh ấy bất tỉnh hoàn toàn nhanh hơn.”
Murtagh chỉ chớp mắt một cái. “Đúng vậy. Cậu ấy bảo đằng nào cũng bị đau đầu thì thà rằng cậu ấy hưởng thụ quá trình gây ra cơn đau đầu ấy. Và vị của rượu whisky ngon hơn thứ thuốc đen bẩn thỉu của cô một chút.” Ông hất đầu về phía cái túi của tôi, sau đó quay sang Jared. “Đi nào, nếu ông định giúp tôi khiêng cậu ấy.”
Tôi ngồi trên chiếc giường của thuyền trưởng trong ca bin đằng trước, quan sát mép nước nhấp nhô dần lùi ra xa, đầu của đức ông chồng đang đặt trên đầu gối tôi.
Anh hé một con mắt nhìn tôi. Tôi vén lọc tóc dày ẩm ướt ra khỏi lông mày của anh. Mùi của bia và whisky tỏa ra từ người anh như một loại nước hoa.
“Chắc chắn anh sẽ cảm thấy vô cùng tồi tệ khi tỉnh dậy ở Scotland,” tôi nói với anh.
Con mắt còn lại cũng mở ra, ngắm nhìn những làn sóng ánh sáng đang khiêu vũ trên trần nhà bằng gỗ. Sau đó, chúng gắn chặt vào tôi, đôi mắt xanh trong và sâu thăm thẳm.
“Giữa địa ngục bây giờ và địa ngục sau này, Sassenach ạ,” anh nói với tốc độ vừa phải, rõ ràng, “anh sẽ chọn cái sau, lúc nào cũng vậy.” Anh nhắm mắt, khẽ ợ hơi một lần, sau đó toàn bộ cơ thể được thả lỏng, nhẹ nhàng lắc lư trong cái nôi biển cả.
•••
Dường như lũ ngựa cũng hăng hái giống chúng tôi, có thể do cảm nhận được khoảng cách tới chuồng ngựa và thức ăn không còn xa, chúng bắt đầu chạy nhanh hơn một chút, đầu ngẩng cao và hai tai vểnh về phía trước.
Trong lúc tôi mải ngẫm nghĩ về việc mình có thể tắm rửa, ăn uống thì con ngựa của tôi, vốn đang dẫn đầu, bỗng đột ngột dừng lại, bốn cái móng chôn sâu trong lớp đất đỏ cao đến quá khuỷu trên của móng. Con ngựa hất đầu từ bên này sang bên kia, thở phì phò và hí to.
“Này, cô gái, có gì không ổn sao? Có ong trên mũi cô à?” Jamie nhảy xuống yên, vội vàng tóm lấy dây cương của con ngựa cái lông xám. Tôi cảm thấy tấm lưng rộng của nó đang run rẩy và co giật, bèn xuống ngựa giống anh.
“Chuyện gì xảy ra với cô nàng nhỉ?” Tôi tò mò nhìn con ngựa, bây giờ nó đã lùi lại, tránh xa bàn tay cầm cương của Jamie. Cô nàng lắc bờm, hai mắt mở lớn. Những con ngựa kia cũng phản ứng trước sự lo lắng của nó, chúng bắt đầu di chuyển và giậm chân.
Jamie liếc qua vai, nhìn con đường vắng vẻ.
“Cô nàng nhìn thấy cái gì đó.”
Fergus đứng trên bàn đạp ngắn của mình và lấy tay che nắng, chăm chú quan sát. Sau đó, cậu hạ tay xuống, nhìn tôi nhún vai.
Tôi nhún vai đáp lại. Hình như không có thứ gì đe dọa đến nó, con đường và những cánh đồng xung quanh đều trống không, những hạt ngũ cốc đã chín, khô rang dưới ánh nắng mặt trời cuối hạ. Lùm cây gần nhất cách đây hơn trăm dặm, còn bên cạnh đống đá nhỏ là những gì còn sót lại của một ống khói bị đổ. Bầy sói thường không xuất hiện ở các bãi đất trống thế này và chắc chắn không có con cáo hay con lửng nào có thể quấy nhiễu lũ ngựa từ khoảng cách xa như vậy.
Jamie từ bỏ việc thuyết phục con ngựa tiến lên mà dẫn nó đi nửa vòng tròn. Cô ngựa vui vẻ quay lại hướng chúng tôi vừa đi qua.
Anh ra hiệu cho Murtagh dẫn những con ngựa khác ra khỏi đường, sau đó anh nhảy lên yên, nghiêng người tới trước, một tay chộp lấy bờm của nó, thúc nó tiến tới thật chậm và nói khe khẽ vào tai nó. Cô ngựa do dự nhưng không kháng cự, cho đến khi tới nơi đã dừng lúc trước. Tại đây, nó lại dừng chân, đứng run rẩy và anh không thể nào thuyết phục nó bước tiếp.
“Được rồi,” Jamie nói, ngừng thúc giục. “Hãy đi đường của mày.” Anh quay đầu ngựa, dẫn nó tiến vào cánh đồng. Những cây lúa chín vàng cọ vào lớp lông xù xì trên bụng cô nàng. Chúng tôi vội đi theo họ, thỉnh thoảng lũ ngựa cúi đầu ngoạm đầy một miệng ngũ cốc trên con đường băng qua cánh đồng.
Khi chúng tôi đi vòng qua một tảng đá hoa cương nhô lên từ mặt đất, ngay bên dưới đỉnh đồi, tôi nghe thấy một tiếng sủa cảnh cáo ở đằng trước. Chúng tôi bước lên đường lớn và phát hiện một con chó lông màu đen pha trắng đang canh gác, đầu ngẩng cao với cái đuôi cứng đờ trong lúc thận trọng nhìn theo chúng tôi.
Nó sủa thêm lần nữa, thân hình đen trắng nhảy ra từ một bụi cây tống quán sủi, theo sau là một người dáng cao, mảnh khảnh, khoác tấm áo choàng đi săn màu nâu.
“Ian!”
“Jamie!”
Jamie ném dây cương cho tôi rồi chạy tới, hai người ôm lấy vai và thụi vào lưng nhau. Sau khi hết nghi ngờ, con chó lao tới quấn quýt quanh họ, đuôi ve vẩy, thỉnh thoảng phóng tới đánh hơi dưới chân lũ ngựa.
“Bọn anh nghĩ sớm nhất là ngày mai em mới về nhà cơ.” Ian nói, khuôn mặt dài, chất phác của anh tươi cười.
“Chuyến đi thuận buồm xuôi gió,” Jamie giải thích. “Hay ít nhất là Claire nói vậy, bản thân em không để ý nhiều.” Anh liếc tôi và cười toe toét. Ian bước đến nắm lấy tay tôi.
“Xin chào em dâu,” anh chào trịnh trọng. Sau đó, anh mỉm cười, sự ấm áp từ nụ cười ấy làm đôi mắt nâu nhạt bên trên sáng bừng. “Claire.” Anh hấp tấp hôn lên tay tôi và tôi siết lấy tay anh để đáp lại.
“Jenny đang giặt giũ và nấu ăn như người mất trí,” anh nói, vẫn mỉm cười với tôi. “Nếu may mắn, em sẽ có một cái giường để ngủ đêm nay. Cô ấy đã mang tất cả chăn ga ra ngoài trời để phủi bụi.”
“Sau ba đêm ngủ giữa rừng thạch nam, em sẽ không ngủ trên sàn nhà đâu,” tôi quả quyết với anh. “Chị Jenny và lũ trẻ vẫn khỏe chứ?”
“Ồ, khỏe. Cô ấy lại mang thai,” anh nói thêm. “Sẽ sinh vào tháng Hai.”
“Lần nữa?” Jamie và tôi cùng kêu lên, khiến hai gò má hóp của Ian đỏ bừng.
“Ôi Chúa ơi, Maggie bé bỏng còn chưa đầy một tuổi,” Jamie nhướng một bên lông mày, tỏ ý chê trách. “Anh không có ý thức kiềm chế ư?”
“Anh?” Ian phẫn nộ nói. “Em nghĩ anh gây ra chuyện này ư?”
“Được rồi, nếu anh không làm thì em nghĩ anh bị buộc tham gia với người làm.”
Khuôn mặt anh càng đỏ hơn, biến thành màu hồng sậm, tương phản nhưng hài hòa với mái tóc nâu mềm của Ian. “Em biết quá rõ ý của anh là gì,” anh nói. “Anh ngủ trên giường có bánh xe với bé Jamie được hai tháng thì Jenny...”
“Ồ, anh nói chị gái em là kẻ lẳng lơ ư?”
“Anh đang nói cô ấy bướng bỉnh y như cậu em trai mỗi khi cô ấy muốn đạt được thứ gì,” Ian đáp. Anh giả vờ nghiêng về một bên, khéo léo lùi lại và thụi một cú đấm vào giữa bụng Jamie. Jamie gập người lại, cười lớn.
“May là em đã về nhà rồi,” anh nói. “Em sẽ giúp anh giữ chị ấy trong tầm kiểm soát.”
“Ồ, thật sao?” Ian nói với vẻ hoài nghi. “Anh sẽ gọi tất cả các tá điền tới xem.”
“Mat cừu, phải không?” Jamie chuyển chủ đề bằng cách ra hiệu về phía bầy chó và cái gậy chăn cừu dài của Ian đang nằm giữa lòng đường đất bụi.
“Mười lăm con cừu cái và một con cừu đực,” Ian gật đầu, đáp. “Bầy cừu merino[1] của Jenny được nuôi để làm một loại len đặc biệt. Con cừu đực đúng là đáng ghét, nó phá đổ cổng. Anh nghĩ chúng sẽ ra cánh đồng trên này, nhưng chẳng thấy bóng dáng con nào.”
“Bọn em không thấy chúng đi lên,” tôi nói.
“Ồ, chúng sẽ không lên đó,” Ian nói, hất tay khinh thường. “Chẳng có con gia súc nào đi qua ngôi nhà đó đâu.”
“Nhà?” Fergus trở nên mất kiên nhẫn với cuộc trao đổi lịch sự, cậu bèn thúc vào con ngựa đang đứng cạnh tôi. “Cháu không thấy cái nhà nào, thưa ông. Chỉ có một đống đá thôi.”
“Đó chính là tất cả những gì còn sót lại từ ngôi nhà của MacNab đấy, cậu bé,” Ian nói. Anh liếc nhìn Fergus, cậu bị sấp bóng bởi đứng ngược chiều nắng cuối ngày. “Nếu cậu khôn ngoan thì hãy tránh xa chỗ đó.”
Tôi cảm thấy rợn tóc gáy, dù trời rất nóng nực. Ronald MacNab là gã nông dân đã giao nộp Jamie cho đội tuần tra một năm trước, gã đã chết ngay trong ngày khi hành động phản bội của gã bị phát hiện. Tôi còn nhớ, gã chết giữa đống tro tàn của nhà mình, bị thiêu chết mà không biết, bởi những người dân ở Lallybroch. Khi chúng tôi đi qua lúc trước, đống đá của ống khói lò sưởi vốn là một ụ đá có vẻ vô hại, nhưng nay trông nó thật đáng sợ. Tôi nuốt nước miếng, kìm nén vị đắng chực trào lên trong họng.
“MacNab?” Jamie khẽ nói. Ngay lập tức, vẻ mặt anh trở nên cảnh giác. “Ronnie MacNab?”
Tôi đã kể với Jamie về hành động phản bội cũng như cái chết của MacNab, tuy nhiên tôi không kể về cách gã chết.
Ian gật đầu. “Phải. Gã đã chết ở đó, vào đêm đám lính Anh bắt em đi, Jamie ạ. Mái nhà rơm bắt lửa và gã quá say nên không thể thoát kịp.” Anh nhìn thẳng vào mắt Jamie, mọi sự chòng ghẹo đều biến mất.
“À? Còn vợ con gã thì sao?” Vẻ mặt của Jamie giống như Ian, lạnh lùng và bí hiểm.
“An toàn. Mary MacNab làm phụ bếp ở nhà lớn, còn Rabbie làm việc trong chuồng ngựa.” Ian vô tình liếc qua vai về phía ngôi nhà tranh nhỏ đổ nát. “Thi thoảng Mary lại lên đây, cô ấy là người duy nhất trong điền trang còn đến đây.”
“Vậy là cô ấy thích gã à?” Jamie quay qua, nhìn về phía ngôi nhà tranh. Tuy không thấy mặt anh nhưng tôi nhận ra sự căng thẳng ở đường nét trên lưng anh.
Ian nhún vai. “Anh không nghĩ vậy. Ronnie là gã nghiện rượu xấu xa, thậm chí cả mẹ già của gã cũng không ưa nổi gã. Không, anh nghĩ Mary cảm thấy có trách nhiệm phải cầu nguyện cho linh hồn gã - đủ nhiều để có tác dụng với gã,” anh nói thêm.
“A.” Jamie ngừng một lát như đang suy nghĩ, sau đó anh ném cương ngựa của mình qua cổ nó và quay lên đồi.
“Jamie,” tôi gọi, nhưng anh đã đi ngược con đường, hướng tới khoảnh đất trống bên cạnh khu rừng nhỏ. Tôi đưa dây cương của mình cho Fergus, cậu nhóc ngạc nhiên.
“Đứng yên ở đây với lũ ngựa,” tôi nói. “Ta phải đi với ông ấy.”
Ian định đi cùng tôi nhưng Murtagh lắc đầu, ngăn anh lại, và tôi đi một mình, theo chân Jamie lên đỉnh đồi.
Anh sải những bước dài liên tiếp, không mệt mỏi của một người quen băng núi leo đồi và đến khoảng đất trống trước khi tôi bắt kịp. Anh đứng bên rìa của thứ từng là bức tường bao ngoài. Mảnh đất vuông một thời là sàn nhà của túp lều tranh, bây giờ vẫn nhìn thấy rõ. Những cây non mới mọc ở đó thưa thớt hơn khu vực lân cận, nhưng xanh hơn và trông hoang dại dưới những bóng cây to.
Chỉ còn một ít dấu vết của ngọn lửa, một vài khúc gỗ bị đốt thành than nằm trên bãi cỏ gần lò sưởi đá, bằng phẳng và lộ thiên giống như một ngôi mộ. Jamie tránh bước vào ranh giới của những bức tường từng tồn tại và anh bắt đầu đi bộ quanh bãi đất trống. Anh đi vòng qua chỗ đá lát lò sưởi ba lần, luôn ngược chiều kim đồng hồ, trái, rồi lại trái, rồi lại trái lần nữa, để làm bất cứ con quỷ nào bám theo sau phải lẫn lộn.
Tôi đứng một bên, quan sát. Đây là cuộc đối đầu của riêng hai người, nhưng tôi không thể để anh đối diện một mình, và mặc dù anh không liếc nhìn nhưng tôi biết anh cảm thấy vui vì tôi ở đây.
Cuối cùng, anh dừng lại bên đống đá đổ. Anh đặt tay lên nó và nhắm mắt một lúc, tựa như đang cầu nguyện. Sau đó, Jamie khom người, nhặt một hòn đá to bằng nắm tay của mình, cẩn thận đặt nó lên đống đá, tựa như hòn đá sẽ giúp linh hồn không thanh thản giảm bớt gánh nặng. Anh làm dấu thánh, quay lại, bước đến chỗ tôi một cách chắc chắn và điềm tĩnh.
“Đừng nhìn lại,” anh nói khẽ, quàng lấy tay tôi, cùng bước xuống con dốc.
Tôi đã không nhìn lại.
•••
Jamie, Fergus, Murtagh cùng Ian và bầy chó đi tìm cừu, để mình tôi dẫn toàn bộ lũ ngựa xuống điền trang. Phải rất lâu nữa, tôi mới có thể đạt tới trình độ huấn luyện ngựa, nhưng trong vòng nửa dặm, tôi có thể xoay xở được, chừng nào không có chuyện bất ngờ.
Chuyến đi này rất khác lần đầu tiên chúng tôi về Lallybroch. Hồi đó, cả hai đã gần như bay đến đây. Tôi tới từ tương lai, còn Jamie từ quá khứ. Thời gian chúng tôi ở đây từng rất hạnh phúc, nhưng hạnh phúc đó vừa mỏng manh, vừa bấp bênh. Jamie luôn có khả năng bị phát hiện và bắt giữ. Bây giờ, nhờ Công tước Sandringham can thiệp, Jamie đã được sở hữu quyền thừa kế và tôi là người vợ hợp pháp bên cạnh anh.
Lần trước, chúng tôi đột ngột trở về đây với quần áo xộc xệch và nội bộ gia đình bị chia rẽ. Lần này, chúng tôi về có thông báo trước, với vẻ ngoài đúng mực và mang theo quà từ nước Pháp. Tuy tôi biết họ sẽ tiếp đón chúng tôi một cách thân mật, nhưng điều làm tôi băn khoăn là Ian và chị gái Jenny của Jamie sẽ đón chào sự trở về có thể là mãi mãi này như thế nào. Xét cho cùng, họ đã sống như ông chủ và bà chủ của điền trang trong mấy năm trở lại đây, thậm chí từ sau cái chết của cha Jamie và những sự kiện bất hạnh ập xuống đầu anh, khi sống một cuộc đời ngoài vòng pháp luật và tha phương.
Tôi leo lên đỉnh đồi cuối cùng mà không gặp khó khăn gì. Ngôi nhà chính và các khu nhà phụ nằm phía dưới kia, những mái ngói đen sẫm như vừa có mưa. Bỗng nhiên con ngựa của tôi bắt đầu chạy, mang theo cả người cưỡi nó. Tôi cố gắng giữ chắc các dây cương còn lại, trong lúc cô nàng nhảy chồm lên, lao thẳng xuống dốc.
Tôi không thể trách cứ cô nàng, bởi ở góc nhà đằng xa bỗng xuất hiện hai vật to phồng, lăn dài trên mặt đất, như hai đám mây quá cân.
“Dừng lại!” Tôi thét. “Họ!” Cả đám ngựa thình lình đổi hướng và lao đi. Tôi chỉ cách đám đông đang chạy tán loạn mấy chục phân. Tôi nghĩ, chuyến trở về sẽ “tốt đẹp” làm sao nếu tôi để cho toàn bộ đám ngựa giống mới của Jamie bị gãy chân.
Một trong hai “đám mây” hơi nhô lên rồi hạ xuống mặt đất. Jenny Fraser Murray buông cái đệm nhồi lông chị đang mang và chạy lên đường, những lọn tóc đen tung bay.
Chị không ngần ngại nhảy tới nắm lấy dây cương của con ngựa gần nhất rồi giật mạnh.
“Họ!” Chị kêu lên. Rõ ràng con ngựa nhận ra giọng nói uy quyền và dừng lại. Chỉ bằng một tác động nhỏ, những con ngựa khác cũng trở nên bình tĩnh hơn và ngay lúc đó, tôi có thể tuột xuống khỏi yên ngựa của mình. Một người phụ nữ và một cậu nhóc tầm chín, mười tuổi đến gần chúng tôi, giúp giữ những con ngựa còn lại.
Tôi nhận ra cậu bé Rabbie MacNab và suy ra người phụ nữ kia là mẹ cậu, Mary. Những con ngựa hối hả đi đi lại lại, những bó đồ và chăn ga ngăn cản chúng tôi hàn huyên. Tôi chỉ có đủ thời gian để ôm chào Jenny. Chị có mùi của quế với mật ong, mùi mồ hôi tinh khiết của lao động, ẩn bên dưới là mùi em bé thơm tho, không phải mùi sữa trớ hay phân mềm, và cuối cùng là mùi làn da mịn màng, sạch sẽ, tươi mát.
Chúng tôi ôm nhau một lúc thật chặt, nhớ lại lần cuối cùng cả hai ôm nhau, khi tôi và Jenny chia tay ở bìa rừng trong đêm tối - tôi phải đi tìm Jamie, còn chị quay về với cô con gái mới lọt lòng.
“Maggie bé nhỏ thế nào rồi?” Tôi cất lời.
Jenny làm mặt nhăn nhó nhưng có vẻ tự hào. “Con bé đang tập đi và là nỗi khiếp sợ của cả nhà.” Chị liếc về phía con đường vắng. “Em có gặp Ian không?”
“Có, Jamie, Murtagh và Fergus đã cùng anh ấy đi tìm cừu.”
“Họ còn đỡ hơn chúng ta,” chị nói, chỉ lên trời. “Vài phút nữa, trời sẽ mưa. Để Rabbie chăm sóc mấy con ngựa, còn em hãy giúp chị thu dọn chăn ga, nếu không tối nay tất cả chúng ta sẽ phải ngủ trên những tấm ga ướt sũng đấy.”
Chúng tôi lao vào làm điên cuồng, nhưng khi mưa xuống, cả Jenny và tôi đã ở trong phòng khách kín gió, mở những gói đồ chúng tôi đem về từ Paris và ngắm nhìn bé Maggie bụ bẫm đang lớn nhanh như thổi. Một cô bé hoạt bát mới mười tháng tuổi với đôi mắt tròn màu xanh dương và một cái đầu lơ thơ tóc đỏ, còn anh trai lớn, bé Jamie, là một cậu nhóc gần bốn tuổi nhưng rất cứng cáp. Đứa bé trong bụng chị chỉ mới nhô lên chút xíu bên dưới tạp dề của mẹ, nhưng tôi thấy bàn tay chị đặt nhẹ nhàng lên đó, hết lần này tới lần khác, và tôi cảm thấy đau nhói trong lòng khi quan sát hành động này.
“Em nhắc đến Fergus,” Jenny hỏi, trong lúc chúng tôi chuyện trò. “Đó là ai vậy?”
“Ồ, Fergus? Cậu nhóc… chà, cậu nhóc...” Tôi ngập ngừng, không biết nên miêu tả thế nào. Một kẻ móc túi được đưa về làm việc ở nông trại có vẻ không thích hợp. “Cậu nhóc đi theo Jamie,” tôi nói.
“Ồ, vậy ư? Vậy thì, chị nghĩ cậu nhóc có thể ngủ trong chuồng ngựa,” Jenny từ bỏ chủ đề này. “Nói về Jamie thì” - chị liếc về phía cửa sổ, ở ngoài kia, cơn mưa đang trút xuống - “chị hy vọng họ sớm tìm thấy cừu. Chị đã nấu một bữa tối ngon lành và không muốn chúng bị hỏng vì để lâu.”
Thật vậy, bóng tối đã dần buông, Mary MacNab bắt đầu chuẩn bị bàn ăn trước khi cánh đàn ông trở về. Tôi quan sát cô ấy làm việc, một người phụ nữ có dáng người nhỏ bé, khung xương thanh mảnh với mái tóc nâu sẫm màu, ánh mắt thoáng lo lắng đã chuyển thành nụ cười khi Rabbie từ chuồng ngựa về thẳng nhà bếp, hỏi giờ ăn tối với vẻ thèm thuồng.
“Khi nào các ông ấy về, mo luaidh[2],” cô ấy đáp. “Con biết mà. Đi rửa tay chân đi, như vậy con sẽ sẵn sàng để ăn tối.”
Cuối cùng, họ cũng trở về và hình như cần tắm rửa nhiều hơn Rabbie. Cơn mưa làm người họ ướt sũng, bê bết đất bùn tới đầu gối và chúng dần tạo thành những vệt dài trong phòng khách. Ian cởi áo choàng len, quăng nó lên khung chắn lò sưởi, nước nhỏ từng giọt và bốc hơi trước sức nóng của ngọn lửa. Fergus bị lôi vào cuộc sống trang trại một cách bất ngờ, cậu nhóc liền ngồi xuống ngay tại chỗ, ánh mắt thất thần nhìn vào khoảng giữa hai chân.
Jenny ngắm nghía cậu em trai đã gần một năm chưa gặp. Chị liếc từ mái tóc ướt nước mưa đến hai chân bám đầy đất bẩn và chỉ về phía cửa. “Ra ngoài, cởi giày ngay,” chị kiên quyết. “Nếu em đã từng ở vùng cao nguyên này thì phải nhớ đi tiểu trên khung cửa trên đường về nhà. Điều đó sẽ giúp em ngăn cản hồn ma theo vào nhà,” chị hạ thấp giọng giải thích với tôi và liếc về phía khung cửa, Mary MacNab vừa đi vào để lấy thức ăn.
Jamie ngồi phịch xuống ghế, mở một bên mắt xanh thẫm, nhìn chị gái.
“Em đã vượt qua cái chết để cập bến Scotland, cưỡi ngựa bốn ngày vượt qua những ngọn đồi để về nhà và khi đến nơi, em chưa kịp vào nhà uống một giọt nước, làm dịu cái họng khô rát thì đã phải lội bùn đất để săn cừu lạc. Thế mà ngay khi em vào trong nhà, chị lại muốn em phải ra ngoài trời tối lần nữa để tiểu tiện lên khung cửa. Ra thế!” Anh nhắm mắt, khoanh tay trước bụng, dần lún sâu vào ghế kiên quyết từ chối.
“Jamie, em trai yêu quý,” chị nói ngọt. “Em muốn dùng bữa tối hay để chị cho chó ăn đây?”
Anh vẫn không nhúc nhích, hai mắt nhắm chặt. Sau đó, anh thở dài cam chịu và đứng dậy. Hai vai rũ xuống, Jamie gọi Ian cùng quay ra, theo sau Murtagh, người đã đứng sẵn bên ngoài. Khi qua chỗ Fergus ngồi, anh đưa cánh tay dài của mình kéo cậu nhóc đứng dậy, lôi cậu nhóc đang ngái ngủ đi cùng.
“Chào mừng đã về nhà,” Jamie khinh khỉnh nói, liếc mắt về phía ngọn lửa và rượu whisky lần cuối cùng trước khi lê bước vào bóng đêm một lần nữa.
[1] Giống cừu nổi tiếng về việc cho lông cừu làm len.
[2] Tiếng Gaelic: con yêu.