Con Lắc Foucault

Lượt đọc: 177 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
48

❊ ❊ ❊

Từ đỉnh tới đế, kích thước của Đại kim tự tháp tính theo inch khối xấp xỉ 161.000.000.000. Vậy đã có bao nhiêu con người từng sinh sống trên Trái đất này từ thời ông tổ Adam tới nay? Đâu đó trong khoảng 153.000.000.000 đến 171.900.000.000.

− Piazzi Smyth, Our Inheritance in the Great Pyramid,

Luân Đôn, Isbister, 1880, tr. 583

“Tôi mường tượng tác giả của anh cho rằng chiều cao của kim tự tháp Cheops bằng căn bậc hai tổng diện tích các mặt của nó. Các số đo chắc chắn phải được tính bằng bộ, đơn vị bộ gần với cubit của người Ai Cập và Do Thái hơn, chứ không phải bằng mét, bởi vì mét là một chiều dài lý thuyết được phát minh ra vào thời hiện đại. Cubit của Ai Cập bằng 1.728 bộ. Nếu không biết chiều cao chính xác, chúng ta có thể sử dụng pyramidion, một tiểu kim tự tháp được đặt trên cùng làm đỉnh của Đại kim tự tháp. Nó bằng vàng hoặc kim loại nào đó khác tỏa sáng dưới ánh mặt trời. Lấy chiều cao của pyramidion nhân với chiều cao của toàn kim tự tháp rồi nhân tích số với mười mũ năm, thế là chúng ta có chu vi của Trái đất. Hơn thế, nếu anh nhân chu vi đế với hai mươi tư mũ ba chia cho hai, anh sẽ có bán kính của Trái đất. Chưa hết, diện tích đáy của kim tự tháp nhân với chín mươi sáu lần mười mũ tám cho ta một trăm chín mươi sáu triệu tám trăm mười nghìn dặm vuông, cũng là diện tích của Trái đất. Tôi nói có đúng không?”

Belbo ưa truyền tải sự kinh ngạc với một biểu hiện mà anh ta đã học được trong cinematheque*, từ bản gốc của Yankee Doodle Dandy, có James Cagney đóng: “I’m flabbergasted!”* Đó chính là điều anh ta nói lúc này. Agliè cũng biết tiếng Anh thông tục, rõ ràng là vậy, bởi vì ông ta không thể che giấu sự thỏa mãn trước món lễ vật này được dâng cho tính tự tôn của ông ta. “Các bạn thân mến,” ông ta nói, “khi có một người, mà tôi không biết tên, viết một tập biên soạn về bí ẩn của kim tự tháp, anh ta chỉ có thể nói những thứ mà ngày nay đến một đứa nhỏ cũng biết. Tôi sẽ ngạc nhiên nếu anh ta nói được gì đó mới mẻ.”

Dạng rạp phim mini chuyên chiếu phim kinh điển và phim nghệ thuật phục vụ cho đối tượng công chúng nhỏ.

Tôi chết sững!

Vậy là người viết đơn giản chỉ nhắc lại những sự thật người ta đã biết rồi?”

“Sự thật?” Agliè phá lên cười, và một lần nữa chìa hộp xì gà méo mó nhưng ngon lành ra mời chúng tôi. “Quid est veritas*, như một người bạn của tôi từng nói nhiều năm trước. Hầu hết là vớ vẩn. Trước tiên, nếu anh chia đáy kim tự tháp với chính xác hai lần chiều cao, và không làm tròn, anh sẽ không được số π, anh được 3,1417254. Một khác biệt nhỏ, nhưng trọng yếu. Hơn thế, một môn đồ của Piazzi Smyth, Flinders Petrie, người cũng đo Stonehenge, kể rằng một ngày nọ anh ta thấy thầy mình đang bào một bức tường đá granite trong tiền sảnh cung điện để cho khớp với tính toán... Có lẽ chỉ là chuyện bịa, Piazzi Smyth không phải là người khiến cho người ta nhìn là tin, các vị cứ xem cách anh ta thắt cà vạt thì thấy. Tuy nhiên, giữa bao chuyện tào lao cũng có những sự thật không thể nghi ngờ. Mời các bạn theo tôi ra cửa sổ.”

Sự thật là gì? (Tin Mừng theo thánh Gioan, 18:38. Bản dịch của Nhóm phiên dịch Các giờ kinh phụng vụ).

Ông ta mở toang cửa sổ bằng động tác rất kịch và chỉ tay. Ở góc giữa con phố nhỏ và đại lộ rộng lớn có một ki ốt be bé, hẳn là chỗ bán vé số.

“Các vị,” ông ta nói, “tôi xin mời các vị đi đo cái ki ốt đó. Các vị sẽ thấy chiều dài của quầy là một trăm bốn mươi chín centimét - nói cách khác, một phần trăm tỉ khoảng cách từ Trái đất tới Mặt trời. Chiều cao phần lưng, một trăm bảy mươi sáu centimét, chia cho chiều rộng của cửa sổ, năm mươi sáu centimét, là 3,14. Chiều cao của mặt trước là mười chín đềximét, nói cách khác là bằng với số năm của chu kỳ âm lịch Hy Lạp. Tổng chiều cao của hai cạnh trước và hai cạnh sau là một trăm chín mươi lần hai cộng một trăm bảy mươi sáu lần hai, bằng bảy trăm ba mươi hai, là ngày chiến thắng trận Poitiers. Chiều dày của quầy là 3,10 centimét, và chiều rộng của diềm cửa sổ là 8,8 centimét. Thay các con số trước dấu thập phân bằng các chữ cái tương ứng trong bảng chữ cái, ta có C chấm mười và H chấm tám, hay C10H8, là công thức dầu naphthalene.”

“Kỳ diệu,” tôi nói. “Ông đã thực hiện tất cả những đo đạc đó?”

“Không,” Agliè đáp. “Chúng đã được thực hiện trên một ki ốt khác, bởi một người có tên Jean-Pierre Adam. Nhưng tôi sẽ tạm kết luận rằng tất cả các quầy bán vé số đều ít nhiều có những kích thước ấy. Với những con số các bạn có thể làm bất cứ điều gì mình muốn. Giả dụ tôi có con số 9 linh thiêng và tôi muốn có số 1314, ngày hành quyết Jacques de Molay - một ngày rất gần gũi với bất kỳ ai, như bản thân tôi, nguyện hiến dâng cho truyền thống hiệp sĩ dòng Đền. Tôi phải làm gì? Tôi nhân chín với một trăm bốn mươi sáu, ngày sụp đổ định mệnh của Carthage. Làm sao tôi lại nghĩ tới con số đó? Tôi chia một nghìn ba trăm mười bốn cho hai, cho ba, vân vân, cho tới khi tôi tìm thấy một ngày thỏa mãn điều kiện. Tôi cũng có thể chia một nghìn ba trăm mười bốn cho 6,28, hai lần 3,14, và tôi sẽ có hai trăm linh chín. Đó là năm mà Attalus, vua của Pergamon, tham gia vào liên minh chống Macedonia. Các bạn thấy chưa?”

“Vậy ông không hề tin vào thần số học,” Diotallevi nói, có phần thất vọng.

“Ngược lại, tôi tin tưởng vững chắc. Tôi tin rằng vũ trụ là một bản giao hưởng vĩ đại của những tương ứng số học, tôi tin rằng những con số và các biểu tượng của chúng cho ta con đường dẫn tới tri thức đặc biệt. Nhưng nếu thế giới này, dưới kia và trên kia, là một hệ thống của những tương ứng nơi mà tout se tient, thì sẽ rất tự nhiên thôi khi ki ốt và kim tự tháp, đều do bàn tay con người tạo ra, tái hiện lại trong cấu trúc của chúng, một cách vô thức, những sự hài hòa của vũ trụ. Những người gọi là nhà kim tự tháp học bằng các phương pháp cực kỳ quanh co của mình đã khám phá ra một sự thật giản dị, một sự thật cổ xưa hơn nhiều, một sự thật đã được thấu tỏ. Chính logic của nghiên cứu và khám phá mới quanh co, bởi vì nó là logic của khoa học. Trong khi logic của tri thức không cần sự khám phá, bởi vì nó đã biết rồi. Vì sao nó phải chứng minh một điều vốn không thể khác được? Nếu có một bí mật thì sự thật ấy sâu xa hơn nhiều. Những tác giả này của các bạn vẫn chỉ ở trên bề mặt. Tôi hình dung người này cũng nhắc lại tất cả những chuyện tào lao về việc người Ai Cập đã biết về điện...”

“Tôi sẽ không hỏi vì sao ông có thể đoán ra.”

“Các anh thấy không? Họ vừa lòng với điện, giống như bất cứ tay Marconi nào. Giả thuyết về phóng xạ sẽ ít ấu trĩ hơn. Có một ý tưởng thú vị. Không giống như giả thuyết về điện, nó sẽ giải thích cho lời nguyền Tutankhamen trứ danh. Và làm sao những người Ai Cập cổ đại có thể nâng các khối đá xây kim tự tháp? Liệu ta có thể nâng đá bằng sốc điện, liệu ta có thể khiến chúng bay bằng phân hạch hạt nhân? Không, người Ai Cập cổ đại tìm thấy một cách để loại bỏ đi trọng lực; họ sở hữu bí mật khinh công. Một dạng khác của năng lượng... Người ta biết rằng các tu sĩ Chaldea chỉ cần dùng âm thanh để vận hành những cỗ máy thiêng, các tu sĩ Karnak và Thebes chỉ cần lên tiếng là có thể mở cửa một ngôi đền - và, ta thử ngẫm lại xem, còn gì khác có thể là nguồn gốc của truyền thuyết Vừng ơi mở ra?”

“Vậy thì?” Belbo hỏi.

“Trọng điểm nằm ở đây đây, bạn thân mến. Điện, phóng xạ, năng lượng nguyên tử - người được khai tâm thực sự biết rằng có những ẩn dụ, mặt nạ, những dối trá quy ước, hay, nhiều nhất, những thế thân đáng thương, cho một lực xa xưa đã bị lãng quên, một lực mà người được khai tâm tìm kiếm và một ngày sẽ tìm thấy. Có lẽ chúng ta nên nói” - ông ta ngần ngừ trong chốc lát - “về các dòng đất.”

“Cái gì?” một người trong ba chúng tôi hỏi, tôi đã quên mất là ai.

Agliè có vẻ thất vọng. “Các anh thấy chưa? Tôi vừa bắt đầu hy vọng rằng trong số các tác giả tiềm năng của các anh đã xuất hiện người có thể cho tôi biết điều gì đó thú vị hơn. Nhưng giờ muộn rồi. Tốt lắm, các anh ạ, thỏa thuận của chúng ta đã xong; phần còn lại chỉ là những huyên thuyên dông dài của một kẻ nghiên cứu già cả mà thôi.”

Khi ông ta chìa tay cho chúng tôi, viên quản gia tiến vào thì thào gì đó vào tai ông ta.

“A, người bạn khả ái,” Agliè nói, “tôi quên mất. Bảo cô ấy đợi tôi một khắc... Không, không phải trong phòng khách, trong salon Thổ Nhĩ Kỳ.”

Người bạn khả ái hẳn phải quen thuộc với căn nhà, bởi vì nàng đã đứng ở ngưỡng cửa thư phòng và không buồn liếc chúng tôi lấy một cái trong bóng tối đang đậm dần của ngày tàn, nàng tự tin tiến thẳng tới chỗ Agliè, vỗ má ông ta và nói: “Simon, anh không định bắt em đợi bên ngoài, phải không?” Đó là Lorenza Pellegrini.

Agliè hơi tránh sang bên, hôn tay nàng rồi chỉ về phía chúng tôi bảo: “Sophia khả ái của tôi, em biết là em luôn được đón chào, bởi em thắp sáng bất cứ căn nhà nào em đặt chân tới. Tôi chỉ đang tạm biệt những vị khách kia thôi.”

Lorenza quay sang, thấy chúng tôi và vẫy chào vui vẻ - tôi không tin mình bắt gặp được ở nàng chút gì lúng túng hay ngượng ngùng. “Ồ, hay làm sao,” nàng nói, “các anh cũng biết bạn của em! Chào Jacopo.”

Belbo tái ngắt. Chúng tôi từ biệt. Agliè tỏ ra vui sướng khi thấy chúng tôi biết nhau. “Tôi coi người mà chúng ta cùng quen biết là một trong những tạo vật chân thật nhất mà tôi từng được hạnh ngộ. Trong sự thanh khiết của mình, cô ấy là hiện thân của - xin cho phép một kẻ già cả tưởng tượng thế này - Sophia, bị lưu đày trên nhân gian. Nhưng, Sophia khả ái của tôi, tôi chưa có thời gian cho em biết: buổi tối đã hẹn bị hoãn lại một vài tuần. Tôi rất tiếc.”

“Không sao đâu,” Lorenza nói. “Em đợi được. Các anh có tới quán bar chứ?” Nàng hỏi chúng tôi, hay đúng hơn là ra lệnh. “Tốt. Em sẽ ở đây khoảng nửa tiếng gì đó. Simon sẽ cho em một trong những tiên đan của anh ấy. Các anh cũng nên thử. Nhưng anh ấy nói chúng chỉ dành cho người được lựa chọn. Sau đó em sẽ đến chỗ các anh.”

Agliè mỉm cười với cung cách của một ông chú nuông chiều; ông ta mời nàng ngồi rồi tiễn chúng tôi ra cửa.

Ra lại ngoài phố, cả bọn lên xe tôi tiến thẳng tới Pilade. Belbo vẫn lặng thinh. Chúng tôi không nói gì suốt dọc đường. Nhưng đến quán bar, bầu không khí lặng phắc bị phá vỡ.

“Tôi hy vọng không ném các anh vào tay một tên điên,” tôi nói.

“Không,” Belbo đáp. “Người đó sắc bén, tinh tế. Chỉ có điều ông ta sống trong một thế giới khác với chúng ta.” Rồi anh ta dứt khoát thêm vào: “Hoặc gần như vậy.”

nghĩ của anh chạy quá nhanh so với cổ tay tê nhức. Nếu anh đánh máy, các con chữ dính vào nhau, và lần nữa mình lại phải theo tốc độ tầm thường của cỗ máy, không phải tốc độ nơ ron thần kinh của mình. Nhưng với cậu ta (nó? cô ta?) những ng
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.