Con Lắc Foucault

Lượt đọc: 139 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
57

❊ ❊ ❊

Cứ ba cây lại có một cây treo đèn, và một nàng trinh nữ kiều diễm cũng bận đồ xanh châm đèn bằng một cây đuốc tuyệt diệu, vậy là tôi nán lại, lâu hơn cần thiết, để thưởng lãm quang cảnh đẹp đẽ khôn xiết kia.

− Johann Valentin Andreae, Die Chymische Hochzeit des Christian Rosencreutz, Strassburg, Zetzner, 1616, 2, tr. 21

Đến trưa Lorenza tới nhập bọn cùng chúng tôi trên hiên nhà, nàng mỉm cười thông báo đã tìm thấy một chuyến tàu rất tuyệt dừng ở *** vào lúc mười hai rưỡi, chỉ cần đổi một lần tàu là chiều nàng sẽ về đến Milan. Nàng hỏi liệu chúng tôi có thể đưa nàng ra ga không.

Belbo tiếp tục lật qua vài trang ghi chép. “Anh nghĩ Agliè cũng đang mong em,” anh ta nói. “Trên thực tế, anh thấy ông ta tổ chức toàn bộ hành trình kia chỉ vì em thôi.”

“Đó là chuyện của anh ấy,” Lorenza nói. “Ai sẽ đưa em đi nhỉ?”

Belbo đứng lên bảo chúng tôi, “Một lát thôi, tôi sẽ quay lại ngay. Rồi chúng ta có thể ở đây thêm vài giờ. Lorenza, em có túi chưa?”

Tôi không biết trên suốt dọc đường ra ga họ có nói với nhau câu nào không. Hai mươi phút sau Belbo quay lại tiếp tục làm việc, không nhắc nhở gì tới vụ việc vừa rồi.

Hai giờ chiều, chúng tôi tìm thấy một nhà hàng tiện nghi trong quảng trường chợ và việc chọn đồ ăn cùng rượu cho Belbo thêm cơ hội để nhớ lại thời thơ ấu của mình. Nhưng anh ta kể giống như đang trích dẫn tiểu sử của người khác. Anh ta đã mất hứng thú kể chuyện hôm trước. Đến tầm giữa chiều, chúng tôi khởi hành để nhập đoàn cùng Agliè và Garamond.

Belbo lái xe tới miền Tây Nam và phong cảnh từ từ thay đổi qua từng cây số. Những ngọn đồi ở *** dù đã vào cuối thu vẫn rất đỗi dịu dàng, đầm ấm, nhưng chúng tôi càng đi những đường chân trời càng bao la, và ở mỗi đường cung lại nhấp nhô đỉnh núi, trên vài đỉnh lô nhô mấy ngôi làng nhỏ; lướt qua mắt chúng tôi là những cảnh sâu hút mắt bất tận. Trông như Darién, Diotallevi nhận xét, gọi lên thành lời những khám phá trước mắt. Chúng tôi cài số ba leo lên vùng non cao trải rộng và những đường viền núi đang mờ thành một màn sương lạnh tịch liêu ở cuối đồng bằng. Dẫu xe đã lên đến núi rồi nhưng quang cảnh dường như vẫn chẳng khác gì một đồng bằng được cồn cát tô điểm lại. Cứ như bàn tay của một demiurge vụng về đã ấn xuống những đỉnh mà ông ta thấy cao quá, biến chúng trở thành một đống lổn nhổn kéo dài cho tới tận biển hoặc, ai biết được, cho tới bờ dốc của những chuỗi sắc nét và dứt khoát hơn.

Chúng tôi tới ngôi làng kia và gặp Agliè cùng Garamond như đã hẹn ở quán cà phê tại quảng trường trung tâm. Nếu Agliè có mếch lòng khi nghe Lorenza sẽ không tới thì ông ta cũng không để lộ ra ngoài. “Người bạn thanh tú của chúng ta không muốn trước mặt những người khác mà tham gia vào những chuyện huyền bí phô bày thân thế cô ấy. Một sự khiêm nhường đặc biệt mà tôi rất kính trọng,” ông ta nói. Và chỉ có vậy.

Chúng tôi tiếp tục lên đường, chiếc Mercedes của Garamond dẫn đầu, chiếc Renault của Belbo theo sau, cho tới khi trong ánh tà dương dần lụi, trước mắt hiện ra một công trình lớn kỳ dị màu vàng nằm trên một ngọn đồi, một loại pháo đài thế kỷ 18, từ đó trải xuống những bậc thang ngan ngát hoa và cây cỏ, vẫn nở rộ mặc cho tiết trời.

Đến chân đồi, chúng tôi lạc vào một khoảnh đất trống đã có nhiều xe đỗ. “Ta dừng xe đây thôi,” Agliè nói, “rồi đi bộ tiếp.”

Trời đang chuyển sang tối hẳn. Con đường mòn chúng tôi đi qua được soi sáng bởi lớp lớp những cây đuốc cháy rừng rực suốt sườn đồi.

Kể cũng lạ nhưng buổi tối hôm đó, từ thời khắc ấy cho tới lúc khuya, ký ức của tôi cùng lúc vừa rõ ràng vừa mơ hồ rối rắm. Một buổi tối nọ tôi đã rà soát lại chúng qua kính tiềm vọng và cảm thấy một sự tương đồng thân thuộc giữa hai trải nghiệm. Phải, tôi tự nhủ mình, giờ mày đang ở đây, trong một tình huống bất bình thường, lảo đảo vì mùi gỗ cũ, tưởng tượng mình đang ở giữa một hầm mộ hay khoang thuyền trong khi một cuộc chuyển hóa đang diễn ra. Chỉ cần ghé mắt qua cabin là mày sẽ thấy những vật thể trong bóng tối âm u mới lúc trước thôi còn bất động giờ đã đang quay tròn như những chiếc bóng trong nghi lễ bí truyền Eleusis giữa làn khói bùa mê. Và đêm trong pháo đài kia cũng vậy: ánh đuốc, những điều ngạc nhiên trên đường, những từ ngữ tôi nghe, rồi khói hương; tất cả hợp lại khiến tôi cảm thấy mình đang mơ, nhưng mơ theo cách mà ta mơ khi ta đang chực tỉnh giấc, khi ta mơ thấy mình đang mơ.

Đáng lẽ ra tôi không nhớ được gì, ấy thế mà ngược lại, tôi nhớ rõ tất cả, không phải như tôi từng sống qua mà như được nghe người ta kể lại.

Tôi không biết liệu những gì tôi nhớ, với một sự rõ ràng dị thường, có thực đã xảy ra hay chỉ là điều tôi ao ước xảy ra, nhưng rõ ràng chính tối hôm ấy, Kế hoạch lần đầu khuấy lên trong đầu óc chúng tôi, khuấy lên dưới dạng một khát vọng tạo hình cho cái vô hình, đưa vào hiện thực trong mơ cái giấc mơ mà những người khác muốn thành hiện thực.

“Bản thân lối đi này đã là một nghi lễ,” Agliè đang nói với chúng tôi khi cả bọn trèo lên đồi. “Đây là những vườn treo, giống như - hoặc gần giống như - những khu vườn Salomon de Caus vẽ ra cho Heidelberg, tức là cho tuyển hầu tước Frederick V, trong thế kỷ Thập tự Hoa hồng vĩ đại. Ánh sáng yếu, và nên như vậy, bởi vì lúc này nên cảm hơn nên thấy: chủ nhà của chúng ta không tái dựng nguyên bản thiết kế Salomon de Caus; anh ta tập trung nó vào một không gian nhỏ hẹp hơn. Những khu vườn của Heidelberg phỏng theo thế giới vĩ mô, nhưng người tái dựng chúng ở đây lại chỉ sao chép thế giới vi mô. Trông cái động đá chạm trổ kia xem... Đúng là dùng để trang trí. Nhưng Caus nghĩ đến biểu tượng của Atalanta Fugiens của Michael Maier, nơi san hô là hòn đá của triết gia. Caus biết rằng những thiên thể có thể bị tác động bởi hình dạng của một khu vườn, bởi vì có những nguyên mẫu mà hình thể của nó diễn tả lại sự hài hòa của vũ trụ...”

“Phi thường,” Garamond nói. “Nhưng làm sao một khu vườn có thể tác động lên các tinh cầu?”

“Có những cung sao hấp dẫn một cung sao khác, soi chiếu một cung sao khác, ôm ấp và áp đặt tình yêu lên đó. Nhưng chúng không có - chúng không được phép có - một hình dạng cụ thể và rõ ràng. Một người sẽ thử dùng những lực có sẵn tùy theo những mệnh lệnh từ đam mê hay sự thôi thúc tự linh hồn anh ta; ấy là điều đã xảy ra với chữ tượng hình Ai Cập. Bởi vì không thể có liên hệ nào giữa chúng ta với thần linh ngoại trừ thông qua dấu triện, hình ảnh, ký tự và nghi thức. Bởi vậy thần linh truyền đạt tới chúng ta thông qua những giấc mơ và các lời sấm. Và những khu vườn này chính là thế. Mỗi khía cạnh của bậc thang này đều tái dựng một điều huyền bí của nghệ thuật giả kim, nhưng thật không may chúng ta không còn có thể đọc ra nó nữa, thậm chí chủ nhà của chúng ta cũng vậy. Một sự dốc lòng kỳ lạ cho huyền thuật, các bạn rồi cũng sẽ đồng ý vậy, ở người đàn ông này, người đã dùng hết những gì mình chắt chiu qua bao năm để thiết kế nên những ký tự tượng hình mà ý nghĩa của chúng chính ông ta cũng không nắm bắt được.”

Trong khi chúng tôi trèo từ bậc thang này tới bậc thang khác, các khu vườn biến đổi. Một số có hình dạng của một mê cung, những khu khác có hình một biểu tượng, nhưng chỉ có thể nhìn toàn cảnh mỗi bậc thang từ một bậc thang cao hơn. Trông xuống, tôi thấy đường bao của một vương miện và những họa tiết khác mà lúc nãy khi đang đi qua tôi không thể đoán biết nổi. Nhưng ngay cả từ trên bậc cao hơn, tôi cũng không thể nào giải nghĩa chúng. Mỗi bậc thang, trong mắt của một người đi giữa những hàng rào cây của nó, phô bày một số hình ảnh, nhưng toàn cảnh khi nhìn từ trên cao lại để lộ ra những hình ảnh mới, thậm chí trái ngược, như thể mỗi bậc của cái cầu thang kia đang nói cùng lúc hai ngôn ngữ.

Lên cao hơn, tôi để ý thấy một số cấu trúc nhỏ. Một vòi phun hình dương vật đứng dưới một loại cổng vòm hoặc mái hiên, và có một tượng Hải vương giẫm lên một con cá heo, một cánh cửa với những cột trụ phảng phất phong cách Assyria, một vòm hình dạng mơ hồ, nom như những đa giác đặt chồng lên các đa giác khác, và trên nóc mỗi công trình đều có tượng một con vật: một con nai sừng tấm, một con khỉ, một con sư tử...

“Và tất cả những thứ này đều có ý nghĩa nào đó?” Garamond hỏi.

“Tất nhiên rồi! Chỉ cần đọc Mundus Symbolicus của Picinelli mà, sẵn nói luôn, Alciati đã tiên đoán trước bằng khả năng tiên tri phi thường. Toàn khu vườn này có thể được đọc như đọc một cuốn sách, hoặc như một câu thần chú, dẫu sao thì xét cho cùng hai thứ ấy là một cả. Nếu mọi người biết tiếng, mọi người có thể đọc những điều mà khu vườn nói và khi ấy mọi người có thể điều khiển một trong vô số các lực vận hành nơi trần thế này. Khu vườn này là một công cụ để điều khiển vũ trụ.”

Ông ta chỉ cho chúng tôi một hang động. Tảo mọc đầy, xương các loài sinh vật biển, tự nhiên hay không thì tôi không biết, có lẽ chúng bằng thạch cao hoặc đá... Một nữ thủy thần đang ôm một con bò tót có cái đuôi vảy của loài cá lớn nào đó trong Kinh Thánh, nó nằm trong một suối nước chảy ra từ chiếc vỏ sò mà một thần biển Triton cầm như cầm một chiếc vò.

“Tôi sẽ nói cho các vị ý nghĩa sâu hơn của thứ này, thứ mà nếu nhìn cách khác có thể giống như một trò đùa thủy lực tầm thường. Caus biết rằng nếu người ta đổ đầy một bình nước và gắn kín miệng bình lại thì dù sau đó có đục một cái lỗ ở đáy bình, nước sẽ không chảy ra. Nhưng nếu đục thêm một cái lỗ ở miệng bình thì nước sẽ phun ra bên dưới.”

“Chẳng phải điều này quá hiển nhiên sao?” tôi nói. “Không khí đi vào miệng và đẩy nước xuống.”

“Một giải thích khoa học điển hình, trong đó nguyên nhân bị nhầm với kết quả, hoặc ngược lại. Câu hỏi không phải là vì sao nước chảy ra trong trường hợp thứ Hai, mà là vì sao nó không chịu chảy ra trong trường hợp thứ nhất.”

“Thế vì sao nó không chịu chảy ra?” Garamond hào hứng hỏi.

“Bởi vì, nếu nó chảy ra, nó sẽ để lại chân không trong bình, mà tự nhiên thì rất ghét chân không. Nequaquam vacui là một nguyên tắc của Hội Thập tự Hoa hồng, thứ mà khoa học hiện đại đã lãng quên.”

“Rất ấn tượng,” Garamond nói. “Casaubon, điều này cần được đưa vào cuộc phiêu lưu kỳ diệu của kim loại, những thứ như thế này cần được nhấn mạnh: hãy nhớ điều đó. Và đừng bảo ta rằng nước không phải kim loại. Cậu phải sử dụng trí tưởng tượng của mình.”

“Xin lỗi,” Belbo nói với Agliè, “nhưng lý luận của ông chỉ là post hoc ergo ante hoc. Cái đến sau là nguyên nhân của cái đến trước.”

“Anh không được tư duy theo kiểu tuyến tính. Nước trong những vòi phun kia không vậy. Tự nhiên không vậy, tự nhiên không biết thời gian là gì. Thời gian là phát minh của phương Tây.”

Trên đường lên, chúng tôi gặp những vị khách khác. Belbo huých Diotallevi và anh ta thầm thì đáp lại: “À phải, những khuôn mặt Hermetica.”

Và trong số những người hành hương mang khuôn mặt Hermetica, hơi đi lệch sang một bên, môi nở một nụ cười cứng đờ kẻ cả, là Signor Salon. Tôi gật đầu, ông ta gật đầu lại.

“Cậu biết Salon?” Agliè hỏi tôi.

“Ý ông là ông biết ông ấy hả?” tôi hỏi lại. “Tôi có biết, tất nhiên. Chúng tôi sống trong cùng tòa nhà. Ông thấy ông ta thế nào?”

“Tôi chỉ biết ông ta sơ sơ. Một số bạn bè, những người mà lời họ tôi tin tưởng, bảo tôi rằng ông ta là một tay chỉ điểm cho cảnh sát.”

Đó là lý do vì sao Salon biết về Garamond và Ardenti. Chính xác mối quan hệ giữa Salon và De Angelis là gì? Nhưng tôi chỉ có thể kìm lòng mà hỏi Agliè: “Một tay chỉ điểm cho cảnh sát thì làm gì ở một bữa tiệc như thế này?”

“Những kẻ chỉ điểm cho cảnh sát mò tới khắp nơi,” Agliè nói. “Chúng có thể sử dụng bất cứ kinh nghiệm nào để sáng tác ra các báo cáo mật. Với cảnh sát, anh càng biết nhiều hoặc giả vờ biết nhiều thì anh càng mạnh. Không quan trọng liệu những thứ ấy có đúng không. Điều đáng kể, xin hãy nhớ, là sở hữu một bí mật.”

“Nhưng vì sao Salon lại được mời?” tôi hỏi.

“Bạn của tôi ơi,” Agliè đáp, “có lẽ bởi vì chủ nhà của chúng ta tôn trọng nguyên tắc vàng của tư duy khôn ngoan, theo đó bất kỳ sai lầm nào cũng có thể là bình chứa chưa được nhận diện của sự thật. Bí truyền đích thực không sợ những mâu thuẫn.”

“Ông đang định bảo tôi rằng, cuối cùng thì mọi mâu thuẫn đều đồng thuận.”

“Quod ubique, quod ab omnibus et quod semper. Khai tâm là sự khám phá ra triết lý nền tảng ẩn bên dưới và bất diệt.”

Với toàn bộ mớ thuyết lý trên, chúng tôi cũng đã leo tới bậc thang trên cùng và bước trên con đường xuyên qua một khu vườn rộng lớn dẫn tới lối vào của lâu đài hay khu biệt thự. Dưới ánh sáng của ngọn đuốc lớn hơn những ngọn khác đặt trên một cây cột, chúng tôi thấy một thiếu nữ quấn y phục xanh lơ điểm sao vàng. Nàng cầm trên tay cây kèn trômpet, loại mà những tín sứ thường thổi trong nhạc kịch. Tựa như trong một vở kịch thánh với các thiên thần được tô điểm bằng lông vũ làm từ giấy ăn, nàng đeo trên vai đôi cánh trắng lớn có trang trí những hình quả hạch, mỗi hình có một chấm tròn ở giữa, nom gần giống con mắt.

Nơi này xuất hiện cả giáo sư Camestres, một trong những Quỷ giả đầu tiên tìm tới chúng tôi ở Garamond, địch thủ của Ordo Templi Orientis. Khó khăn lắm chúng tôi mới nhận ra bởi lối ăn vận độc nhất vô nhị của ông ta mặc dù Agliè bảo mặc như vậy là phù hợp trong dịp này: áo tô ga bằng lanh trắng, thắt lưng buộc ruy băng đỏ, sợi ruy băng đỏ đan chéo qua cả ngực và lưng, thêm một chiếc mũ thế kỷ 17 cài bốn bông hồng đỏ. Ông ta quỳ trước cô thiếu nữ cầm kèn trômpet mà phun ra mấy câu gì đó.

“Quả thực,” Garamond lẩm bẩm, “vẫn còn nhiều thứ trên trời và dưới đất...”

Chúng tôi đi qua một cánh cổng có lối trang trí làm tôi nhớ tới nghĩa địa Genoa. Trên cổng có một biểu tượng tân cổ điển rối rắm và dòng chữ được chạm khắc: CONDOLEO ET CONGRATULATOR.

Bên trong, khách khứa đông đúc sôi nổi túm tụm quanh bàn tiệc buffet trong một sảnh rộng có hai cầu thang dẫn lên tầng trên. Tôi thấy những khuôn mặt quen, trong số đó có Bramanti và, ngạc nhiên thay, cả Commendatore De Gubernatis, một TGTT đã bị Garamond bóc lột nhưng có lẽ vẫn chưa bị buộc phải đối mặt với cái viễn cảnh khủng khiếp là tất cả bản in kiệt tác của mình bị tiêu hủy, bởi vì ông ta tiến đến sếp tôi với dáng vẻ xun xoe biết ơn. Rồi đến lượt Agliè được một người đàn ông nhỏ thó với đôi mắt man dại khúm núm tiếp cận, người này nói bằng giọng Pháp nặng khiến chúng tôi nhận ra rằng gã chính là Pierre mà chúng tôi đã từng nghe buộc tội Bramanti làm trò phù thủy qua tấm thảm trong thư phòng của Agliè.

Tôi tới chỗ bàn buffet. Có những bình đựng những chất lỏng có màu mà tôi không biết là gì. Tôi rót cho mình một thức uống màu vàng trông giống rượu vang; nó không tệ, có vị của một thứ xi rô thời xưa và rõ ràng chứa cồn. Có lẽ trong đó pha thuốc: đầu óc tôi bắt đầu bồng bềnh. Quanh tôi những khuôn mặt Hermetica tụ thành bầy, dáng vẻ khắc nghiệt của những quận trưởng về hưu, những mảnh đối thoại...

“Bước một, anh phải từ bỏ mọi sự liên lạc với những trí óc khác; bước hai, anh phóng chiếu tư duy và hình ảnh vào các sinh thể, truyền hào quang cảm xúc tới các địa điểm, đạt tới sự kiểm soát vương quốc động vật, đến bước thứ ba anh phóng bản thể thứ Hai của anh - phân thân - giống như các yogi, và anh có thể xuất hiện đồng thời ở những nơi khác nhau với những hình dạng : khác nhau. Khi đã đi xa hơn thế, ta chuyển sang kiến thức siêu cảm về các tinh chất của thực vật. Rồi, anh đạt tới trạng thái phân tách, có được hình thể của đất, tan biến ở một nơi, xuất hiện lại ở nơi khác, vậy mà vẫn toàn vẹn, không chỉ là một phân thân. Bước cuối cùng là sự kéo dài đời sống vật chất...”

“Không phải bất tử...”

“Ngay lập tức thì không.”

“Thế còn ông?”

“Việc này đòi hỏi sự tập trung, đó là việc khó nhọc, mà anh biết đấy, tôi đâu còn ở tuổi đôi mươi nữa...”

Tôi thấy lại nhóm bạn của mình. Họ vừa tiến vào một gian phòng tường trắng, bốn góc lượn cánh cung. Giống trong một bảo tàng Grévin - những hình ảnh xuất hiện trong đầu tôi buổi tối hôm ấy là ban thờ mà tôi đã gặp ở Rio, trong tenda de umbanda - ở phía sau có hai bức tượng sáp, suýt soát cỡ thật, được tráng một lớp vật liệu lấp lánh như kim sa, trăm phần trăm hàng thùng. Tượng một nữ nhân ngự trên ngai vàng, trang phục không tì vết (hoặc gần như không tì vết) khảm kim cương nhân tạo. Phía trên nàng lủng lẳng những dây kim loại, trên đó treo các sinh vật hình thù không rõ, chắc được làm bằng nỉ Lenci. Một chiếc loa dựng ở góc phòng: tiếng kèn trômpet văng vẳng, chất lượng âm thanh tốt, có lẽ là Gabrieli. Hiệu ứng âm thanh cho thấy một thị hiếu tốt hơn so với hình ảnh. Ở bên phải, một pho tượng nữ thứ hai bận đồ nhung đỏ thắm thắt đai trắng, đầu đội vòng nguyệt quế. Nàng cầm một chiếc cân mạ vàng. Agliè giải thích với chúng tôi những biểu tượng khác nhau nhưng tôi không chú tâm nghe, tôi bị cuốn hút bởi biểu cảm của nhiều vị khách, họ đi từ hình ảnh này tới hình ảnh khác với vẻ sùng kính và xúc cảm.

“Họ chẳng khác gì những người tới thánh địa để chiêm ngưỡng tượng Đức bà Đen trong bộ đồ thêu phủ đầy những trái tim bạc,” tôi nói với Belbo. “Có phải những người hành hương nghĩ rằng đó là mẹ của Chúa Jesus bằng xương bằng thịt? Không, nhưng họ cũng không nghĩ ngược lại. Họ hân hoan trong sự tương đồng, nhìn nhận những thứ trưng bày như mộng cảnh, và mộng cảnh như thực tại.”

“Phải,” Belbo đáp, “nhưng câu hỏi không phải liệu những người ở đây tốt hơn hay tồi hơn những người Cơ đốc giáo hành hương tới đền miếu. Tôi đang tự hỏi: Chúng ta nghĩ mình là ai? Chúng ta, những kẻ coi Hamlet còn có thực hơn là nhân viên vệ sinh ở chỗ mình? Liệu tôi có mảy may quyền phán xét nào không - tôi, kẻ vẫn mải miết kiếm tìm Madame Bovary của chính mình để cùng nàng có một màn hoành tráng?”

Diotallevi lắc đầu và khẽ nói với tôi rằng thật sai lầm khi tạo ra ảnh tượng của thần thánh, rằng những thứ này tất thảy là hiện thân của Con Bê Vàng*. Nhưng anh ta vẫn vui thích lắm.

Khi nhà tiên tri Moses dẫn dân Do Thái đến núi Sinai, theo lệnh Thiên Chúa, Moses leo lên ngọn núi rực lửa để nhận lãnh hai tấm Bia Đá có khắc Lề Luật, Mười điều răn. Dân Do Thái đợi lâu quá không thấy Moses trở xuống, nghĩ rằng Ngài đã chết thiêu trên đó, liền đúc một con bê vàng để thờ lạy và dâng lễ kính Thiên Chúa qua ngẫu tượng con bê. Khi từ trên núi xuống, thấy điều sai trái của dân Do Thái, Moses tức giận đập vỡ hai tấm bia. Người đốt con bê vàng, tán nhuyễn và rắc lên mặt nước.

nghĩ của anh chạy quá nhanh so với cổ tay tê nhức. Nếu anh đánh máy, các con chữ dính vào nhau, và lần nữa mình lại phải theo tốc độ tầm thường của cỗ máy, không phải tốc độ nơ ron thần kinh của mình. Nhưng với cậu ta (nó? cô ta?) những ng
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.