Sappia qualunque il mio nome dimanda
ch ‘i’ mi son Lia, e vo movendo intorno
le belle mani a farmi una ghirlanda.
− Dante, Purgatorio, XXVII, 100-102
Lia. Giây phút này đây, tôi khát khao được thấy lại nàng, nhưng có thể tôi đã chưa từng gặp nàng trong đời, và như vậy thì còn tồi tệ hơn. Tôi ước chi nàng đang ở đây, để nắm bàn tay tôi trong khi tôi xây dựng lại những giai đoạn của quá trình tôi hủy bỏ chính tôi. Bởi nàng đã bảo tôi làm như vậy. Nhưng không, phải giữ nàng ở bên ngoài vụ này, nàng và đứa bé. Tôi hy vọng hai người hoãn ngày về và khi họ về tới nhà thì mọi việc đã xong rồi, dẫu là xong theo cách nào đi nữa.
Hôm ấy là ngày mùng 6 tháng Bảy năm 1981. Milan đang vắng vẻ dần; phòng tra cứu trong thư viện hầu như vắng bóng người.
“Này, tôi cần cuốn 109 đó.”
“Vậy thì sao anh lại bỏ nó ở đây?”
“Tôi chỉ mới về chỗ có một phút để kiểm tra một ghi chú.”
“Đâu thể viện cớ đó được.”
Nàng bướng bỉnh lấy cuốn sách rồi về bàn mình. Tôi ngồi đối diện nàng, cố nhìn kỹ mặt nàng hơn.
“Làm sao cô có thể đọc được như thế, trừ phi kia là chữ Braille?” tôi hỏi.
Nàng ngẩng đầu, và tôi không thể phân định nổi mình đang nhìn vào gương mặt nàng hay đường cong của gáy nàng. “Hả?” nàng hỏi. “À, tôi vẫn nhìn được.” Nhưng nàng vén tóc lên trong khi nói, và nàng có đôi mắt xanh lục.
“Mắt cô xanh lục.”
“Tất nhiên. Xấu sao?”
“Không. Nên có nhiều đôi mắt như vậy hơn.”
Chuyện bắt đầu như thế.
“Ăn thêm đi. Anh gầy như que củi ấy,” một bữa khuya nọ nàng bảo tôi. Nửa đêm rồi chúng tôi vẫn còn ngồi trong nhà hàng Hy Lạp gần Pilade, cổ chai soi ánh nến bập bùng giữa khi chúng tôi thổ lộ với nhau mọi điều. Chúng tôi gần như làm cùng một công việc: nàng kiểm tra các mục từ trong từ điển bách khoa toàn thư.
Tôi cảm thấy mình phải thổ lộ với nàng. Lúc mười hai rưỡi đêm, khi nàng vén tóc sang bên để nhìn tôi rõ hơn, tôi chỉ ngón trỏ vào nàng, ngón cái chĩa lên và bảo: “Tù binh.”
“Em cũng thế,” nàng nói.
Đêm đó, chúng tôi hòa làm một, và kể từ đó nàng gọi tôi là Tù binh.
Chúng tôi không mua nổi một căn nhà mới. Tôi ngủ ở chỗ nàng và đôi khi nàng đến ngồi văn phòng với tôi hoặc ra ngoài điều tra bởi vì nàng khôn ngoan hơn tôi trong việc lần theo manh mối. Nàng cũng rất khá trong việc đoán ra các kết nối.
“File tài liệu về Hội Thập tự Hoa hồng của chúng ta còn trống phân nửa,” nàng nói.
“Dịp tới chắc anh nên quay lại với chủ đề này. Đó là những ghi chép của anh ở Brazil...”
“Ồ, vậy để tham khảo chéo với Yeats* đi.”
William Butler Yeats (1865-1939): đại thi hào người Ireland, được trao giải Nobel Văn học năm 1923.
“Yeats thì có liên quan gì nhỉ?”
“Nhiều chứ. Em thấy ở đây rằng ông ấy thuộc về một cộng đồng Thập tự Hoa hồng có tên là Stella Matutina.”
“Anh biết làm gì nếu thiếu em đây?”
Tôi lại lui tới quán Pilade bởi đó là chốn giao thương nơi tôi có thể tìm thấy khách hàng.
Một tối nọ, tôi gặp lại Belbo. Trong mấy năm trước hắn anh ta hiếm khi tới chốn này nhưng anh ta có mặt thường xuyên hơn từ sau dạo gặp Lorenza Pellegrini. Trông anh ta không khác mấy, có lẽ tóc bạc thêm đôi phần, có lẽ hơi gầy đi một chút.
Đó là một cuộc gặp gỡ thân ái, nếu ta xét đến giới hạn sự quảng giao của anh ta: vài lời bình về những ngày xưa, chút dè dặt điềm đạm về sự đồng lõa của chúng tôi trong vụ việc trước kia và bức thư sau đó. Kể từ ấy không còn tin tức gì về thanh tra De Angelis. Vụ án đã được khép lại? Ai mà biết chứ?
Tôi kể cho anh ta nghe về công việc của mình và anh ta có vẻ hứng thú. “Đúng là loại việc tôi thích làm: Sam Spade văn hóa. Hai mươi đô một ngày kèm các phụ phí khác.”
“Ngoại trừ việc không có phụ nữ bí ẩn, hấp dẫn nào ghé thăm và chưa từng có ai tới để nói về con ưng Malta,” tôi đáp.
“Anh chẳng biết trước được đâu. Bản thân anh thấy thú vị chứ?”
“Thấy thú vị ư?” tôi hỏi lại. Và tôi nhắc lại một câu nói của anh ta: “Đó là việc duy nhất mà có vẻ như tôi làm tốt.”
“Bon pour vous*,” anh ta nói.
Tiếng Pháp: Tốt cho anh.
Sau lần ấy chúng tôi lại gặp nhau và tôi kể anh ta nghe về trải nghiệm Brazil của mình, nhưng dường như anh ta lơ đãng hơn bình thường. Khi Lorenza Pellegrini không có đó, mắt anh ta cứ dán vào cửa, và khi nàng có mặt thì anh ta bồn chồn liếc dọc quầy bar, dõi theo từng cử động của nàng. Một tối nọ, gần giờ đóng cửa, anh ta nói mà không nhìn tôi, “Nghe này, có lẽ bên tôi cần nhờ tới dịch vụ của anh, nhưng không phải một lần là xong. Liệu anh có thể cho chúng tôi, xem nào, một vài buổi chiều mỗi tuần không?”
“Chúng ta có thể bàn xem. Liên quan tới gì vậy?”
“Một công ty thép ủy nhiệm làm một cuốn sách về kim loại. Nhiều minh họa. Nghiêm túc, nhưng đại chúng. Anh biết dạng này rồi: kim loại trong lịch sử, từ thời kỳ Đồ Sắt tới tàu vũ trụ. Chúng tôi cần ai đó sẽ đào bới các thư viện và kho tư liệu, tìm những hình ảnh minh họa đẹp, những bức tiểu họa cũ, những bản khắc các cuốn sách từ thế kỷ 19 về việc đun chảy quặng chẳng hạn, hay là cột thu lôi.”
“Được rồi. Mai tôi ghé qua.”
Lorenza Pellegrini tới chỗ anh ta. “Đưa em về được không?”
“Sao lại là tôi?” Belbo hỏi.
“Bởi vì anh là người đàn ông trong mộng của em.”
Anh ta đỏ mặt hơn bất kỳ ai khác trên đời từng đỏ mặt, và nhìn lảng đi. “Ở đây có một nhân chứng,” anh ta đáp. Rồi bảo tôi: “Tôi là người đàn ông trong mộng của cô ấy. Đây là Lorenza.”
“Chào.”
“Chào.”
Anh ta đứng dậy, thì thầm gì đó vào tai nàng.
Nàng lắc đầu. “Em muốn đi nhờ xe về nhà, chỉ vậy thôi.”
“Chà,” anh ta quay sang tôi. “Xin lỗi Casaubon, tôi phải đóng vai tài xế cho người đàn bà trong mộng của kẻ nào đó rồi.”
“Ngốc ạ,” nàng dịu dàng bảo và hôn lên má anh ta.