Con Lắc Foucault

Lượt đọc: 177 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
26

❊ ❊ ❊

Tất cả mọi truyền thống trên đời này cần được nhìn nhận như một sự phát xuất từ một truyền thống mẹ nền tảng mà từ buổi khởi thủy đã được giao phó cho con người tội lỗi và những con cháu đầu tiên của anh ta.

- Louis Claude de Saint Martin, De l’esprit des choses, Paris,

Laran, 1800, II, “De l’esprit des traditions en général”

Và tôi thấy Salvador: Salvador da Bahia de Todos OS Santos, “La Mã đen” với ba trăm sáu mươi lăm nhà thờ sừng sững nổi bật trên nền đường lượn của những ngọn đồi hay nép dọc theo bờ vịnh, những nhà thờ thờ phụng cả các vị thần châu Phi.

Amparo quen biết một họa sĩ nghiệp dư vẽ những tấm panel bằng gỗ lớn trong đó các hình ảnh Kinh Thánh và Khải huyền chen chúc nhau, lóa mắt như một bức tiểu họa Trung cổ, đan xen cả những yếu tố Copts lẫn Byzantine. Đương nhiên anh ta là người Mác-xít, anh ta nói về cuộc cách mạng sắp tới, nhưng ngày qua ngày lại mơ mộng trong những phòng để đồ thánh ở thánh đường Nosso Senhor do Bomfim: một khúc khải hoàn của nỗi sợ khoảng trống, trông như có vảy với những vật cúng tế treo trên trần và khảm vào tường, một tập hợp kỳ bí gồm những trái tim bạc, tay chân gỗ, hình ảnh những cuộc giải cứu kỳ khôi khỏi những cơn bão, vòi rồng, xoáy nước. Anh ta đưa chúng tôi tới nơi để đồ thờ của một nhà thờ khác, chất đầy những món đồ gỗ tuyệt diệu nồng mùi hoa tử uy. “Bức tranh này vẽ ai vậy?” Amparo hỏi người giữ đỗ thánh. “Thánh George à?”

Người giữ đồ thánh trao cho chúng tôi một cái nhìn hiểu chuyện. “Họ gọi ngài là thánh George,” ông ấy nói, “và nếu cô không gọi ngài như vậy, mục sư sẽ nổi cáu. Nhưng ngài là Oxossi*.”

Oxossi là vị thần của nghệ thuật săn bắn và rừng rậm trong tôn giáo Yoruba.

Trong hai ngày, họa sĩ kia dẫn chúng tôi lang thang các gian giữa và hành lang nhà thờ khuất sau những mặt tiền được tô điểm cầu kỳ như những chiếc đĩa bạc nay mòn cũ xỉn màu. Những người trợ tá da nhăn nheo, bước chân tập tễnh đi cùng chúng tôi. Những phòng chứa đồ thánh phát ốm lên vì vàng và thiếc, những chiếc rương nặng, những khung quý. Trên tường, trong những giá pha lê, những hình các vị thánh to bằng người thật sừng sững ngự, nhỏ máu, những vết thương rộng ngoác vấy đầy những giọt hồng ngọc; những chúa Jesus quằn quại trong đau đớn, chân thẫm đỏ. Trong ánh vàng rực rờ hậu kỳ ba-rốc, tôi thấy những thiên thần mang khuôn mặt Etruscan, những con sư tử đầu chim theo phong cách Roman, và những siren thần nữ điều Đông phương ngó ra từ những đầu cột.

Tôi đi dọc những con phố cổ mang những cái tên du dương như hát: Rua da Agonia, Avenida dos Amores, Travessa de Chico Diabo. Cuộc viếng thăm của chúng tôi tới Salvador diễn ra vào một thời điểm khi mà chính quyền địa phương, hoặc ai đó hành động nhân danh nó, đang cố tân tạo lại thành phố cổ kính này, và đang đóng cửa hàng nghìn nhà thổ. Nhưng dự án này mới làm nửa đời nửa đoạn. Ở chân những nhà thờ hoang phế lở loét bị những ngõ ngách bốc mùi xấu xa của chính chúng làm cho hổ thẹn, những cô gái bán dâm da đen tuổi mười lăm vẫn đứng hàng đàn, những phụ nữ già nua bán kẹo bánh châu Phi nép dọc hai bên lối đi bộ với những cái bình bốc khói, và hàng bầy cò mồi nhảy nhót giữa những dòng nước cống ri rỉ chảy theo tiếng nhạc phát ra từ đài bán dẫn ở các quán bar cạnh đó. Những dinh thự cũ của người Bồ Đào Nha thời đầu đến định cư, phủ đầy những huy hiệu nay không còn đọc được, đã trở thành chốn hành lạc.

Vào ngày thứ ba, người hướng dẫn đưa hai đứa chúng tôi đến quán bar của một khách sạn thuộc một phần đã được tu tạo ở khu vực trên cao của thành phố, trên một con phố đầy những hàng đồ cổ xa xỉ. Anh ta bảo chúng tôi, anh định gặp một ông người Ý đang muốn mua không nì nèo mặc cả một bức tranh của anh ta, bề ba mét bề hai mét, trong đó những đoàn thiên thần đông đúc giao tranh trận cuối cùng với những đạo quân đối địch.

Và thế là chúng tôi gặp Signor Agliè. Ăn vận không chê vào đâu được với bộ com lê ngực đúp kẻ sọc dẫu trời đang oi bức, ông ta đeo kính gọng vàng và có nước da hồng hào, mái tóc bạc. Ông ta hôn tay Amparo như thể không biết cách nào khác để chào một người phụ nữ và ông ta gọi rượu sâm banh. Khi họa sĩ kia phải đi, Agliè đưa cho anh ta một tập séc du lịch và đề nghị gửi tranh tới khách sạn của mình. Chúng tôi nán lại trò chuyện tiếp. Agliè nói tiếng Bồ rất khá, nhưng nghe có vẻ như ông ta học ngôn ngữ này ở Lisbon. Kiểu giọng ấy càng khiến ông ta giống một đức ông lịch lãm thời xưa. Ông ta hỏi về chúng tôi, bình luận về nguồn gốc có khả năng ở tận Geneva của tên tôi, và thể hiện sự hiếu kỳ về lịch sử dòng họ của Amparo, tuy bằng cách nào đó ông ta đã đoán được rằng nhánh chính là từ Recife, về nguồn gốc tên của chính mình thì ông ta mờ tịt. “Tôi cũng giống như nhiều người ở đây thôi,” ông ta nói. “Trong gien của tôi có vô số chủng tộc... Tên thì của Ý, từ tài sản cổ xưa của một vị tổ tiên. Có thể là một quý tộc, nhưng ngày nay ai còn quan tâm? Chính sự hiếu kỳ đã kéo tôi đến với Brazil. Tất cả các dạng thức của truyền thống đều mê hoặc tôi.”

Ông ta bảo chúng tôi ông ta có một thư viện khá hay về các khoa học tôn giáo ở Milan, nơi ông ta đã sống được vài năm. “Nếu các vị quay lại đó thì xin mời ghé qua chơi nhà tôi. Tôi có một số thứ thú vị, từ nghi lễ của người Brazil gốc Phi tới tục thờ cúng nữ thần Isis vào thời kỳ cuối của đế chế La Mã.”

“Tôi say mê tục thờ cúng Isis,” Amparo lên tiếng trong khi thường thì vì kiêu hãnh mà nàng hay giả ngu. “Hẳn ông phải biết mọi thứ có thể biết về chúng.”

Agliè khiêm nhường đáp: “Tôi mới được chứng kiến ít buổi lễ thôi.”

Amparo không bỏ cuộc: “Nhưng chẳng phải đó là chuyện hai ngàn năm trước sao?”

“Tôi không còn trẻ như cô.” Agliè mỉm cười.

“Tương tự Cagliostro,” tôi đùa. “Chẳng phải khi người ta đưa cho ông ta một cây thánh giá thì nghe thấy ông ta lẩm bẩm với trợ tá của mình rằng ‘Tối đó tôi đã nhắc gã Do Thái ấy phải cẩn thận rồi nhưng gã chẳng chịu nghe’ sao?”

Agliè cứng người lại. E rằng mình đã xúc phạm ông ta, tôi chực xin lỗi thì vị khách kia ngăn tôi lại với nụ cười khoan dung. “Cagliostro là tên lừa đảo. Ai chả biết hắn sinh ra ở đâu, khi nào, và hắn cũng chẳng kéo dài cuộc sống được bao lâu. Một kẻ khoác lác.”

“Tôi không nghi ngờ điều đó.”

“Cagliostro là một tên lừa đảo,” Agliè nhắc lại, “nhưng điều đó không có nghĩa rằng không có - và vẫn tồn tại - những người đặc quyền có nhiều cuộc đời. Khoa học hiện đại biết quá ít về quá trình lão hóa. Hoàn toàn không nên loại trừ khả năng rằng cái chết chẳng qua chỉ là kết cục của nền giáo dục kém cỏi. Cagliostro là một tên lừa đảo, nhưng bá tước Saint-Germain*, thì không. Chưa chắc ông ấy đã ba hoa khi tuyên bố rằng một số bí quyết hóa học của ông là nhờ học từ người Ai Cập cổ đại. Không ai tin ông ấy, vậy nên vì lịch sự với người nghe mà ông ấy giả bộ đang đùa vui.”

Bá tước de Saint Germain (1712-1784) là một cận thần châu Âu say mê khoa học kỹ thuật, ông ta từng nổi như cồn trong giới thượng lưu châu Âu vào giữa thế kỷ 18. Để đánh lạc hướng những lời hỏi về nguồn gốc xuất thân của mình, ông ta sáng tác ra những câu chuyện rằng mình đã 500 tuổi.

“Và giờ ông cũng giả bộ đang đùa vui để thuyết phục chúng tôi rằng ông đang nói sự thật,” Amparo nói.

“Cô không chỉ kiều diễm mà còn đặc biệt mẫn cảm,” Agliè nói. “Nhưng tôi khẩn cầu cô, đừng tin lời tôi. Nếu tôi xuất hiện trước mắt cô trong cái huy hoàng bụi bặm của bao thế kỷ cuộc đời mình mà nhan sắc diễm lệ của chính cô sẽ héo úa, tôi sẽ không bao giờ có thể tha thứ cho bản thân.”

Amparo bị chinh phục còn tôi thì nhói lên ghen tuông. Tôi đổi đề tài sang nhà thờ và hình thánh George-Oxossi mà chúng tôi đã thấy. Agliè nói rằng chúng tôi nhất định phải tham dự một buổi lễ candomblé. “Nơi đó không đòi một đồng của hai bạn. Họ cho phép hai bạn tham dự những buổi lễ thực sự mà không đòi hỏi bất cứ thứ gì. Thậm chí hai bạn không cần phải tin theo. Tất nhiên hai bạn phải quan sát một cách trân trọng, chứng tỏ một sự bao dung với mọi đức tin như họ đã làm khi chấp nhận sự vô tín của hai bạn. Thoạt nhìn thì một pai hay mãe-de-santo* nom như vừa từ Túp lều của bác Tom chui ra, nhưng phông văn hóa của họ không kém gì một nhà thần học Vatican đâu.”

Một nữ tu Umbanda, Candomblé và Quimbanda, các tôn giáo Brazil gốc Phi.

Amparo đặt tay lên tay ông ta. “Đưa chúng tôi đi với!” nàng nói. “Nhiều năm trước tôi cũng từng tới một buổi, trong một tenda de umbanda, nhưng tôi không còn nhớ được nhiều nữa. Tất cả những gì tôi nhớ là rất lộn xộn.”

Sự đụng chạm thể xác khiến Agliè lúng túng nhưng ông không rụt tay lại. Ông ta làm cái gì đó mà sau này tôi nhận thấy ông ta thường làm trong những lúc suy tư: đưa tay kia vào trong áo vest, ông ta lấy ra một cái hộp nhỏ bằng vàng và bạc trên nắp có khảm một viên mã não. Trông nó giống như hộp đựng thuốc lá hoặc hộp thuốc. Có một cây nến nhỏ đang cháy trên bàn và Agliè như thể tình cờ đưa cái hộp lại gần nó. Gặp hơi nóng, sắc màu của viên mã não mờ đi và từ vị trí của nó hiện lên một bức tiểu họa, rất tinh xảo, vẽ bằng màu xanh lục, xanh lơ và vàng, họa một cô gái chăn cừu với một giỏ hoa. Ông ta xoay nó giữa các ngón tay, đắm mình sùng kính, như thể đang đọc một bài kinh Mân côi. Khi nhận thấy sự chú ý của tôi, ông ta liền mỉm cười cất thứ đó đi.

“Lộn xộn ư? Tôi hy vọng, hỡi tiểu thư kiều diễm, rằng mặc dù cô rất mẫn cảm, cô không quá nhạy cảm. Đương nhiên đó quả là phẩm chất trác tuyệt khi đi cùng với nhan sắc và trí thông minh, nhưng lại thành ra nguy hiểm nếu cô tới một số nơi nhất định mà không biết để tìm kiếm điều gì hay sẽ tìm thấy. Thêm nữa, không nên nhầm lẫn umbanda với candomblé. Candomblé hoàn toàn là bản xứ - Brazil gốc Phi như người ta vẫn nói - trong khi umbanda mãi sau này mới được sinh ra từ sự pha trộn những nghi lễ bản địa với văn hóa bí truyền của châu Âu, và với một bí thuật mà tôi sẽ gọi là dòng Đền...”

Vậy là các hiệp sĩ dòng Đền lại tóm được tôi. Tôi nói với Agliè là mình từng nghiên cứu về họ. Ông ta hứng thú nhìn tôi. “Quả là một trường hợp kỳ thú, anh bạn trẻ, khi tìm được một hiệp sĩ dòng Đền trẻ tuổi ở đây, dưới chòm Thập tự Phương Nam.”

“Tôi không muốn ông coi tôi như một người thông thạo...”

“Thôi nào, Signor Casaubon. Giá anh biết có bao nhiêu điều vớ vẩn được dựng lên trong chủ đề này.”

“Tôi có biết.”

“Tốt. Nhưng chúng ta sẽ sớm gặp lại.” Trên thực tế, chúng tôi đã hẹn gặp vào ngày hôm sau: tất cả chúng tôi đều muốn khám phá cái chợ trong nhà dọc bến cảng.

Sáng hôm sau chúng tôi gặp nhau ở chợ, và đó là một cái chợ cá, một chợ Hồi giáo, một phiên chợ vào ngày lễ thánh đã sinh sôi nảy nở với tính độc hại của ung thư, giống như một vùng Lourdes bị những thế lực hắc ám tràn qua, các thầy phù thủy cầu mưa đứng bên những con khỉ lên cơn cuồng hứng bị đóng dấu sắt nung. Đây đó những túi bùa nhỏ giải hạn đựng kinh cầu nguyện được khâu vào lớp lót, những bàn tay nhỏ trong những khối đá bán quý, ngón giữa vươn dài, sừng san hô, thánh giá, những Ngôi sao David, những biểu tượng tính dục của các tôn giáo tiền Do Thái, võng, thám, ví, nhân sư, những trái tim thánh, ống tên của tộc Bororo, vòng cổ vỏ sò. Huyền học thoái hóa của thực dân châu Âu xuất phát từ tri thức huyền bí của người nô lệ, cũng giống như màu da của mỗi khách qua đường kể một câu chuyện giống nhau về những bảng phả hệ đã mất.

“Đây,” Agliè nói, “chính là hình ảnh của cái mà sách giáo khoa dân tộc học gọi là thuyết nhất thể Brazil. Một từ xấu xí theo quan điểm chính thống. Nhưng trong ý nghĩa cao quý nhất của nó, thuyết nhất thể là sự thừa nhận rằng có một Truyền thống độc nhất chảy xuyên suốt và nuôi dưỡng mọi tôn giáo, mọi tri thức, mọi triết học. Người thông thái không phân biệt, anh ta góp nhặt lại với nhau tất cả các mảnh vỡ ánh sáng, dù chúng xuất xứ từ nơi nào... Thế cho nên các nô lệ này, hoặc con cháu các nô lệ này, là thông thái hơn mấy nhà dân tộc học Sorbonne. Ít nhất thì cô cũng hiểu tôi, có phải không tiểu thư yêu kiều?”

“Trong đầu tôi thì không,” Amparo nói. “Nhưng trong bụng tôi thì có. Xin lỗi, tôi không tưởng tượng bá tước de Saint-Germain từng diễn đạt bằng những thuật ngữ như thế. Ý tôi là: tôi sinh ra ở đất nước này, thế nhưng thậm chí những thứ tôi không hiểu vẫn bằng cách nào đó cất tiếng nói cùng tôi từ đâu đó... Ở đây, tôi tin.” Và nàng đặt tay lên ngực mình.

“Hồng y Lambertini từng nói gì với một phụ nữ đeo thánh giá bằng kim cương lộng lẫy trên cổ? ‘Thật vui sướng sao khi được chết trên đồi Can-vê kia!’ Ồ, tôi ưa được lắng nghe những tiếng nói ấy làm sao! Nhưng giờ chính tôi phải xin hai bạn bỏ quá cho, cả hai người. Tôi thuộc một thời đại mà người ta sẽ chấp nhận bị rủa nguyền để thể hiện lòng tôn kính cái đẹp. Hẳn hai cô cậu đây muốn được một mình. Chúng ta hãy giữ liên lạc nhé.”

“Ông ta đủ già để làm cha của em,” tôi nói với Amparo khi kéo nàng qua những quầy hàng.

“Thậm chí làm cố nội của em ấy chứ. Ông ấy ám chỉ rằng ông ấy đã một ngàn tuổi. Anh ghen tuông với một xác ướp pharaoh à?”

“Anh ghen với bất kỳ ai khiến cái bóng điện trong đầu em bật sáng lên.”

“Đáng yêu quá. Tình yêu là thế.”

nghĩ của anh chạy quá nhanh so với cổ tay tê nhức. Nếu anh đánh máy, các con chữ dính vào nhau, và lần nữa mình lại phải theo tốc độ tầm thường của cỗ máy, không phải tốc độ nơ ron thần kinh của mình. Nhưng với cậu ta (nó? cô ta?) những ng
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.