Những người sống dưới mặt đất đã đạt tới tri thức cao nhất... Nếu nhân loại điên rồ của chúng ta gây chiến chống lại họ, họ có thể cho nổ tung toàn bộ bề mặt hành tinh của chúng ta...
− Ferdinand Ossendowski, Beasts, Men and Gods, 1924, v
Tôi ở nhà với Lia vì sau khi rời bệnh viện và phải thay tã lót cho em bé, nàng la khóc nói nàng sẽ không bao giờ đảm đương nổi. Ai đó giải thích cho chúng tôi rằng điều này là bình thường: sau cơn phấn khích vì sinh nở mẹ tròn con vuông là cảm giác bất lực khi đối diện với bộn bề trách nhiệm. Trong thời gian ấy, những lúc tha thẩn quanh nhà vì vô tích sự và không thể cho con bú, tất nhiên, tôi dành nhiều giờ đọc mọi thứ tìm được liên quan tới dòng đất.
Khi quay lại làm việc, tôi hỏi ý kiến của Agliè về việc này. Ông ta phác cử chỉ chán nản. “Những biểu tượng yếu, ám chỉ bí mật về con rắn Kundalini. Môn địa lý của Trung Quốc cũng tìm kiếm dấu vết của con rồng ở trong đất. Con rắn đất chẳng qua đại diện cho con rắn bí truyền. Nữ thần nghỉ ngơi, cuộn tròn, ngủ giấc ngủ ngàn năm. Kundalini nhẹ nhàng đập, kết nối những cơ thể nặng nề với những cơ thể nhẹ hơn. Giống như một cơn lốc hoặc một xoáy nước, giống như nửa đầu của âm om*.”
OmAum: biểu tượng âm thanh cao quý và trọn vẹn nhất trong đạo Hindu.
“Nhưng con rắn đó chỉ tới bí ẩn nào?”
“Tới các dòng đất.”
“Thế các dòng đất là gì?’
“Một phép ẩn dụ vũ trụ vĩ đại, chỉ tới con rắn.”
Quỷ tha ma bắt Agliè, tôi tự nhủ, mình còn biết nhiều hơn.
Tôi đọc những ghi chú của mình cho Belbo và Diotallevi, và chúng tôi không mảy may nghi ngờ gì nữa. Cuối cùng chúng tôi cũng có thể cung cấp cho các hiệp sĩ dòng Đền một bí mật đâu ra đó. Nó là giải pháp kinh tế nhất, đẹp đẽ nhất cho vấn đề, và tất cả các mảnh trong bảng ghép thiên niên kỷ của chúng tôi đã khít với nhau.
Vậy là: người Celt biết về các dòng đất; họ đã học được bí mật này từ người Atlantis khi những người sống sót của lục địa bị chìm này di cư, một số tới Ai Cập, một số tới Britanny.
Người Atlantis học về bí mật ấy từ những tổ tiên nhân loại đã dám dấn bước từ Avalon qua lục địa Mu cho tới sa mạc miền trung nước Úc - khi tất cả các lục địa còn là một khối đất liền duy nhất, Pangaea kỳ vĩ. Giá mà chúng tôi vẫn có thể đọc được (như người thổ dân úc có thể đọc nhưng họ vẫn im lặng) bảng chữ cái bí hiểm khắc trên khối đá thiêng Ayers, chúng tôi sẽ có lời Đáp. Đá Ayers là điểm đối xứng của ngọn núi vĩ đại (vô danh) là Địa cực, Địa cực huyền bí đích thực, không phải cái địa cực mà bất cứ tay thám hiểm tư sản nào cũng mò đến được. Như lẽ thường, và điều này rõ ràng với bất kỳ ai mà đôi mắt không bị che mù bởi ánh sáng sai trái của khoa học Tây phương, cái Địa cực mà chúng ta thấy không phải Địa cực thực sự, bởi vì Địa cực thực sự là cái không thể thấy, ngoại trừ một số cao nhân, những người miệng đã bị phong kín.
Tuy nhiên người Celt tin rằng vậy là đủ để khám phá ra cấu trúc toàn địa cầu của các dòng đất. Đó là lý do họ dựng những cự thạch. Trong những trụ đá ấy có các thiết bị cảm biến, giống như những van điện, được đặt ở những điểm nơi các dòng đất phân nhánh và đổi hướng. Những cánh đồng đánh dấu đường đi của các dòng điện đã được xác định. Còn mộ đá là những phòng tích năng lượng, địa điểm mà các tín đồ Druid dùng các công cụ địa lý cố gắng vẽ ra bản đồ toàn địa cầu bằng phép ngoại suy. Các mộ đá và Stonehenge là những đài quan sát vi-vĩ mô mà từ đó họ nghiên cứu hình thái của các chòm sao nhằm tiên đoán hình thái của các dòng điện, bởi vì, như Tabula Smaragdina cho chúng ta biết, cái ở trên là đồng hình của cái bên dưới.
Nhưng vấn đề không chỉ đơn giản có vậy. Nhánh khác của người Atlantis di cư đã sớm nhận ra. Kiến thức huyền bí của người Ai Cập truyền từ Hermes Trismegistus tới Moses, người chủ tâm không truyền nó cho bầy đoàn rách rưới của ông ta, những cái diều của đám người ấy vẫn nhét đầy bánh man-na trời cho; với họ ông ta đưa ra Mười Điều Răn, họ chỉ có thể hiểu đến thế. Sự thực cao hơn có tính chất quý tộc; Moses mã hóa nó trong Ngũ kinh Pentateuch. Cái này thì các tín đồ Kabbalah hiểu.
“Nghĩ mà xem,” tôi nói, “tất cả mọi thứ đã được viết sẵn đó, một cuốn sách mở, trong kích thước của Ngôi đền Solomon, và những người lưu giữ bí mật là Hội Thập tự Hoa hồng, nguồn gốc của Hội Trăng Vĩ đại - giáo phái Essene, nói cách khác, những người, như mọi người đều biết, đã tiết lộ cho Jesus biết những bí mật của họ. Và đến đây các anh có nguyên nhân thực sự vì sao Chúa Jesus bị đóng đinh...”
“Tất nhiên, Khổ hình của Christ là một phúng dụ báo trước cuộc phán xử các hiệp sĩ dòng Đền.”
“Phải. Và Joseph xứ Arimathea lấy, hoặc lấy lại, bí mật của Jesus đem về vùng đất của người Celt. Nhưng hiển nhiên bí mật này chưa hoàn chỉnh; những tín đồ Druid Thiên Chúa chỉ biết một mẩu của nó và đây chính là ý nghĩa bí truyền của Chén thánh: ở đây vẫn còn thiếu thứ gì đó, nhưng chúng ta không biết là gì. Bí mật - điều mà Ngôi đền đã nói đầy đủ - chỉ bị một nhóm đạo sư Do Thái vẫn còn sống ở Palestine nghi ngờ. Họ gửi gắm nó cho các giáo phái Hồi giáo huyền bí, cho Sufi, Ismaili, Motakallimun. Và các hiệp sĩ dòng Đền biết được từ những giáo phái kia.”
“Cuối cùng, cũng đến dòng Đền! Tôi bắt đầu lo lắng rồi đây,” Belbo nói.
Chúng tôi đang tạo hình Kế hoạch, nó giống như thứ đất sét mềm ngoan ngoãn nghe lời ngón tay chúng tôi, khát khao kể chuyện của chúng tôi. Các hiệp sĩ dòng Đền đã khám phá ra bí mật trong những đêm không ngủ, quắp lấy người bạn cùng lưng ngựa trên sa mạc nơi những trận gió ximun tàn nhẫn quét qua. Họ đã cố moi lấy từng mẩu từng mẩu một từ những người biết được các sức mạnh của vũ trụ tập trung trong Tảng đá đen ở thánh địa Mecca, di sản của các đạo sĩ Babylon - bởi vì bây giờ đã rõ một điều rằng tháp Babel không phải gì khác ngoài một nỗ lực dựng lên trụ đá hùng mạnh nhất, dù nỗ lực ấy vội vàng và đáng thất bại bởi sự ngạo mạn của những kiến trúc sư xây nó. Có điều người Babylon đã tính toán sai. Như Cha Kircher đã chứng minh, nếu như ngọn tháp được xây tới đỉnh, trọng lượng quá mức của nó hẳn sẽ khiến trục Trái đất quay chín mươi độ, thậm chí còn hơn thế, và địa cầu khốn khổ của chúng ta thay vì mang một vương miện hình con giống chọc thẳng lên trời cao thì sẽ lủng lẳng một cái ruột thừa vô ích, một mentulam* ủ rũ, một cái đuôi khỉ rủ, một Shekhinah* lạc trong địa ngục hoa mắt của Malkhut Nam cực, một chữ tượng hình mềm oặt hàm nghĩa chim cánh cụt.
Tiếng Latin: dương vật.
Phiên âm từ tiếng Hebrew có nghĩa là “nơi cư ngụ”, chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa chúng ta.
“Vậy, nói gọn lại, các hiệp sĩ dòng Đền đã khám phá ra bí mật gì?”
“Đừng có giục tôi. Chúng ta sắp đến đoạn đó đây. Phải mất bảy ngày để sáng tạo thế giới cơ mà. Và giờ chúng ta sẽ thử xem.”