Con Lắc Foucault

Lượt đọc: 139 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
34

❊ ❊ ❊

Beydelus, Demeymes, Adulex, Matucgayn, Atine, Ffex, Uquizuz, Gadix, Sol, Veni cito cum tuis spiritibus*.

Picatrix, Ms. Sloane 1305, 152, verso

Tiếng Latin: Và ta sớm tới với linh hồn các ngươi.

Sự Nứt vỡ những Chiếc bình. Diotallevi thường nói với chúng tôi về triết lý Kabbalah hậu kỳ của Isaac Luria, theo đó những khớp nối tuần tự của Sefirot không còn nữa. Luria cho rằng sáng tạo là một quá trình hít vào và thở ra thần thánh, tựa hơi thở dốc hay hoạt động của cái ống bễ.

“Bệnh hen suyễn của Chúa,” Belbo chú giải.

“Cậu cố gắng kiến tạo từ hư không. Ấy là việc mà cậu chỉ một lần làm trong đời. Chúa thổi ra thế giới như cậu thổi một bong bóng thủy tinh, và để làm vậy Người hít vào một hơi dài, nín hơi, rồi thả ra tiếng phù dài xán lạn của mười Sefirot.”

“Tiếng phù của ánh sáng?”

“Chúa thổi phù, và thế là có ánh sáng.”

“Đa phương tiện.”

“Nhưng ánh sáng của Sefirot phải được hội tụ trong những chiếc bình có thể chứa đựng được sự chói lọi của chúng mà không nứt vỡ. Những bình dành để tiếp nhận Keter, Hokhmah và Binah chịu được sự tráng lệ của chúng, nhưng với những Sefirot thấp hơn, từ Hesed tới Yesod, ánh sáng được thổi ra liền một hơi mạnh quá, thế là đám bình vỡ toang. Những mảnh vỡ của ánh sáng tràn khắp vũ trụ, và vật chất thô từ đó ra đời.”

Sự nứt vỡ của những chiếc bình là một tai ương, Diotallevi bảo vậy. Còn có gì khôn chịu thấu hơn là một thế giới bị thui chột? Hẳn ngay từ khởi thủy, trong vũ trụ đã phải có khiếm khuyết nào đó mà ngay cả rabbi* thông tuệ nhất cũng không thể giải thích thấu triệt. Có lẽ vào khoảnh khắc mà Chúa thở ra và trút rỗng bản thân Ngài, một vài giọt dầu nằm trong chiếc bình đầu tiên, một cặn vật chất, reshimu, đã làm ô tạp nguyên khí tinh thuần của Chúa. Hoặc có lẽ những con ốc - qelippot*, nguồn gốc của tàn phá - đang ranh mãnh náu đợi ở đâu đó.

Từ dùng để gọi các vị thầy giảng kinh Torah trong đạo Do Thái.

Còn gọi là QliphothQlippoth hay Kelipot, có nghĩa vỏ ốc, là đại diện cho những lực lượng tâm linh ma quỷ, ô trọc trong huyền học Do Thái.

“Cái nòi nhớp nháp, lũ qelippot đó,” Belbo nói. “Những đặc vụ quỷ quyệt của tiến sĩ Fu Manchu. Thế rồi sao?”

Thế rồi Diotallevi kiên nhẫn giảng giải rằng trong ánh sáng của Phán quyết Khắc nghiệt, hay Gevurah - còn được biết đến dưới cái tên Pachad, hay Kinh hoàng - Sefirah mà theo lời Isaac Mù thì chính trong nó cái Ác lần đầu lộ diện, những con ốc đạt tới sự tồn tại đích thực.

“Vậy ra đám ốc đang ở giữa chúng ta,” Belbo nói.

“Cứ ngó quanh cậu xem,” Diotallevi đáp.

“Có cách nào thoát ra không?”

“Đường quay trở lại thì có,” Diotallevi đáp. “Tất cả khởi tự Chúa, trong sự thu nhỏ của tsimtsum. Vấn đề là đạt tới tikkun*, sự khôi phục Adam Qadmon*. Rồi chúng ta sẽ xây dựng lại mọi thứ trong cấu trúc cân bằng của Parzufim, những khuôn mặt - hay đúng hơn là những hình dạng - mà rồi sẽ thay thế Sefirot. Sự thăng hoa của linh hồn cũng giống như sợi dây lụa giúp cho ý hướng mộ đạo đang dò dẫm trong bóng tối tìm được đường tới ánh sáng. Và vậy là thế giới không ngừng nỗ lực, bằng cách kết hợp các con chữ của kinh Torah, để khôi phục dạng thức tự nhiên của nó, để ngoi lên khỏi hỗn độn kinh hoàng.”

TikkunTikun là từ trong tiếng Hebrew có nghĩa là “Sửa chữaHiệu chỉnh”.

Adam Kadmon là cụm từ trong các văn bản tôn giáo của Kabbalah có nghĩa là “con người nguyên thủy”, là người đầu tiên lưu xuất từ Thiên Chúa vô hạn, phân biệt với Adam Ha-Rishon mang trong mình mọi linh hồn tương lai của loài người trưởc khi phạm tội bị đuổi khỏi Thiên Đàng. Lãnh địa tâm linh của Adam Kadmon đại diện cho sephirah Keter.

Và đó chính là điều tôi đang làm lúc này đây, giữa canh khuya, trong bình thản phi tự nhiên của những ngọn đồi. Nhưng, tối nọ trong chiếc kính tiềm vọng, tôi vẫn còn lóp ngóp trong dịch nhầy của những con ốc cơ hồ bủa vây tôi tứ phía, của những con sên bị nhốt trong các giá thủy tinh của Viện bảo tàng, giữa những phong vũ biểu và đồng hồ gỉ sét, chìm trong giấc ngủ đông say như chết. Khi ấy tôi nghĩ rằng nếu từng có việc những chiếc bình nứt vỡ thì vết nứt đầu tiên hẳn phải xuất hiện vào buổi tối ở Rio, trong buổi lễ kia, nhưng phải sau khi tôi trở về cố quốc thì cái bình mới vỡ. Nó diễn ra chậm chạp, vô thanh, vậy nên tất cả chúng ta bất ngờ thấy mình kẹt trong bãi lầy của vật chất thô, nơi mà dòi bọ độc hại tự nảy sinh.

Khi từ Brazil về, tôi hầu như không còn biết bản thân mình là ai nữa. Tôi đang gần tới tuổi ba mươi. Ở tuổi đó, cha tôi đã làm bố, ông biết ông là ai và cư ngụ ở nơi nào.

Tôi đã cách đất nước mình quá xa khi những điều lớn lao xảy đến. Tôi đã sống trong một thế giới căng phồng những sự phi thường, nơi mà các sự kiện ở Ý khoác một vầng huyền thoại. Không lâu trước lúc tôi rời khỏi bán cầu kia, ấy là khoảng gần cuối thời gian tôi ở đó và tự thết mình một chuyến bay trên những cánh rừng Amazon, lúc dừng nghỉ chân ở Fortaleza tôi đã mua một tờ báo địa phương. Trên trang nhất là bức ảnh nổi bật của một người tôi biết: suốt bao năm tôi đã thấy ông nhấm nháp vang trắng ở Pilade. Dòng chú thích ảnh đề: “O homem que matou Moro”.

Khi về nước, tôi nhận ra rằng tất nhiên ông không phải là người giết Moro. Nếu đưa ông một khẩu Sling đã lên đạn thì ông sẽ bắn vào tai mình trước để kiểm tra xem súng hoạt động tốt không. Chuyện đã xảy ra chẳng qua là một đội chống khủng bố bất ngờ ập tới chỗ ông và tìm thấy ba khẩu súng cùng hai gói thuốc nổ giấu dưới gầm giường. Ông đang nằm trên giường vì đó là đồ đạc duy nhất trong căn hộ một phòng thuê chung với một nhóm sống sót sau sự kiện năm 1968, họ dùng nơi này để thỏa mãn nhu cầu xác thịt. Nếu trang trí duy nhất trong phòng không phải là bức áp phích của Inti-Illimani thì nơi này có thể lẫn với bất cứ nhà trọ sinh viên rẻ tiền nào. Nhưng một trong những người thuê ở đây là thành viên của một nhóm có vũ trang và những người khác không hề biết mình đang góp tiền chu cấp mái ấm an toàn cho nhóm ấy. Tất cả đều bị tống vào tù một năm.

Tôi rất mù mờ về những gì đã xảy ra ở Ý trong vài năm qua. Đất nước đang nằm trên bờ những đổi thay lớn lao vào thời điểm tôi rời bỏ nó - rời bỏ với tâm trạng tội lỗi, cảm thấy gần như bản thân đang trốn chạy khỏi khoảnh khắc thanh toán nợ nần. Trước khi tôi đi, chỉ cần nghe giọng của một người, tôi có thể nhận ra được ý thức hệ của anh ta. Tôi đã quay về đây nhưng giờ không thể phân định nổi ai thuộc phe nào nữa. Không còn ai nói chuyện về cách mạng; chủ đề mới là vô thức. Những người tự xưng cánh tả dẫn lời Nietzsche và Céline trong khi các tạp chí cánh hữu hoan nghênh cách mạng ở Thế giới Thứ ba.

Tôi quay lại Pilade nhưng cảm thấy mình ở một xứ lạ. Bàn bi-a vẫn nằm đó, ít nhiều vẫn những họa sĩ đó, nhưng hệ động vật trẻ thì đã thay đổi. Tôi tìm hiểu được rằng một số khách cũ đã mở trường thiền tiên nghiệm hay nhà hàng thực dưỡng. Rõ ràng vẫn chưa có ai nghĩ đến một tenda de umbanda. Có lẽ tôi đã đi trước thời đại.

Để xoa dịu những người nặng lòng hoài cổ, Pilade vẫn đặt một trong những chiếc máy pinball lỗi thời ngày trước, loại mà giờ đây trông như phỏng theo một bức vẽ của Lichtenstein và được những tay buôn đồ cổ mua sỉ. Tuy nhiên, ngay bên cạnh nó, các vị khách trẻ tập trung quanh những chiếc máy khác, những chiếc máy có màn hình huỳnh quang trên đó những con ó hay chiến binh Thần Phong cách điệu từ hành tinh X chao liệng, hoặc những con ếch nháy quanh kêu oàm oạp bằng tiếng Nhật. Pilade là một dàn máy game thùng với những bóng đèn nhấp nháy đầy ác hiểm, và các liên lạc viên của Lữ đoàn Đỏ giữa đường tuyển binh rất có thể ghé qua thay phiên nhau đổi gió trên màn hình Kẻ xâm lược Không gian. Nhưng họ không thể chơi pinball; bạn không thể chơi pinball với một khẩu súng giắt bên sườn.

Một tối nọ, tôi nhận ra điều này khi hướng theo ánh mắt của Belbo và thấy Lorenza Pellegrini bên chiếc máy. Hay đúng hơn là sau này, khi tôi đọc những gì anh ta viết trong Abulafia. Không nhắc tên Lorenza nhưng rõ ràng là viết về nàng. Nàng là người duy nhất chơi pinball như thế.

Pinballdoc

Bạn không chỉ chơi pinball bằng tay, bạn còn chơi bằng cả hông. Vấn đề của pinball không phải là dừng quả bóng trước khi nó bị cái miệng ở phía dưới nuốt lấy hay là hẩy nó trở lại giữa sân như một trung vệ. Vấn đề là làm sao cho nó níu nắng lại nơi có nhiều mục tiêu sáng đèn hơn và khiến nó nẩy từ mục tiêu này sang mục tiêu khác, lang thang, bối rối, hoảng loạn, nhưng vẫn là một kẻ tự do. Và bạn đạt được điều ấy không chỉ nhờ đẩy quá bóng mà còn nhờ cả việc truyền những rung động tới cái giá, cái khung, nhưng phải thật khẽ khàng, làm sao để cỗ máy không nhận ra mà bảo NGHIÊNG*. Bạn chỉ có thể làm vậy bằng háng, hoặc bằng cách khéo léo điều khiển cặp hông sao cho háng mình không hẳn là va mà chỉ sượt qua, giữ bạn nán lại phía bên này của một cơn cực khoái. Và nếu như hông chuyển động thuận theo tự nhiên thì chính mông cung cấp lực đẩy tới, nhưng thật tinh tế, để khi cú dấn chạm tới vùng xương chậu, nó dịu lại, như trong liệu pháp vi lượng đồng căn*, cái liệu pháp mà ta càng lắc thuốc và thuốc càng hòa tan vào lượng nước được thêm từ từ, cho tới khi thuốc gần như hoàn toàn biến mất, thì nó càng mạnh và hiệu nghiệm. Bởi vậy mà từ háng, một nhịp điệu siêu vi được truyền tới chiếc giá, và cỗ máy phục tùng, quả bóng hoạt động ngược lại tự nhiên, ngược lại quán tính, ngược lại trọng lực, ngược lại các luật động lực học, và ngược lại đầu óc của người sáng tạo ra nó, kẻ muốn nó không phục tùng. Quả bóng đã chếnh choáng với vis movendi*, vẫn tiếp tục màn trình diễn trong những thời đoạn hữu hạn và vô hạn. Nhưng nhất thiết phải là cái háng của người đàn bà, cái háng không chèn cơ thể bọt biển nào vào giữa hồi tràng và cỗ máy, và phải không được có vật cương cứng nào ở giữa, chỉ da, đầu dây thần kinh, xương nhồi thịt bó trong quần jean, và một cơn cuồng nộ dục tình thăng hoa, một sự lãnh cảm ranh mãnh, một khả năng thích ứng một cách dửng dưng trước phản ứng của đối phương, một năng khiếu khơi dậy hưng phấn tình dục mà không phải chịu đựng việc đi quá giới hạn của bản thân: cô nàng Amazon phải làm cái pinball phát cuồng và khoái trá với ý nghĩ rằng rồi nàng sẽ bỏ rơi nó.

Hệ thống cảnh báo “NGHIÊNG” nhằm tránh việc người chơi gian lận tác động lên khung máy pinball để chơi được lâu hơn và điểm số cao hơn.

Vi lượng đồng cân hay vi lượng đồng cân liệu pháp là một phác đồ y học điều trị bệnh nhân bị mắc một bệnh nào đó bằng cách sử dụng những chế phẩm được pha loãng mà những chế phẩm này cũng gây ra các triệu chứng cho một người bình thường giống như là triệu chứng của chính căn bệnh cần chữa gây ra.

Tiếng Latin: chuyển động.

Tôi tin ấy chính là lúc Belbo phải lòng nàng Lorenza Pellegrini: khi anh ta nhận ra rằng nàng có thể hứa hẹn cho anh ta một hạnh phúc ngoài tầm với. Nhưng tôi cũng tin rằng chính thông qua nàng mà anh ta bắt đầu ý thức được về bản chất gợi tình của những vũ trụ tự động hóa, cổ máy như phép ẩn dụ về cơ thể vũ trụ, trò chơi máy móc như là sự khai phóng dưới quyền nâng bùa chú. Anh ta đã đắm chìm vào Abulafia và có lẽ, ngay từ lúc ấy, đã tiến vào tinh thần của Dự án Hermes. Chắc chắn anh ta đã thấy Con lắc. Bằng cách nào đó, Lorenza Pellegrini đã mang đến lời hứa hẹn về Con lắc.

Tôi gặp khó khăn trong việc tái hòa nhập với Pilade. Từng chút từng chút một, nhưng không phải tối nào cũng thế, giữa rừng rậm những khuôn mặt xa lạ, tôi tìm kiếm lại những khuôn mặt quen thuộc, khuôn mặt của những kẻ sống sót, mặc dù chúng bị nhòe đi vì nỗ lực nhận diện của tôi. Người kia là một copywriter cho một hãng quảng cáo; người này, một tư vấn viên thuế; và người nọ bán sách trả góp - ngày trước anh ta bán rong các tác phẩm của Che, nhưng giờ đây anh ta bán sách nghiên cứu về thảo mộc, Phật giáo, chiêm tinh. Họ đã tăng thêm vài cân và thêm vài sợi bạc trên đầu, nhưng tôi cảm thấy rằng những ly Scotch-on-the-rock mà họ đang cầm trong tay vẫn là những ly họ đã cầm từ mười năm trước. Họ đang chậm rãi nhấp, cứ mỗi sáu tháng lại nhấp một giọt.

“Cậu đang làm gì vậy? Ghé qua chơi với bọn mình không?” một người trong bọn hỏi tôi.

“Bây giờ bọn mình đó là ai thế?”

Anh ta nhìn tôi cứ như tôi đã đi xa cả thế kỷ. “Dĩ nhiên là ủy ban Văn hóa ở Tòa Thị chính rồi.”

Tôi đã bỏ lỡ quá nhiều nhịp.

Tôi quyết định tự sáng tạo ra một nghề cho mình. Tôi biết nhiều thứ, những thứ chả ăn nhập gì với nhau, nhưng tôi muốn có thể kết nối chúng lại sau vài giờ trong thư viện. Tôi từng nghĩ cần phải có một học thuyết, và vấn đề của tôi là tôi không có. Nhưng giờ đây tất cả những gì bạn cần là thông tin; tất cả mọi người đều đói thông tin, càng lỗi thời càng hay. Tôi ghé qua trường đại học để xem liệu mình có phù hợp với nơi nào không. Các giảng đường lặng ngắt, sinh viên nhẹ lướt dọc hành lang như những bóng ma, cho tôi mượn những thư mục được làm rất tồi. Tôi thì lại biết cách soạn ra một thư mục tốt.

Một hôm nọ, có một nghiên cứu sinh nhầm tôi là cán bộ giảng dạy (giảng viên ngày nay tuổi sàn sàn sinh viên hoặc ngược lại) hỏi tôi cái ông Lord Chandos mà người ta đang nói đến trong một khóa kinh tế học về khủng hoảng chu kỳ từng viết cuốn nào vậy. Tôi bảo anh ta rằng Chandos là một nhân vật của Hofmannsthal, không phải một nhà kinh tế học.

Cũng tối đó, tôi dự một buổi tiệc với vài người bạn cũ và nhận ra một người làm việc cho một nhà xuất bản. Anh ta đến đó làm sau khi nhà này đã chuyển từ sáng tác của các tiểu thuyết gia Pháp hợp tác với Đức Quốc xã sang sách chính trị Albania. Họ vẫn xuất bản sách chính trị nhưng có sự hỗ trợ của chính phủ. Và đôi khi gặp được một tác phẩm triết học tốt thì họ cũng không từ chối - với điều kiện nó thuộc dòng kinh điển, anh ta nói thêm.

“Nhân tiện,” anh ta bảo tôi, “vì anh là một nhà triết học...”

“Cảm ơn, nhưng đáng tiếc tôi không phải.”

“Thôi nào, anh trên thông thiên văn dưới tường địa lý. Tôi vừa xem qua bản dịch một cuốn sách về khủng hoảng của Chủ nghĩa Mác và tôi gặp một câu trích dẫn của Anselm xứ Canterbury. Là ai thế nhỉ? Tôi tìm trong cả Từ điển tác gia cũng không thấy tên ông ta.” Tôi bảo anh ta đó chính là Anselmo thành Aosta, và chỉ có người Anh, những kẻ thích mình mình đi một lối khác với cả thiên hạ, mới gọi ông ấy là Anselm xứ Canterbury.

Ánh sáng giác ngộ đột ngột bừng lên: cuối cùng tôi cũng có một nghề. Tôi sẽ lập ra một văn phòng điều tra văn hóa, một loại thám tử tư về kiến thức.

Thay vì chõ mũi vào các quán rượu lậu và nhà thổ náo nhiệt cả đêm, tôi sẽ lẩn quanh các hiệu sách, thư viện, hành lang các trường đại học. Rồi tôi sẽ ngồi trong văn phòng mình, chân gác lên bàn, nốc whiskey trong cốc giấy, chỗ whiskey đựng trong túi giấy mà tôi mua tại một cửa hàng tiện lợi. Chuông điện thoại reo và một người bảo: “Nghe này, tôi đang dịch một cuốn sách và gặp một cái tên người hay tên vật gì đó gọi là Motakallimûn. Của khỉ gì vậy?”

Cho tôi hai ngày, tôi đáp. Rồi tôi tới thư viện, lướt qua vài danh mục sách, biếu nhân viên phòng tra cứu một điếu xì gà và lượm được một manh mối.

Tối đó, tôi mời một tay trợ giảng nghiên cứu về Hồi giáo ra quán. Tôi đãi anh ta vài vại bia thế là anh ta lơ là cảnh giác, biếu không thông tin cho tôi. Tôi gọi lại cho khách hàng. “Được rồi, Motakallimûn là những nhà thần học Hồi giáo cực đoan thời Avicenna. Họ cho rằng thế giới này là một dạng mây bụi gồm những sự ngẫu nhiên, chỉ do ý chí tức thời và chóng qua của đấng tối linh mà kết thành những hình dạng cụ thể. Nếu chỉ một khoảnh khắc thôi Chúa trời bị sao nhãng, cả vũ trụ sẽ tan ra thành từng mảnh, trở lại làm một đám nguyên tử hỗn loạn vô nghĩa. Vậy đã đủ thông tin cho ông chưa? Tôi mất ba ngày cho vụ này. Ông nghĩ trả sao cho đáng công tôi thì trả.”

Tôi may mắn tìm thấy căn hộ hai phòng với một cái bếp nhỏ trong một tòa nhà cũ ở ngoại ô. Hẳn nơi này từng là một nhà máy, có một chái dành làm văn phòng. Tất cả các căn hộ cải tạo lại từ đó đều trông ra một hành lang dài. Tôi sống kẹp giữa một tay môi giới nhà đất và xưởng làm việc của một người nhồi bông thú (A. Salon, tấm biển ghi vậy). Tình cảnh ấy giống như sống trong một tòa chọc trời của Mỹ vào thập niên ba mươi; nếu có thêm cửa ra vào bằng kính, hẳn tôi sẽ thấy mình khác nào chàng thám tử Marlowe. Tôi kê một chiếc giường kiêm xô pha trong căn phòng phía sau và biến phòng trước thành một văn phòng. Trong hai chiếc giá sách, tôi xếp một ít Atlas, bách khoa toàn thư, catalog mình kiếm được dần từng tí một. Ban đầu, tôi phải giả điếc với lương tâm mình mà viết hộ luận văn cho những sinh viên cùng đường. Việc đó chẳng khó gì: tôi chỉ cần sao chép lại một ít từ thập kỷ trước. Nhưng rồi bạn bè của tôi trong ngành xuất bản bắt đầu gửi bản thảo và sách ngoại văn cho tôi đọc, đương nhiên là những thứ ít hấp dẫn nhất và thù lao hẻo.

Dầu vậy tôi đang tích lũy kinh nghiệm và thông tin nên không bao giờ ném thứ gì đi. Tôi lưu lại tất cả thành những tập tài liệu. Tôi không tính chuyện dùng máy vi tính (loại máy này khi ấy vừa ra thị trường, Belbo là một trong những người tiên phong). Thay vào đó, tôi có những thẻ chỉ mục tra cứu chéo. Nebulae, Laplace; Laplace, Kant; Kant, Königsberg, bảy cây cầu của Königsberg, các định lý của tô pô học... Nhang nhác một trò chơi mà bạn phải đi từ xúc xích tới Plato trong năm bước thông qua việc kết hợp các ý niệm. Hãy xem nào: xúc xích, lông lợn, bút lông, hội họa Mannerism, Ý niệm, Plato. Dễ mà. Thậm chí bản thảo dở nhất cũng đem lại cho tôi hai mươi tấm thẻ mới trong kho. Tôi có một nguyên tắc nghiêm ngặt mà hẳn cũng được người ta tuân thủ trong các tổ chức mật: Không thông tin nào quan trọng hơn thông tin nào. Sức mạnh nằm ở việc có tất cả chúng trong hồ sơ và rồi tìm ra các kết nối. Các kết nối luôn sẵn đó; việc của anh chỉ là phải tìm ra chúng.

Sau khoảng hai năm làm việc, tôi khá hài lòng với bản thân. Tôi đã có những tháng ngày vui thú. Trong thời gian ấy, tôi gặp Lia.

nghĩ của anh chạy quá nhanh so với cổ tay tê nhức. Nếu anh đánh máy, các con chữ dính vào nhau, và lần nữa mình lại phải theo tốc độ tầm thường của cỗ máy, không phải tốc độ nơ ron thần kinh của mình. Nhưng với cậu ta (nó? cô ta?) những ng
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.