Hoàng tử Babylon, Hiệp sĩ Thập tự Đen, Hiệp sĩ Tử thần, Chúa tể Uy nghiêm của Vầng Hào quang, Thầy tế Mặt trời, Đại kiến trúc sư, Hiệp sĩ Hắc Ưng và Bạch Ưng, Mái vòm Hoàng gia Thần thánh, Hiệp sĩ Phượng hoàng, Hiệp sĩ Iris, Thầy tế Eleusis, Hiệp sĩ Bộ Lông Cừu Vàng.
− Các chức sắc cao thuộc Dòng Scotland Cổ Được công nhận
Chúng tôi đi dọc hành lang, trèo thêm ba bậc, đi qua một cửa kính mờ và bất ngờ tiến vào một vũ trụ khác. Những căn phòng tôi đã thấy cho tới lúc đó đều tối tăm, bụi bặm, tróc lở, nhưng nơi này khác nào sảnh VIP ở sân bay. Tiếng nhạc du dương, một phòng chờ xa hoa với đồ đạc thiết kế riêng, tường lam nhạt điểm những bức ảnh chụp các đức ông nom như thành viên Nghị viện đang trao tượng Thần Chiến thắng có cánh cho các đức ông trông như thượng nghị sĩ. Trên mặt bàn cà phê, giống trong phòng khám của nha sĩ, bày những tạp chí hấp dẫn với những nhan đề như Văn học và hài hước, Lò luyện thơ, Hoa hồng và gai, Parnassus in nghiêng, Thơ tự do. Đều là những tờ tôi gặp lần đầu trong đời, và sau này tôi hiểu vì sao: chúng chỉ được phân phối tới các khách hàng của Manutius.
Thoạt tiên tôi nghĩ đây là khu văn phòng của ban giám đốc Garamond, nhưng rồi tôi nhanh chóng nhận ra không phải vậy. Đây hoàn toàn là một nhà xuất bản khác. Hành lang của Garamond có một cái kệ kính nhỏ, lấm bụi và mờ tịt, trưng bày những ấn phẩm mới nhất, nhưng sách vở rất khiêm nhường, nhiều trang chưa rọc và bìa xám nhã nhặn noi theo ấn phẩm của các trường đại học Pháp. Giấy thuộc loại vài năm là ngả vàng khiến người ta có ấn tượng rằng tác giả đã có sách in từ lâu rồi dù tuổi anh ta trẻ đến đâu. Nhưng tủ kính ở nơi này thì có gắn đèn bên trong, trưng bày sách của Manutius, một số cuốn được mở ra phô bày những trang sách rực rỡ. Chúng có bìa trắng sáng bóng cán ni lông trong suốt trang nhã, giấy thông thảo đẹp đẽ và in ấn rõ ràng.
Trong khi catalog của Garamond đăng những sách học thuật như Nghiên cứu khoa học nhân văn và triết học thì các sách của Manutius được đặt tên tinh tế, nên thơ: Đóa hoa chưa hái (thơ), Terra Incognita* (tiểu thuyết), Thời khắc của đóa trúc đào (bao gồm Nhật ký về căn bệnh của một cô bé), Đảo Phục sinh (phi hư cấu tổng hợp, tôi tin chắc vậy), Tân Atlantis (bán ấn hành gần nhất Thăm lại Königsberg: Lời tựa tới mọi siêu hình học tương lai được trình bày đồng thời như hệ thống tiên nghiệm và như một khoa học của xuất tượng hiện tượng). Trên mỗi bìa sách đều có logo của nhà xuất bản: một chú bồ nông đứng dưới tán cọ kèm theo câu khẩu hiệu của D’Annunzio “Tôi nhận về thứ mà tôi đã trao đi”.
Tiếng Latin: vùng đất chưa được biết tới.
Belbo giải thích vắn tắt: Signor Garamond sở hữu hai nhà xuất bản. Trong những ngày sau đó, tôi nhận ra rằng hành lang giữa Garamond và Manutius là riêng tư và bí mật. Cổng vào chính thức của Nhà xuất bản Manutius nằm trên đường Marchese Gualdi, con phố nơi mà thế giới mưng mủ của đường Sincero Renato nhường chỗ cho những mặt tiền tinh tươm không tì vết, những vỉa hè rộng thênh, những gian sảnh với thang máy nhôm. Không ai có thể nghi ngờ rằng một căn hộ trong một tòa nhà cũ kỹ trên đường Sincero Renato lại có thể nối liền chỉ bằng ba bậc tam cấp với một tòa nhà trên phố Marchese Gualdi. Để được cấp phép làm điều này, Singor Garamond hẳn phải dày công xin xỏ lắm. Tôi tin rằng ông ta được một trong các tác giả của mình, một quan chức trong Cục Quy hoạch Thành phố giúp đỡ.
Chúng tôi được Signora Grazia mau mắn đón tiếp. Đó là một cô nương nhã nhặn đoan trang, chiếc khăn và bộ âu phục thiết kế riêng vừa khéo hợp với màu tường. Với một nụ cười ý tứ, cô dẫn chúng tôi vào một văn phòng gợi nhớ tới phòng làm việc của Mussolini.
Căn phòng không mênh mông như thế, song phảng phất như gian sảnh ở Palazzo Venezia kia. Nơi đây cũng có một quả địa cầu gần cửa ra vào và tít cuối phòng là cái bàn gỗ gụ của Signor Garamond, người dường như đang nhìn chúng tới qua cặp ống nhòm đảo ngược. Ông ta ra hiệu cho chúng tôi tiến tới và tôi cảm thấy chờn chợn. Lát sau, khi De Gubematis bước vào, Garamond đứng dậy ra chào ông ta, một cử chỉ thân mật khắc sâu hơn nữa tầm quan trọng của nhà xuất bản kia. Vị khách thoạt tiên đứng nhìn ông ta từ đầu kia phòng, rồi đi ngang phòng, khoác tay ông chủ, và, như thể có ma thuật nào đó, khoảng cách liền nhân đôi.
Garamond vẫy chúng tôi ngồi đối diện với bàn mình. Ông ta cộc lốc nhưng thân thiện: “Tiến sĩ Belbo đánh giá cao về cậu, tiến sĩ Casaubon. Chúng tôi cần người giỏi. Tất nhiên như cậu biết, chúng tôi không thuê cậu làm nhân viên chính thức. Không trang trải nổi chi phí. Nhưng cậu sẽ được trả thù lao hậu hĩnh cho những cống hiến của mình. Cho sự tận tâm của cậu, nếu ta có thể nói vậy, bởi vì ta coi công việc của chúng ta là một sứ mệnh.”
Ông ta nhắc tới một mức thù lao cố định dựa trên giờ làm việc dự kiến; nghe có vẻ hợp lý so với thời ấy. Tôi chấp nhận.
“Rất tốt, Casaubon.” Giờ tôi đã là người làm công, kính ngữ liền biến mất. “Cuốn lịch sử kim loại này,” ông ta nói tiếp, “phải thật tráng lệ, còn hơn thế, phải là sản phẩm của cái đẹp. Đại chúng, nhưng cũng học thuật. Nó phải nắm bắt được tưởng tượng của độc giả. Một ví dụ. Ở đây trong bản phác thảo đầu tiên có nhắc tới những quả cầu này - chúng gọi là gì nhỉ? Phải, các bán cầu Magdeburg. Hai bán cầu mà khi áp vào nhau và rút hết không khí ra, tạo nên một vùng chân không bên trong. Đoạn người ta buộc hai đoàn ngựa vào hai bán cầu rồi thúc cho chúng chạy về hai hướng đối ngược. Lũ ngựa không thể tách hai bán cầu ra được. Đây là thông tin khoa học. Nhưng nó đặc biệt, nó đẹp mắt. Cậu phải tách nó ra từ tất cả những thông tin khác, rồi tìm hình ảnh phù hợp - bích họa, tranh sơn dầu, gì cũng được - và chúng ta sẽ dành riêng cho nó cả một trang, in màu.”
“Tôi biết một bản khắc liên quan,” tôi nói.
“Cậu nhận ra vấn đề rồi hả? Hoan hô! Cả một trang. In màu.”
“Bởi vì đó là một bản khắc, phải in đen trắng,” tôi nói.
“Thật sao? Tốt, đen và trắng cũng được. Tính chính xác là trên hết. Nhưng trên nền vàng nhũ. Nó phải tác động mạnh vào người đọc, khiến họ cảm thấy như mình ở đó vào cái ngày thí nghiệm kia diễn ra. Hiểu điều tôi nói chứ? Khoa học, chủ nghĩa hiện thực, đam mê. Với khoa học cậu có thể tóm cổ độc giả. Còn gì kịch tính hơn là Madame Curie một tối nọ về nhà thấy chất lân tinh ánh lên trong bóng tối? Ôi Chúa ơi, đó có thể là gì chứ? Hydrocarbon, mỏ vàng, nhiên liệu, bất kể cái tên quái quỷ nào mà họ đặt cho nó, và voilà, Marie Curie phát minh ra tia X. Kịch tính hóa! Nhưng với sự tôn trọng tuyệt đối sự thật.”
“Tia X thì có liên quan gì tới kim loại ạ?” tôi hỏi.
“Radium không phải kim loại sao?”
“Vâng.”
“Thế đấy. Toàn bộ kiến thức đều có thể quan sát từ góc nhìn của kim loại. Chúng ta đã quyết định đặt tên cho cuốn sách là gì nhỉ, Belbo?”
“Chúng tôi đang nghĩ tới thứ gì đó chuẩn mực, chẳng hạn như Kim loại.”
“Đúng, nó phải chuẩn mực. Nhưng với một cái móc câu, một chi tiết nhỏ phô bày toàn bộ câu chuyện. Xem nào... Kim loại: Một thiên lịch sử thế giới. Trong đó có người Tàu không?”
“Có ạ.”
“Vậy thì là thế giới rồi. Không phải chiêu quảng cáo: nó là sự thật. Đợi đã, ta có rồi đây: Chuyến phiêu lưu kỳ thú của kim loại.”
Đúng lúc ấy Signora Grazia thông báo Chỉ huy* De Gubernatis đã tới. Signor Garamond ngần ngừ nhìn tôi vẻ nghi ngờ. Belbo ra hiệu như muốn nói tôi là người có thể tin tưởng được. Garamond ra lệnh đưa khách vào và ra đón ông ta. De Gubernatis bận áo vest ngực đúp, trên ve áo cài bông hồng giả, túi ngực cài bút máy, trong túi bên có một tờ báo cuộn, tay kẹp va li da.
Đầy đủ là Hiệp sĩ Chỉ huy, là một tước hiệu do Tổng thống Ý phong tặng cho những công chức có cống hiến lớn. Hệ thống tước hiệu này gồm 5 bậc, theo thứ tự từ cao xuống thấp: Cavalieri di Gran Croce (Hiệp sĩ Thập tự giá); Grande Ufficiale (Sĩ quan cấp cao); Commendatore (Chỉ huy); Ufficiale (Sĩ quan); Cavalieri (Hiệp sĩ).
“Ôi, Chỉ huy kính mến của tôi,” Garamond nói, “vào đây nào. Ông bạn quý De Ambrosiis của chúng ta đã kể với tôi về anh. Cả một đời phục vụ cho nhà nước. Và một dòng máu thi ca ngầm ẩn, đúng không nào? Cho tôi xem đi, cho tôi xem kho báu mà anh đang giữ trong tay... Nhưng trước hết cho phép tôi giới thiệu hai biên tập viên chính của tôi đã.”
Ông ta ấn vị khách ngồi trước bàn viết bừa bộn bản thảo, trong khi hai bàn tay ông ta, run run háo hức, ve vuốt bìa của tác phẩm được chìa ra trước mặt mình. “Không cần lời nào đâu. Tôi biết hết cả rồi. Anh quê ở Vitipeno, thành phố vĩ đại và cao quý. Anh phục vụ ở Cục Hải quan. Và, âm thầm bí mật, đêm này qua đêm khác, anh phóng bút viết đầy những trang này, cõi lòng bị con quỷ thi ca thiêu đốt. Thi ca... nó đã ngốn đi những năm tháng thanh xuân của Sappho, nó nuôi dưỡng tuổi già của Goethe. Ma túy, người Hy Lạp gọi nó như vậy, vừa là thuốc độc vừa là thuốc chữa. Đương nhiên, chúng tôi sẽ phải đọc sáng tạo này của anh. Tôi luôn kiên trì phải đảm bảo ít nhất ba bản thẩm định, một bản trong nội bộ nhà xuất bản và hai bản từ các nhà tư vấn (nhưng họ phải giữ bí mật tên tuổi, xin anh thứ lỗi cho tôi nhưng họ quả là những người xuất chúng). Manutius sẽ không ấn hành một tác phẩm trừ phi chúng tôi có thể tin chắc về chất lượng của nó, và chất lượng, hẳn anh biết rõ hơn tôi, là một thứ quá đỗi tinh tế, chỉ có thể cảm nhận bằng giác quan thứ sáu. Một cuốn sách có thể có những điểm chưa hoàn hảo, những tì vết - đến cả Svevo đôi khi còn viết lách chả ra sao, chuyện đó anh rõ hơn tôi - nhưng, ơn Chúa, anh vẫn có thể cảm nhận thấy tư tưởng, nhịp điệu, sức mạnh. Tôi biết mà, không cần nói gì đâu. Ngay khoảnh khắc tôi liếc nhìn lời mở trên trang đầu tiên của anh, tôi đã cảm thấy thứ gì đó, nhưng tôi không muốn một mình mình tự đánh giá, dẫu rất thường là - ồ vâng, rất thường - khi các bản thẩm định tỏ ra thờ ơ, tôi gạt bỏ chúng, bởi vì anh không thể đánh giá một tác giả nếu như không bắt được nhịp điệu của anh ta, tạm gọi vậy đi, và ở đây, ví dụ, tôi lật giở ngẫu nhiên tác phẩm này của anh và mắt tôi bắt gặp một câu thơ, ‘Như trong mùa thu, khóe mắt xanh xao’... Ồ, tôi không biết tứ thơ sẽ tiếp tục ra sao, nhưng tôi cảm nhận được một thi hứng, tôi thấy một hình tượng. Có những khi anh bắt đầu một tác phẩm như thế này với một cơn xuất thần trào dâng, cuốn anh đi. Cela dit*, bạn thân mến của tôi, chao, giá như chúng ta luôn có thể làm điều mình thích! Nhưng xuất bản cũng là một ngành kinh doanh, có lẽ là ngành cao quý nhất, nhưng vẫn là kinh doanh. Anh có khái niệm nào về chi phí in ấn ngày nay không? Và giá giấy nữa? Cứ đọc bản tin sáng nay thôi: lãi suất cơ bản ở phố Wall tăng. Anh bảo không ảnh hưởng tới chúng ta sao? Chao, có đấy. Anh có biết thậm chí hàng tồn kho của chúng tôi cũng phải chịu thuế không? Và đánh thuế cả hàng bị trả lại, những cuốn tôi không bán được. Phải, thậm chí tôi phải chi phí cho thất bại, khác nào khổ giá của bậc thiên tài không được dân Philistine nhận ra. Giấy pơ-luya đây mà - anh đánh máy tác phẩm của mình trên thứ giấy mỏng mịn này thật là tao nhã quá, nếu tôi có thể nói vậy. Nó phảng phất chất thơ. Kẻ quê mùa điển hình hẳn đã dùng giấy da để gây lóa mắt và làm rối tinh thần, nhưng ở đây thơ được viết với trái tim - thứ giấy pơ-luya này cũng có thể làm giấy tiền lắm.”
Tiếng Pháp: Mới nói rằng.
Chuông điện thoại reo. Sau này tôi biết rằng Garamond đã ấn một cái nút dưới bàn và Signora Grazia đã chuyển đến một cuộc điện thoại rởm.
“Maestro thân mến của tôi! Sao hả? Tuyệt vời! Tin tốt lành! Hãy ngân lên, những hồi chuông dữ dội*! Mỗi cuốn sách mới của anh luôn là một sự kiện. Sao, tất nhiên rồi! Manutius rất tự hào, cảm động - hơn thế, hân hoan khôn tả - được ghi tên anh vào danh sách tác giả của mình. Anh đã đọc xem báo chí viết gì về trường ca mới nhất của anh chưa? Đáng được giải Nobel. Thật không may, anh đi trước thời đại mình. Chúng tôi phải khó khăn lắm mới tiêu thụ hết ba ngàn bản...”
Garamond nhắc tựa đề bài thơ “Ring out, wild bells” của nhà thơ Anh Alfred Tennyson.
Chỉ huy De Gubernatis tái nhợt đi: ba ngàn bản là một thành tích vượt xa giấc mơ của ông ta.
“Doanh số không đủ bù chi phí sản xuất. Hãy nhìn qua cửa kính rồi anh sẽ thấy tôi có bao nhiêu người trong bộ phận biên tập. Ngày nay để một cuốn sách vừa đủ hòa vốn tôi phải bán được ít nhất mười ngàn bản, và may mắn là trong nhiều trường hợp tôi bán được nhiều hơn thế, nhưng đó là những tác giả có - biết nói sao nhỉ? - một thiên hướng khác. Balzac vĩ đại, sách của ông ta bán đắt như tôm tươi vậy; Proust cũng đâu kém cạnh, nhưng ông ấy đã tự bỏ tiền ra xuất bản. Anh rồi sẽ xuất hiện trong sách giáo khoa nhưng không phải trong các quầy báo ở ga tàu. Chuyện tương tự cũng xảy ra với Joyce, người cũng như Proust, tự bỏ tiền in sách. Cứ hai đến ba năm tôi mới có thể cho phép mình đặc quyền in một cuốn sách như của anh. Cho tôi ba năm nữa đi...” Tiếp đó là một khoảng ngưng dài. Một biểu cảm giống như xấu hổ đớn đau xuất hiện trên khuôn mặt Garamond.
“Gì hả? Anh tự túc? Không, không, không phải chuyện số lượng. Chúng tôi có thể hạ thấp chi phí... Nhưng về mặt nguyên tắc, Manutius không... Tất nhiên rồi, anh nói đúng, ngay cả Joyce và Proust còn... Tất nhiên, tôi hiểu mà...”
Lại một quãng ngừng đau đớn nữa. “Được rồi, chúng ta sẽ bàn về chuyện này. Tôi đã rất thành thật với anh, mà anh thì lại nôn nóng... Chúng ta hãy thử cái mà người Mỹ gọi là liên doanh xem. Họ luôn đi trước chúng ta, người Yankee ấy. Mai anh ghé qua đây đi, chúng ta sẽ cùng tính toán... Xin cho tôi được gửi tới anh lòng tôn kính và ngưỡng mộ.”
Garamond dường như vừa tỉnh mộng. Ông ta dụi mắt, rồi đột nhiên nhớ ra sự tồn tại của vị khách kia. “Xin thứ lỗi cho tôi. Đó là một cây bút, một cây bút đích thực, có lẽ là một trong số những tác gia vĩ đại. Ấy thế mà vì chính cái lý do này... Đôi khi công việc này cũng khiến ta hèn đi lắm. Giá mà không phải vì thiên hướng... Mà chúng ta nói đến đâu rồi nhỉ? À vâng, tôi nghĩ là chúng ta đã nói với nhau đủ mọi thứ cần nói rồi. Tôi sẽ viết thư cho anh, ừm, sau khoảng một tháng nữa. Hãy để tác phẩm của anh lại đây, nó đang ở nơi đáng tin cậy.”
Chỉ huy De Gubernatis đi ra, im lìm. Ông ta đã đặt chân lên lò luyện của vinh quang.