Kẻ muốn xông vào Vườn Hồng của các triết gia mà không cần chìa khóa có khác nào kẻ muốn đi mà không cần đôi chân.
− Michael Maier, Atalanta Fugiens, Oppenheim,
De Bry, 1618, hình XXVII
Đó là file duy nhất được in ra. Tôi sẽ phải dùng máy tính để xem chồng đĩa. Chúng được đánh số nên tôi nghĩ mình sẽ bắt đầu với đĩa số một. Nhưng Belbo đã nhắc tới một mật khẩu. Gì chứ các bí mật của Abulafia là anh ta giữ khư khư như anh hà tiện giữ vàng.
Khi tôi đút đĩa vào máy, một ô thoại lập tức hiện ra: “Bạn có mật khẩu không?” Không phải câu mệnh lệnh thức. Belbo là người lịch sự.
Cỗ máy không sẵn lòng trợ giúp ngay. Nó đòi mật khẩu kia; không có mật khẩu, nó sẽ không mở miệng. Giống như nó đang tuyên bố: “Phải, những gì ngươi muốn biết đang nằm ngay đây trong bụng ta. Cứ xông tới mà bới mà đào đi, con chuột chũi già, nhưng ngươi sẽ chẳng bao giờ tìm thấy.” Rồi chúng ta sẽ thấy, tôi tự nhủ; mình nghiện chơi trò hoán đổi và kết nối chữ của Diotallevi, và mình là Sam Spade trong nghề xuất bản. Như Jacopo Belbo hẳn sẽ nói: Hãy tìm con ưng*.
Trong cuốn tiểu thuyết The Maltese Falcon (Chim ưng Malta), để chứng minh sự trong sạch của mình, thám tử lừng danh Sam Spade đã đi tìm bức tượng con chim ưng từng thuộc về các hiệp sĩ Cứu tế huyền thoại.
Mật khẩu để mở Abulafia phải là bảy chữ cái hoặc ít hơn. Chữ cái hoặc con số. Có thể lập được cả thảy bao nhiêu nhóm bảy ký tự từ các chữ trên bảng chữ cái, bao gồm cả khả năng lặp lại, bởi vì chẳng có lý do gì mà mật khẩu không thể là “cadabra”*? Tôi biết công thức. Kết quả là sáu tỉ bao nhiêu đó. Một chiếc máy tính khổng lồ có khả năng chạy qua tất cả sáu tỉ khả năng với tốc độ một triệu mỗi giây sẽ vẫn phải nhập từng đáp án vào Abulafia. Và Abulafia mất khoảng mười giây để hỏi mật khẩu và xác minh nó. Như thế mất sáu mươi tỉ giây. Một năm có hơn ba mươi mốt triệu giây. Cứ làm tròn là ba mươi đi. Như vậy sẽ mất hai ngàn năm để duyệt qua tất cả các khả năng. Không tồi.
Một chương trình đại số máy tính được thiết kế đặc biệt để giải quyết những vấn đề trong lĩnh vực lý thuyết.
Thay vào đó, tôi sẽ phải tiến hành công việc theo phương pháp phỏng đoán dựa trên suy luận quy nạp. Belbo sẽ chọn gì nhỉ? Anh ta đã chọn từ đó ngay từ đầu, khi anh ta bắt đầu dùng cỗ máy, hay là gần đây mới nghĩ ra, khi anh ta nhận ra rằng những chiếc đĩa này quá nguy hiểm và rằng, ít nhất với anh ta, trò chơi đã không còn là một trò chơi nữa? Điều này sẽ tạo một khác biệt rất lớn.
Giả thuyết sau khả dĩ hơn, tôi nghĩ. Belbo cảm thấy đang bị săn đuổi bởi Kế hoạch, thứ mà giờ anh ta đã không còn có thể coi là trò đùa (như anh ta bảo tôi trong điện thoại). Vậy thì với mật khẩu, anh ta sẽ chọn một thuật ngữ nào đó có liên quan tới câu chuyện của chúng tôi.
Nhưng có thể là không: một từ gắn với Truyền thuyết cũng có thể nảy ra trong đầu Họ. Rồi tôi lại nghĩ: nếu Họ đã đột nhập vào căn hộ này, sao chép chồng đĩa, và ngay thời khắc này đang thử dùng mọi khả năng kết hợp các con chữ ở một nơi hẻo lánh nào đó thì sao? Dùng tới siêu máy tính, trong một pháo đài ở dãy Carpathes.
Vớ vẩn, tôi tự nhủ. Họ đâu phải con người của thời đại vi tính. Họ sẽ dùng notarikon, gematria, temurah* đối xử với đống đĩa như với kinh Torah, và bởi vậy sẽ đòi hỏi nhiều thời gian bằng với khoảng thời gian đã trôi qua kể từ thời sách Sefer Yetzirah* được viết. Nhưng không thể bỏ qua phỏng đoán. Nếu Họ tồn tại, Họ sẽ dùng thứ lấy cảm hứng từ Kabbalah, và nếu Belbo tin rằng Họ tồn tại, anh ta sẽ cũng theo lối đó.
Ba phương pháp cổ đại được các giáo sĩ Kabbalah dùng để tái cấu trúc từ và câu trong Kinh Thánh để tạo ra các tầng nghĩa mới, bí truyền hơn và có giá trị tâm linh hơn.
Sefer Yetzirah (tiếng Hebrew: “Sách Sáng tạo”) là nhan đề cuốn sách sớm nhất từng tồn tại về tín ngưỡng huyền bí Do Thái.
Để cẩn thận, tôi thử mười Sefirot: Keter, Hokhmah, Binah, Hesed, Gevurah, Tiferet, Nezah, Hod, Yesod, Malkhut. Không khớp, tất nhiên rồi: đó là thứ đầu tiên sẽ nảy ra trong đầu bất kỳ ai.
Nhưng mật khẩu vẫn phải là một thứ gì hiển nhiên, một thứ gì đó sẽ lập tức nảy đến trong trí óc, bởi vì khi bạn lao tâm với một chủ đề một cách ám ảnh đến như Belbo suốt mấy ngày qua, bạn không thể nghĩ đến bất cứ thứ gì khác, đến chủ đề nào khác. Anh ta sẽ chẳng phải là người nữa nếu trong lúc ép mình đến phát điên phát cuồng về Kế hoạch mà vẫn chọn mật khẩu là Lincoln hay Mombasa. Mật khẩu phải liên quan tới Kế hoạch. Nhưng là gì?
Tôi cố đặt mình vào tâm trí của Belbo. Lúc làm việc anh ta hút thuốc và nốc rượu liên tục. Tôi vào bếp tìm một cái ly sạch, chỉ thấy mỗi một chiếc, tự rót cho mình nốt chỗ whiskey, lại ra ngồi xuống bên bàn phím, dựa lưng ra ghế, gác chân lên bàn. Tôi nhấp rượu (chẳng phải là cách Sam Spade vẫn làm sao? Hay là Philip Marlowe* nhỉ?) và nhìn quanh. Sách vở xếp ở xa quá, tôi không đọc được nhan đề trên gáy sách.
Nhân vật thám tử nổi tiếng trong loạt truyện của Raymond Chandler.
Tôi uống hết chỗ whiskey, nhắm mắt, rồi lại mở mắt. Đối diện với tôi là bản khắc thế kỷ 17, một phúng dụ điển hình của Hội Thập tự Hoa hồng thời đó, chất đầy những thông điệp được mã hóa hướng tới các thành viên của Hội. Rõ ràng nó khắc họa Ngôi đền của Thập tự-Hoa hồng, một ngọn tháp có mái vòm ngự trị bên trên theo đúng mô hình biểu tượng Phục hưng, cả Cơ đốc giáo lẫn Do Thái giáo, của Ngôi đền Jerusalem, được dựng lại dựa trên hình mẫu Thánh đường Omar.
Quang cảnh quanh ngọn tháp thật vô lý, và được lồng ghép trái tự nhiên, giống như một trong số những câu đố bằng hình mà ở đó bạn thấy một lâu đài, một con ếch ở cận cảnh, một con la thồ hàng, và một vị vua nhận một món quà từ một tiểu đồng. Ở góc dưới bên trái là một ông từ giếng chui ra, bám vào chiếc ròng rọc nối bằng một cái tời kỳ dị tới điểm nào đó trong tòa tháp, dây thừng xuyên qua một cửa sổ tròn. Ở giữa là một kỵ sĩ và một người lữ hành. Mé phải, một người hành hương quỳ gối cầm một mỏ neo nặng như đang cầm cây gậy chống. Dọc theo lề phải, hầu như đối diện với ngọn tháp, là một vách đá dựng đứng mà từ đó một người cùng một cây kiếm đang rơi xuống, còn bên kia sừng sững ngọn Ararat được vẽ theo luật phối cảnh, chiếc thuyền Ark của Noah mắc cạn trên đỉnh núi. Ở mỗi góc trên có một đám mây được soi sáng bởi một ngôi sao rọi xuống luồng sáng xiên, trên luồng sáng ấy bồng bềnh hai dáng hình, một người nam khỏa thân có một con rắn quấn quanh mình, và một con thiên nga. Ở chính giữa trên đầu bức họa, một đám mây dông nằm dưới dòng chữ “Oriens”, trên mây có những chữ Hebrew, và từ đám mây ấy bàn tay của Thiên Chúa thò ra giữ ngọn tháp bằng một sợi dây.
Ngọn tháp di chuyển bằng các bánh xe. Phần thân chính của tháp hình vuông với nhiều cửa sổ, một cửa ra vào và một cầu kéo ở sườn phải. Trên cao, có một thứ kiểu như hành lang và bốn chòi canh, mỗi chòi canh có một người lính vẫy một cành cọ và mang khiên trang trí bằng chữ Hebrew. Ta chỉ thấy được ba người, người thứ Tư thì ta phải tưởng tượng ra bởi vì anh ta khuất sau mái vòm bát giác, trên mái vòm là một nhà đèn cũng hình bát giác và gắn một đôi cánh lớn. Trên nhà đèn có cánh kia lại là một nhà đèn nữa, nhỏ hơn, vòm bát úp, với một chòi bốn cạnh vòm cửa mở rộng, đỡ bằng những trụ mảnh dẻ, để lộ chiếc chuông bên trong. Đỉnh vòm bốn nhánh trên cùng cột một sợi chỉ nằm trong bàn tay của Chúa. Chữ “Fama” xuất hiện ở đây và trên đó là một dải giấy có chữ “Collegium Fraternitatis”.
Như thế vẫn còn chưa hết kỳ quặc. Một cánh tay khổng lồ, to hơn mọi hình người khác, thò ra từ một cửa sổ tròn trên tháp ở góc trái. Cánh tay nắm một cây kiếm, và có lẽ thuộc về sinh vật có cánh ẩn trong tháp. Từ một cửa sổ tương tự ở bên phải thò ra một chiếc kèn trômpet khổng lồ. Lại kèn trômpet.
Số ô mở trên tháp lôi kéo sự chú ý của tôi. Có quá nhiều ô mở, và những khoảng trên mái vòm quá đều nhau trong khi những ô ở phần dưới có vẻ ngẫu nhiên. Bởi vì chỉ có một nửa ngọn tháp lộ ra từ góc nhìn trực diện này, bạn có thể giả định rằng tính đối xứng được tuân thủ và các cửa ra vào cùng cửa sổ, các lỗ châu mai ở mặt này được lặp lại y nguyên ở mạn kia. Điều đó có nghĩa là, tính tổng, bốn vòm nhọn trên mái vòm của tháp chuông, tám cửa sổ ở mái vòm dưới, bốn chòi canh, sáu cửa ở mặt Đông và Tây, mười bốn ở mặt Bắc và Nam.
Tôi nhẩm cộng: ba mươi sáu.
Ba mươi sáu. Con số đó đã ám ảnh tôi hơn mười năm. Hội Thập tự Hoa hồng. Một trăm hai mươi chia cho ba mươi sáu được 3,333333, lấy đến bảy chữ số. Hầu như quá hoàn hảo, rất đáng để thử. Tôi liền thử. Và thất bại.
Rồi tôi chợt nảy ra ý rằng cũng số đó, nhân cho hai, cho ra con số của Quỷ: 666. Phỏng đoán đó cũng quá xa rời thực tế.
Thình lình đám mây dông ở chính giữa làm tôi chú ý, ngai vàng thần thánh. Những con chữ Hebrew rất lớn, ngồi ở ghế này tôi cũng có thể thấy chúng. Nhưng Belbo không biết viết chữ Hebrew trên Abulafia. Tôi nhìn gần hơn: tôi biết chúng, đương nhiên rồi, từ phải sang trái, yod, he, vav, he. Tetragrammaton*, Yahweh, tên của Thiên Chúa.
Thuật ngữ tetragrammaton bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là “bốn chữ cái”, chỉ phiên âm từ tiếng Hebrew thành bốn ký tự Latin YHWH. Trong Do Thái giáo, đây được coi là danh Chúa của Israel.