Con Lắc Foucault

Lượt đọc: 177 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
33

❊ ❊ ❊

Những hình ảnh trắng, xanh lơ, trắng, đỏ nhạt. Cuối cùng chúng hòa vào nhau và tất cả mờ đi, màu sắc ngọn lửa của một cây nến trắng, bạn sẽ thấy những tia lửa, bạn sẽ cảm thấy nổi da gà khắp người. Điều ấy thông báo khởi sự của sức hút tác dụng lên người hoàn thành nhiệm vụ.

− Papus, Martines de Pasqually, Paris, Chamuel, 1895, tr. 92

Buổi tối theo lịch hẹn cũng đã tới. Agliè qua đón chúng tôi giống lần ở Salvador. Ngôi lều nơi diễn ra buổi lễ, hay còn gọi là gira, nằm trong một quận khá trung tâm, nếu ta có thể gọi một nơi có những lưỡi đất trải giữa các ngọn đồi và liếm biển là trung tâm thành phố được. Nhìn từ trên cao, khi sáng đèn vào buổi tối, thành phố nom như một cái đầu lỗ chỗ những mảng trọc.

“Hãy nhớ, tối nay là umbanda, không phải candomblé. Không phải orixá nhập vào người dự lễ mà là các egun, linh hồn những người đã khuất. Còn có Exu, vị thần Hermes châu Phi mà cô cậu đã gặp ở Bahia, và bạn đời của ông ta, Pompa Gira. Exu là một thần linh của người Yoruba, một con quỷ thiên về các trò láu cá và đùa cợt, nhưng trong thần thoại châu Mỹ bản địa cũng có một vị thần lừa đảo.”

“Thế còn những người đã khuất là ai?”

“Preto velho và caboclo. Preto velho là những ông lão châu Phi thông thái, dẫn dắt dân mình trong giai đoạn lưu đày, như Rei Congo và Pai Agostinho... Họ là ký ức về một thời kỳ yên ả hơn của chế độ nô lệ, khi mà người da đen, không còn là súc vật, trở thành những người bạn, người chú, người ông trong gia đình. Caboclo, ngược lại, là những linh hồn thổ dân Anh điêng, những lực lượng hoang sơ đại diện cho sự tinh thuần của thiên nhiên nguyên thủy. Trong Umbanda, các orixá châu Phi đứng ở hậu cảnh, hoàn toàn dung hợp với những vị thánh Công giáo, và mình những linh hồn này tự tung tự tác. Họ là những người tạo ra trạng thái nhập đồng. Ở một thời điểm nào đó trong vũ điệu, thanh đồng, cavalo, được một đấng siêu nhiên nhập vào và mất tất cả ý thức về bản ngã. Người đó tiếp tục nhảy múa cho tới khi đấng siêu nhiên kia rời khỏi, và người ấy thức tỉnh, cảm thấy mình tốt đẹp hơn. Sạch sẽ, được thanh lọc.”

“Những thanh đồng may mắn,” Amparo nói.

“Đúng thực là may,” Agliè công nhận. “Họ đạt được sự tiếp xúc với đất mẹ. Những người thờ phụng này đã bị bứt khỏi cội rễ, bị ném vào cái nồi đun chảy khủng khiếp của thành thị, và như Spengler đã nói, vào một thời khủng hoảng, phương Tây hám lợi một lần nữa lại quay về với thế giới đất mẹ.”

Chúng tôi tới nơi. Tenda nhìn từ ngoài không khác gì một ngôi nhà bình thường. Cả ở đây bạn cũng đi qua một mảnh vườn nhỏ, khiêm tốn hơn mảnh vườn ở Bahia, và nơi cửa barracão, một loại nhà kho, có một bức tượng Exu nho nhỏ xung quanh đã kín đồ cúng lễ.

Khi chúng tôi bước vào, Amparo kéo tôi sang bên. “Em vừa nghĩ ra nhé,” nàng nói. “Con heo vòi ở buổi giảng nói về thời đại Aryan, nhớ không? Còn người này nói thì về sự suy tàn của phương Tây. Blut und Boden, máu và đất. Thuần là tư tưởng phát xít.”

“Không đơn giản vậy đâu cưng. Đây là một lục địa khác.”

“Cảm ơn đã cho em biết. Hội Trắng Vĩ đại! Các anh ngốn Chúa của mình trong bữa tối.”

“Người Thiên Chúa giáo mới làm việc đó. Chuyện đâu có giống nhau.”

“Cũng thế cả thôi. Anh không nghe sao? Pythagore, Dante, Đức Mẹ Đồng Trinh và Hội Tam điểm. Lúc nào cũng lừa bịp chúng em đây. Làm umbanda, không làm tình*.”

Câu châm chọc lấy từ khẩu hiệu phản chiến nổi tiếng “Make love, not war” (Làm tinh, không gây chiến tranh) vào thập niên 1960.

“Em vơ đũa cả nắm. Thôi nào, xem đi. Đây cũng là văn hóa mà.”

“Chỉ có một thứ văn hóa: siết cổ lão thầy tu cuối cùng bằng ruột của tên Thập tự Hoa hồng cuối cùng.”

Agliè ra hiệu cho chúng tôi đi vào. Bên ngoài xác xơ bao nhiêu thì bên trong là sự bùng nổ của những sắc màu chói lóa bấy nhiêu. Đó là một căn phòng hình tứ giác với một khu vực riêng cho vũ điệu của các cavalo. Ban thờ nằm ở tít cuối phòng, có hàng rào bảo vệ, phía sau nó là bệ để bộ trống, atabaque. Không gian thực hiện nghi thức vẫn còn trống, nhưng ở rào chắn bên phía chúng tôi, một đám đông đa tạp đã ồn ào đứng đó: những tín hữu và những kẻ chẳng qua tò mò, da trắng, da đen, đứng lẫn lộn với những thanh đồng và các trợ tá, những cambone, bận đồ trắng, một số chân trần, người khác đi giày tennis. Tôi lập tức bị choáng bởi những bức tượng quanh bàn thờ: preto velho, caboclo đeo lông vũ nhiều màu, những vị thánh trông như những chiếc bánh hạnh nhân hình người nếu không tính đến kích thước khổng lồ, thánh George đeo tấm chắn ngực sáng bóng và khoác áo choàng đỏ thắm, các thánh Cosmas và Damian, một tượng Đức Mẹ bị những lưỡi gươm xiên qua và một Chúa Jesus siêu thực trơ trẽn, cánh tay giang ra như tượng Chúa cứu thế ở Corcovado có điều màu mè lòe loẹt. Không có orixá nhưng có thể cảm nhận thấy sự hiện diện của họ trên khuôn mặt của đám đông và hương thơm ngọt ngào của mía cùng đồ ăn, trong nồng nồng mùi mồ hôi bởi hơi nóng và sự phấn khích trước gira sắp diễn ra.

Pai-de-santo đi ra phía trước và ngồi xuống gần ban thờ. Ở đó ông ta tiếp những tín đồ sùng đạo, phà ra từng hơi khói thuốc để xông thơm cho họ, ban phúc cho họ và đưa họ một cốc rượu như trong một Bí tích Thánh thể cấp tốc. Tôi quỳ xuống uống lấy cùng với hai người đi cùng, để ý quan sát một cambone đổ thứ chất lỏng ấy ra từ một cái chai, tôi nhận ra rằng đó là rượu Dubonnet*. Không vấn đề gì. Tôi tu ừng ực như thể nó là tiên tửu từ Dòng Thanh xuân chảy ra. Trên bục, dàn trống atabaque đã vang dồn những nhịp hối hả trong khi những người đã thụ giáo hát một khúc cầu an dâng tới Exu và Pompa Gira: Seu Tranca Ruas é Mojuba! É Mojuba, é Mojuba! Sete Encruzilhadas é Mojuba! É Mojuba, é Mojuba! Seu Marabõe é Mojuba! Seu Tiriri, é Mojuba! Exu Veludo, é Mojuba! A Pomba Gira é Mojuba!

Là một loại rượu vang khai vị nổi tiếng của Pháp, khá nhẹ.

Pai-de-santo bắt đầu đảo lư hương làm tỏa ra mùi hương nồng hắc của nhang trầm Ấn Độ, và cất giọng ngâm nga những bài khấn đặc biệt dâng tới Oxalá và Nossa Senhora.

Nhịp trống nhanh dồn dập hơn, và các cavalo xâm chiếm khoảng không gian trước ban thờ, bắt đầu rơi vào bùa mê của các ponto. Hầu hết là phụ nữ, và Amparo khẽ bình luận cay nghiệt về sự nhạy cảm của giới nàng.

Trong đám phụ nữ có vài người Âu. Agliè chỉ một bà tóc vàng, một nhà tâm lý học người Đức đã tham gia các nghi lễ này nhiều năm. Bà ta đã thử qua đủ mọi cách, nhưng nếu bạn không phải là người được chọn thì vô vọng thôi: với bà ấy, trạng thái nhập đồng không bao giờ tới, ngoài tầm với. Trong khi nhảy múa, ánh mắt bà dường như lạc vào hư vô, còn nhịp trống dồn thì không để cho thần kinh của bà hay chúng tôi chút thư thái nào. Nhang trầm hắc nồng mù mịt căn phòng, làm choáng váng đầu óc của cả người tham gia nghi lễ lẫn kẻ dự khán, bằng cách nào đó khiến dạ dày của mọi người - trong đó có tôi - thắt lại. Nhưng điều tương tự cũng xảy đến với tôi trong các escola de samba ở Rio. Tôi biết sức mạnh tâm lý của nhạc và tiếng động, như chúng vẫn tạo ra những cơn sốt đêm thứ Bảy trên các sàn disco. Đôi mắt người phụ nữ Đức trợn tráo và mỗi chuyển động của tay chân cuồng loạn của bà đều khẩn cầu sự lãng quên. Những người con gái khác của vị thánh đi vào trạng thái xuất thần, ngật đầu ra sau, uốn éo mềm mại như rắn nước, luồn lách qua một đại dương quên lãng. Bà người Đức căng ra, điên cuồng và gần như đẫm lệ, tựa hồ người đang tuyệt vọng vật lộn để đạt tới cực khoái, quằn quại gồng cứng, nhưng không cách nào xả nổi. Bà ta càng cố đánh mất kiểm soát bao nhiêu thì lại chỉ càng thu được nó nhiều bấy nhiêu. Tội nghiệp bà người Đức, phát ốm vì bội thực tiếng đàn clavico nắn nót.

Trong khi ấy, những người được lựa chọn đang nhảy vào khoảng trống, ánh mắt họ dại đi, cơ bắp cứng lại. Các động tác của họ mỗi lúc một vô thức nhưng không lộn xộn, bởi họ đang hé lộ bản tính của thực thể giáng nhập: một số người được chọn cơ hồ mềm ra, bàn tay đung đưa sang ngang, lòng bàn tay hướng xuống dưới, theo động tác như đang bơi; những người khác cúi người về phía trước và chậm rãi cử động, thế là các cambone sử dụng những tấm vải lanh trắng để che họ khỏi tầm nhìn của đám đông, bởi vì những người này đã được một linh hồn ưu việt chạm tới.

Một số cavalo rung người dữ dội, và những người được preto velho nhập vào thì bật ra những thanh âm rỗng vang - hưm hưm hưm - trong khi bước đi mà cơ thể nghiêng đổ về phía trước như người già chống gậy, hàm nhô ra trên những khuôn mặt hốc hác, móm mém. Nhưng những người mà caboclo nhập vào thì rít lên những tiếng thét xung trận nhức óc - hi-a-hâu! - và các cambone lao tới giúp đỡ những người không chịu nổi mức độ dữ dội của ân điển này.

Trống nện gấp gáp, các khúc ponto ngân cao trong không khí dày dặc khói nhang. Tôi đang nắm cánh tay Amparo thì đột nhiên hai lòng bàn tay nàng đổ mồ hôi, cơ thể nàng rung lên, và môi nàng hé mở. “Em thấy không khỏe,” nàng nói. “Em muốn ra khỏi đây.”

Agliè để ý thấy điều xảy ra, liền giúp tôi đưa nàng ra ngoài. Không khí ban đêm khiến nàng trấn tĩnh lại. “Em không sao,” nàng nói. “Chắc em ăn phải thứ gì đó. Lại thêm mùi hương, sức nóng...”

“Không,” pai-de-santo lên tiếng, ông ta đã đi theo chúng tôi từ nãy. “Cô có tố chất của một cô đồng. Cô phản ứng rất tốt với ponto. Lúc nãy tôi đã quan sát cô.”

“Thôi đi!” Amparo kêu lên và thêm vào vài từ của một ngôn ngữ mà tôi không hiểu. Tôi nhìn thấy mặt pai-de-santo trắng bệch ra - hoặc xám đi, như người ta thường nói trong những chuyện phiêu lưu mạo hiểm rằng những ai màu da đen thì khi sợ hãi sẽ chuyển sang xám. “Đủ rồi. Tôi hơi mệt. Tôi ăn phải thứ gì không hợp rồi... Làm ơn quay vào đi. Để tôi hít thở ít khí trời. Tôi muốn ở một mình, tôi có phải phế nhân đâu.”

Chúng tôi làm như nàng yêu cầu, nhưng khi tôi quay vào, sau quãng nghỉ ở không khí ngoài trời trong lành thì mùi hương, tiếng trống, mồ hôi ướt đẫm cơ thể hết thảy mọi người có tác dụng như một hớp rượu sau thời gian dài kiêng khem. Tôi day day lông mày, thế là một ông lão đưa cho tôi một chiếc agogô, thứ nhạc cụ nhỏ mạ vàng giống một hình tam giác gắn chuông, dùng một thanh gõ nhỏ để đánh. “Lên sàn đi,” ông lão nói. “Chơi đi. Thế sẽ tốt cho anh.”

Có sự thông thái của liệu pháp vi lượng đồng căn, lấy độc trị độc trong lời khuyên đó. Tôi gõ chiếc agogô, cố gắng hòa vào nhịp trống, thế là dần dần tôi trở thành một phần của buổi lễ, và khi đã trở thành một phần của nó, tôi kiểm soát được nó. Tôi tìm thấy sự giải thoát khi chuyển động cẳng chân và bàn chân, tôi tự giải phóng bản thân khỏi những thứ vây quanh mình, tôi thách thức với nó, tôi ấp ôm nó. Sau này, Agliè nói tôi nghe về sự khác biệt giữa người biết và người chứng nghiệm.

Khi các thanh đồng rơi vào trạng thái nhập đồng, các cambone dẫn họ tới góc phòng, đặt họ ngồi, mời họ xì gà và tẩu. Những tín đồ không được giáng nhập thì chạy tới quỳ dưới chân họ, thầm thì vào tai họ, lắng nghe lời khuyên của họ, nhận sự ban phúc của họ, tuôn ra hàng tràng thú tội và cầu họ cho lời an ủi. Một số người chênh vênh ở bên bờ trạng thái nhập đồng, và các cambone nhẹ nhàng động viên họ, dẫn dắt những người này - giờ đã thả lỏng hơn - trở lại giữa đám đông.

Trong khu vực nhảy múa, nhiều người khao khát vươn tới cơn mê ly kia vẫn đang uốn éo. Bà người Đức co giật thiếu tự nhiên, chờ đợi được giáng nhập trong tuyệt vọng. Những người khác đã được Exu nhập vào và đang làm những bộ mặt gian xảo, ranh mãnh, tinh khôn trong lúc chuyển động giật cục.

Chính khi ấy, tôi thấy Amparo.

Giờ tôi biết rằng Hesed không chỉ là Sefirah của cao nhã và ái tình. Như Diotallevi đã nói, nó cũng là khoảnh khắc lan tỏa của chất thể thánh thiêng, trải ra mãi tới bờ vô hạn. Nó là sự quan tâm của người sống với người đã chết, nhưng ai đó cũng có thể thấy rằng nó là quan tâm của người chết với người sống.

Gõ chiếc agogô, tôi không còn để ý những gì đang xảy ra trong phòng nữa, tôi đang mải tập trung vào định lực của mình, để bản thân mình cho âm nhạc dẫn dắt. Amparo hẳn phải vào đây từ ít nhất mươi phút trước, và chắc chắn nàng cũng cảm thấy cùng tác động mà tôi đã gặp trước đó. Nhưng không ai đưa cho nàng chiếc agogô, và lúc này có lẽ nàng cũng chẳng cần chiếc nào. Nghe thấy những tiếng gọi từ sâu xa, nàng đã trút bỏ mọi tự vệ, mọi ý chí.

Tôi thấy nàng ném mình vào giữa đám đông nhảy múa, dừng lại, gương mặc căng thẳng bất thường của nàng ngẩng lên, cổ nàng cứng đờ. Rồi, trong mờ mịt, nàng đắm mình vào một điệu saraband sắc dục, đôi bàn tay diễn tả sự hiến dâng thể xác của chính mình. “Một Pomba Gira, một Pomba Gira!” ai đó kêu lên, hân hoan trước sự nhiệm mầu bởi vì tới lúc ấy nữ quỷ kia vẫn chưa hiển linh: O seu manto é de veludo, rebordado todo em ouro, o seu garfo é de prata, muito grande é seu tesouri... Pomba Gira das Almas, vem toma cho cho...

Tôi không dám can dự vào. Đáng lẽ tôi đã có thể tăng nhịp gõ trên nhạc cụ của mình, cố gắng tiếp cận xác thịt với người phụ nữ của mình, hoặc với linh hồn bản xứ mà nàng giờ đầy đang là hiện thân.

Các cambone đi tới bên nàng, mặc lên nàng lễ phục cúng tế, và giữ nàng đứng vững khi nàng ra khỏi cơn nhập đồng ngắn ngủi nhưng kịch liệt. Họ dẫn nàng tới một chiếc ghế. Nàng đẫm mồ hôi và thở từng hơi nặng nhọc. Nàng từ chối tiếp đón những người lao tới xin lời sấm. Thay vào đó, nàng bật khóc.

Gira đang tới hồi kết. Tôi rời sân khấu và chạy tới chỗ Amparo. Agliè đã ở đó, nhẹ nhàng mát xa hai bên thái dương nàng.

“Nhục nhã quá!” Amparo nói. “Em không tin chuyện đó, em không hề muốn làm thế. Làm sao em có thể làm chuyện như vậy?

“Cái gì xảy ra thì sẽ vẫn xảy ra,” Agliè nhẹ nhàng nói.

“Nhưng từ giờ hết hy vọng rồi,” Amparo nức nở. “Em vẫn chỉ là một con nô lệ. Đi đi,” nàng giận dữ nói với tôi. “Em là một đứa con gái da đen dơ dáy khốn khổ. Ném em cho một tên chủ nô đi, em đáng bị thế!”

“Chuyện này xảy ra với cả những con cháu tóc vàng của nàng Helen,” Agliè an ủi nàng. “Đó chỉ là bản tính của con người thôi...”

Amparo hỏi đường ra toilet. Buổi lễ đang kết thúc. Người phụ nữ Đức vẫn nhảy múa, một mình giữa căn phòng, phô trương nhưng lúc này đã bơ phờ. Bà ta đã dõi theo trải nghiệm của Amparo với đôi mắt đố kỵ.

Khoảng mười phút sau, Amparo quay lại khi chúng tôi đang chào tạm biệt pai-de-santo, ông đang chúc mừng chúng tôi về thành công huy hoàng trong cuộc tiếp kiến đầu tiên với thế giới của người chết.

Agliè lẳng lặng lái xe trong màn đêm. Khi xe dừng lại trước nhà, Amparo nói nàng muốn lên gác một mình. “Anh đi dạo một chút được không,” nàng nói với tôi. “Lúc nào em ngủ rồi hẵng về. Em sẽ uống thuốc. Cả hai người, xin hãy thứ lỗi cho tôi. Chắc chắn tôi đã ăn phải thứ gì đó không hợp. Chắc chắn tất cả những phụ nữ tối nay cũng thế. Em ghét xứ sở mình. Chúc ngủ ngon.”

Agliè hiểu sự khó chịu trong lòng tôi nên rủ tới một quán bar mở suốt đêm ở Copacabana.

Vào quán bar, tôi lặng thinh. Agliè đợi cho tới khi tôi bắt đầu nhấp ly batida rồi mới phá vỡ sự yên lặng ấy.

“Chủng tộc - hoặc văn hóa, nếu cậu thích nói vậy hơn - là một phần của tâm trí vô thức của chúng ta. Và trong một phần khác của vô thức ấy cư ngụ những nguyên mẫu, những hình dáng điển hình cho mọi con người ở mọi thế kỷ. Tối nay, bầu không khí, rồi những thứ vây quanh ru ngủ sự phòng bị của chúng ta. Nó xảy ra với tất cả chúng ta; bản thân cậu cũng cảm thấy đấy. Amparo khám phá ra rằng các orixá, những người mà nàng đã hủy diệt trong trái tim mình, vẫn sống trong dạ con nàng. Cậu không được cho rằng tôi coi đây là một điều tích cực. Cậu đã nghe thấy tôi nói một cách sùng kính về những năng lượng siêu nhiên rung lên xung quanh chúng ta ở đất nước này. Nhưng tôi không có hứng thú đặc biệt nào đối với thuật nhập đồng. Người đã được khai tâm không giống với người theo thuyết thần bí. Làm một người được khai tâm - có sự thấu hiểu bản năng về những gì lý trí không thể giải thích nổi - là một quá trình rất sâu; nó là một sự chuyển hóa chậm chạp của linh hồn và thể xác, và nó có thể dẫn tới sự khởi hoạt các năng lực siêu việt, thậm chí tới sự bất tử. Nhưng đây là một bí mật, riêng tư; nó không tự bộc lộ ra bên ngoài; nó là khiêm cung, tỉnh táo, không lệ thuộc. Đó là lý do vì sao các Thủ lĩnh Thế giới, những người đã được khai tâm, không đắm chìm vào huyền học. Với họ, một người theo huyền học là một kẻ nô lệ, một chốn để thần tính hiện hình, thông qua chốn ấy người ta có thể quan sát các tín hiệu của một bí mật. Người được khai tâm khuyến khích người theo huyền học và dùng anh ta như dùng chiếc điện thoại để thiết lập liên lạc đường dài, hay như nhà hóa học sử dụng giấy quỳ để dò ra hoạt dụng của một chất nào đó. Người theo thuyết thần bí hữu dụng bởi vì anh ta đập ngay vào mắt. Anh ta tự quảng bá bản thân. Người được khai tâm thì ngược lại, chỉ ai cùng hội cùng thuyền mới nhận biết được. Chính họ là người điều khiển các lực mà những kẻ theo thuyết huyền bí thường trải nghiệm. Theo nghĩa này, không có khác biệt nào giữa trải nghiệm nhập đồng của các cavalo và trạng thái xuất thần mê ly của thánh Theresa xứ Avila hay thánh John của hội Thập tự. Huyền học là một dạng thức suy thoái của giao tiếp với cái thánh thiêng, trong khi sự khai tâm là trái ngọt của một công cuộc thực hành linh thao* dài của trí và tâm. Huyền học là một hiện tượng dân chủ, nếu không phải là mị dân; còn khai tâm là hiện tượng quý tộc.”

Chỉ mọi hình thức giữ kỷ luật, quy định của cộng đoàn, nhận lãnh các bí tích, và tham gia vào phụng vụ thánh, để nhờ đó một tu sĩ lớn lên về đường thiêng liêng.

“Nó thuộc tinh thần, đối nghịch với xác thịt?”

“Trên một phương diện nào đó. Nàng Amparo của cậu đã cố kiết bảo vệ tâm trí mình, nhưng nàng không cảnh giác về thân thể mình. Người thế tục yếu hơn chúng ta.”

Lúc đó đã muộn rồi. Agliè thông báo với tôi ông ta sắp rời Brazil. Ông ta cho tôi địa chỉ ở Milan.

Tôi về nhà thấy Amparo đã thiêm thiếp ngủ. Tôi lẳng lặng nằm xuống bên nàng trong bóng tối và thức trắng luôn đêm ấy. Cơ hồ có một sinh vật xa lạ đang nằm kề bên tôi.

Sáng ra, Amparo bảo tôi nàng sẽ đi Petrópolis thăm một người bạn gái. Chúng tôi lúng túng nói lời tạm biệt.

Nàng ra đi cùng một chiếc túi vải bạt, nách kẹp một cuốn kinh tế chính trị.

Trong hai tháng liền, nàng không nhắn cho tôi lấy một lời và tôi cũng không đi tìm nàng. Rồi nàng viết cho tôi một lá thư ngắn với lời lẽ lảng tránh, bảo tôi rằng nàng cần thời gian suy nghĩ. Tôi không hồi đáp.

Trong lòng tôi không đam mê, không ghen tuông, không hoài nhớ. Tôi trống rỗng, tỉnh táo, sạch bong và vô cảm như một chiếc bình nhôm.

Tôi ở lại Brazil thêm một năm nữa với cảm giác thường trực rằng mình sắp sửa ra đi. Tôi không còn gặp lại Agliè, cũng không thấy người bạn nào của Amparo. Tôi dành nhiều, rất nhiều giờ trên bãi biển, tắm nắng.

Tôi thả diều, những con diều thật đẹp.

nghĩ của anh chạy quá nhanh so với cổ tay tê nhức. Nếu anh đánh máy, các con chữ dính vào nhau, và lần nữa mình lại phải theo tốc độ tầm thường của cỗ máy, không phải tốc độ nơ ron thần kinh của mình. Nhưng với cậu ta (nó? cô ta?) những ng
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.