Con Lắc Foucault

Lượt đọc: 139 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
14

❊ ❊ ❊

Anh ta tuyên bố rằng hôm trước anh ta trông thấy năm trăm linh bốn sư huynh của dòng tu bị đưa lên giàn hỏa vì họ không thú nhận những tội lỗi đã được nhắc đến ở trên, và anh ta nghe nói họ đã bị thiêu sống. Nhưng anh ta sợ rằng bản thân mình sẽ không chống chọi nổi nếu bị dọa đưa lên giàn thiêu, rằng anh ta sẽ nhận tội trước sự hiện diện của các quan tòa và bất kể ai, nếu được hỏi, và sẽ nói rằng tất cả tội lỗi người ta cáo buộc cho dòng tu đều đúng hết; rằng anh ta, nếu được hỏi, cũng sẽ nhận luôn đã tự tay giết Chúa.

− Lời khai của Aimery de Villiers-le-Duc, 13 tháng Năm 1310

Một phiên tòa đầy những sự im lặng, mâu thuẫn, khó hiểu và những việc làm ngu ngốc. Những việc làm ngu ngốc là rõ nét nhất, và bởi vì chúng không thể lý giải nổi nên nói chung chúng trùng khớp với những sự khó hiểu. Trong những ngày tháng thanh bình năm xưa, tôi từng tin rằng ngọn nguồn của sự khó hiểu là sự ngu ngốc. Rồi buổi tối nọ núp trong cái kính viễn vọng, tôi kết luận rằng những sự khó hiểu khủng khiếp nhất là những sự khó hiểu ngụy trang mình dưới tấm mặt nạ điên rồ. Nhưng giờ tôi lại bắt đầu tin rằng cả thế giới này là một sự khó hiểu, một sự khó hiểu vô hại bị tô vẽ thành khủng khiếp bởi nỗ lực điên rồ của chúng ta nhằm diễn giải nó cứ như thể nó có một sự thật chôn sâu bên dưới.

Với sự sụp đổ của các vương quốc Cơ đốc giáo tại Đất Thánh, các hiệp sĩ dòng Đền đã mất đi mục đích. Hay nói đúng hơn họ mau chóng biến phương tiện của mình thành mục đích; họ dành thời gian quản lý của nả khổng lồ của mình. Philip Tuấn tú, một bậc quân vương dự định xây dựng một nhà nước tập quyền, đương nhiên là chả ưa gì họ. “Họ là một dòng tu có chủ quyền, vượt ra ngoài bất cứ sự kiểm soát nào của vua chúa. Đại thủ lĩnh ngang hàng với một vương gia; ông ta đứng đầu một quân đội, cai quản những vùng đất đai rộng lớn và được bầu chọn như hoàng đế, có thẩm quyền tuyệt đối. Ngân khố nước Pháp đặt tại Ngôi đền ở Paris, ngoài tầm kiểm soát của nhà vua. Các hiệp sĩ dòng Đền là những người được ủy thác, ủy nhiệm và người quản lý một tài khoản mà nhà vua chỉ đứng tên trên danh nghĩa. Họ quản lý dòng tiền thu chi và thao túng lợi tức; họ hoạt động như một ngân hàng tư nhân khổng lồ nhưng hưởng thụ tất cả đặc quyền đặc lợi và miễn trừ thuế khóa của một thiết chế nhà nước. Thủ quỹ của nhà vua là một hiệp sĩ dòng Đền. Làm sao một nhà cầm quyền có thể thi hành quyền lực trong hoàn cảnh như vậy?

Nếu anh không thể hạ họ, hãy đứng chung hàng ngũ với họ. Philip xin trở thành một hiệp sĩ danh dự của dòng Đền. Đề nghị ấy bị từ chối. Một sự sỉ nhục không đấng quân vương nào nuốt trôi nổi. Ông ta đề xuất với Giáo hoàng sáp nhập các hiệp sĩ dòng Đền và dòng Cứu tế rồi đặt dòng tu mới dưới sự kiểm soát của một trong các con trai của ông. Jacques de Molay, đại thủ lĩnh của dòng Đền, liền tới bái kiến một cách thậm màu mè phô trương từ đảo Síp, nơi ông sống như một ông hoàng bị lưu đày. Ông ta trình thư lên Giáo hoàng, tiếng là đánh giá các lợi ích của cuộc sáp nhập này nhưng trên thực tế là nhấn mạnh những bất lợi của nó. Bên cạnh nhiều điều khác, Molay trâng tráo lập luận rằng các hiệp sĩ dòng Đền giàu có hơn dòng Cứu tế nhiều, rằng cuộc sáp nhập này sẽ giúp dòng Cứu tế kiếm chác từ tiền bạc của dòng Đền, bởi vậy mà đặt linh hồn các hiệp sĩ của ông ta vào thế nguy hiểm. Molay thắng vòng đầu: kế hoạch trên bị xếp xó.

Phương cách duy nhất còn lại là vu khống và lần này những lá bài đẹp nằm trên tay nhà vua. Những lời đồn đại về hiệp sĩ dòng Đền đã lan truyền từ lâu. Hãy tưởng tượng rằng, trong mắt người Pháp chất phác, những “tên thực dân” này có hình ảnh thế nào, những kẻ thu thuế thập phân khắp nơi mà chẳng đem đến một thứ gì bù lại, thậm chí không còn hy sinh máu xương trong vai trò chiến sĩ gác Mộ Thánh. Đúng, họ là người Pháp. Nhưng không hoàn toàn. Người ta nhìn họ như bọn pieds noirs*; vào thời đó thì thuật ngữ là poulain*. Các hiệp sĩ dòng Đền phô trương lối sống ngoại lai xa hoa, người ta kể rằng khi chỉ mình họ với nhau thậm chí họ còn dùng tiếng của người Moor vốn đã quen thuộc với họ trong những tháng năm xưa. Dẫu họ là tu sĩ, bản chất hung bạo của họ chẳng ai lạ gì: vài năm trước, Giáo hoàng Innocent III đã ban hành sắc lệnh De insolentia Templariorum*. Họ đã thề lời thề sống thanh bần nhưng thực tế họ sống với đủ sự phô trương của đám quý tộc, sự tham lam của tầng lớp thương nhân mới xuất hiện và sự vô liêm sỉ của cả một quân đoàn lính ngự lâm.

Bàn chân đen: người có nguồn gốc châu Âu sống ở Algeria trong thời Pháp thuộc.

Lừa, ngựa con.

Về tính ngạo mạn của hiệp sĩ dòng Đền.

Cái chiến dịch xì xầm này lan rộng rất nhanh: hiệp sĩ dòng Đền là bọn đồng tính, theo dị giáo, những kẻ sùng bái thờ phụng một cái đầu râu ria chẳng biết từ đâu ra nhưng chắc chắn không phải từ điện thờ của những tín hữu Cơ đốc tử tế. Có lẽ chúng chung những bí mật với Ismā‘īlism bởi vì chúng từng có quan hệ với bọn sát thủ của Sơn nhân Lão quái*. Philip và các cố vấn của mình đã lợi dụng triệt để những tin đồn này.

Rashid ad-Din Sinan, người đứng đầu một giáo phái Hồi giáo Shia ở Syria và cũng là một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Thập tự chinh. Biệt hiệu Sơn nhân Lão quái lấy từ danh hiệu tiếng Ả Rập, Shaykh al Jabal, có nghĩa là trưởng lão khôn ngoan của vùng núi.

Philip được sự trợ giúp của hai thiên tài nham hiểm: Marigny và Nogaret. Chính Marigny là người cuối cùng đã giành được quyền kiểm soát tài sản của dòng Đền, thay mặt nhà vua cai quản nó cho tới khi nó được chuyển cho dòng Cứu tế. Ai giành được lợi tức thì không rõ. Nogaret, đại pháp quan của nhà vua, vào năm 1303 đã là nhà chiến lược đứng sau sự kiện ở Anagni, khi mà Sciarra Colonna tát tai Boniface VIII và chưa đầy một tháng sau đức Giáo hoàng này băng hà vì nhục nhã.

Rồi một kẻ tên Esquin de Floyran xuất hiện. Nghe nói trong khi bị giam vì những tội không rõ và sắp sửa bị xử tử, Floyran gặp một hiệp sĩ dòng Đền phản đạo trong xà lim và nghe một lời thú tội khủng khiếp của anh ta. Để đổi lấy mạng sống và một khoản kha khá, Floyran phun ra tất tần tật. lời khai của Floyran lại giống in hệt người ta vẫn đồn thổi. Giờ thì tin đồn đã trở thành lời khai chính thức trước một quan tòa. Nhà vua chuyển những lời vạch trần gây chấn động của Floyran đến Giáo hoàng Clement V, vị này về sau rời tới ngự ở Avignon. Clement tin một số cáo buộc, nhưng biết rằng không dễ gì can thiệp vào chuyện của dòng Đền. Tuy vậy năm 1307, ngài vẫn đồng ý mở một cuộc thẩm tra chính thức. Đại thủ lĩnh Molay được thông báo nhưng tuyên bố lương tâm mình trong sạch. Ông ta vẫn tiếp tục tham dự những nghi lễ chính thức bên cạnh nhà vua, một vương gia giữa những vương gia. Clement V có vẻ đang lảng tránh nên nhà vua bắt đầu nghi ngờ rằng Giáo hoàng muốn cho các hiệp sĩ dòng Đền thời gian để trốn chạy. Nhưng không, các hiệp sĩ dòng Đền vẫn tiếp tục nốc rượu và báng bổ trong trang ấp của mình, dường như không hay biết gì về mối nguy hiểm rình rập. Và đây là điều khó hiểu đầu tiên.

Vào ngày 14 tháng Chín năm 1307, nhà vua gửi mật thư tới tất cả các nhân viên tòa án và các quan án trên toàn đế chế, ra lệnh bắt giữ tập thể các hiệp sĩ dòng Đền và tịch thu tài sản của họ. Kể từ khi mệnh lệnh được ban hành cho tới cuộc bắt bớ vào ngày 13 tháng Mười là một tháng. Nhưng các hiệp sĩ không nghi ngờ gì hết. Vào buổi sáng tháng Mười ấy, tất cả bọn họ đều rơi vào bẫy, và - lại một sự khó hiểu khác - tự nộp mình mà không hề kháng cự. Trên thực tế, những ngày trước các cuộc bắt giữ, với những lý do bào chữa yếu ớt nhất, người của nhà vua, vì muốn đảm bảo sẽ không có thứ gì thoát khỏi sung công, đã tiến hành một dạng kiểm kê tài sản của dòng Đền trên khắp đất nước. Thế mà các hiệp sĩ dòng Đền vẫn không làm gì hết. Cứ đến đây đi, nhân viên tòa án thân mến, cứ xem xét khắp đi, hãy cứ tự nhiên như ở nhà anh.

Khi biết chuyện, Giáo hoàng đánh bạo phản đối nhưng đã quá muộn. Các điều tra viên của triều đình đã lôi ra hình cụ cùng dây thừng, và nhiều hiệp sĩ dưới sức ép của cực hình đã bắt đầu thú tội. Khi thú tội, họ được chuyển sang cho các phán quan tòa án dị giáo, đám này có biện pháp riêng tuy họ hãy còn chưa nướng người ta trên giàn thiêu. Các hiệp sĩ xác nhận lại lời thú tội của mình.

Đây là điều khó hiểu thứ ba. Cứ cho rằng có tra tấn và nó chắc chắn phải tàn khốc bởi vì ba mươi sáu hiệp sĩ dòng Đền đã chết trong quá trình khảo cung. Nhưng không có lấy một ai trong số những người đàn ông mình đồng da sắt, được tôi luyện trong những trận chiến với người Thổ khát máu kia, chống cự. Ở Paris chỉ có bốn trong số một trăm ba mươi tám hiệp sĩ dòng Đền không thú tội. Tất cả những người khác đều cúi đầu, trong đó có cả Jacques de Molay.

“Họ thú tội những gì?” Belbo hỏi.

“Họ thú tội chính xác những gì được cáo buộc trong lệnh bắt giữ. Hầu như không có sai khác nào trong lời khai, ít nhất là ở Pháp và Ý. Ở Anh, nơi mà không ai thực sự muốn theo đuổi phiên tòa, những lời buộc tội thường xuất hiện trong các lời khai nhưng được gán cho những nhân chứng ngoài dòng tu, lời khai của họ dựa vào tin đồn. Nói cách khác, các hiệp sĩ dòng Đền chỉ thú tội khi được hỏi đến và rồi chỉ thú nhận những gì bị cáo buộc.”

“Vẫn trò cũ rích đó của tòa án dị giáo. Chúng ta hay gặp nó lắm,” Belbo bình luận.

“Nhưng hành vi của bị cáo rất kỳ quặc. Những cáo buộc là trong thánh lễ nhập đạo, hiệp sĩ dòng Đền phủ nhận Chúa Jesus ba lần, khạc nhổ lên thập tự, bị lột trần truồng và bị hôn lên posteriori parte spine dorsi, nói cách khác là lên lỗ trôn, rồi lên rốn và lên miệng, in humanae dignitatis opprobrium*. Rằng sau đó họ lao vào cuộc truy hoan. Rằng tiếp theo người ta trưng ra một cái đầu tượng râu ria mà họ phải bái lạy. Vậy, bị cáo đã phản ứng trước những cáo buộc trên như thế nào? Geoffroy de Charnay, người sau đó bị thiêu sống cùng Molay, nói vâng, chuyện đó đã xảy ra với anh ta; anh ta đã phủ nhận Chúa Jesus, nhưng bằng miệng chứ không phải bằng trái tim; anh ta không nhớ có nhổ lên cây thập tự không bởi vì đêm đó họ rất vội vã. Còn về nụ hôn sau mông đít, chuyện đó cũng đã xảy ra với anh ta và anh ta đã nghe thấy trưởng nhánh dòng Đền ở Auvergne nói rằng dù sao đi nữa thì kết đôi với các sư huynh vẫn tốt hơn là bị lũ đàn bà làm nhơ bẩn, nhưng cá nhân anh ta không dính vào tội lỗi xác thịt với các hiệp sĩ dòng Đền khác. Nói cách khác: Vâng, tất cả là đúng, nhưng đó chẳng qua chỉ là một trò chơi, đâu có ai thực sự tin tưởng vào nó, và dù sao thì cũng là người khác đầu têu, tôi chỉ chơi cùng theo phép lịch sự thôi. Jacques xứ Molay bản thân là đại thủ lĩnh nói rằng khi người ta chìa cho ông ta cây thập tự thì ông ta chỉ giả vờ nhổ vào đó nhưng thực chất là nhổ xuống đất. Ông ta nhận rằng các thánh lễ nhập đạo ít nhiều giống như mô tả, nhưng - nói thật - ông ta không dám chắc, bởi vì trong suốt sự nghiệp của mình ông ta làm lễ nhập đạo cho rất ít sư huynh. Một hiệp sĩ khác nói anh ta đã hôn giáo trưởng nhưng chỉ lên miệng chứ không phải sau mông, là giáo trưởng hôn vào sau mông anh ta. Một số còn thú nhận nhiều hơn cần thiết, nói rằng họ không chỉ phủ nhận Chúa Jesus mà còn gọi Người là tên tội phạm và họ bác bỏ sự trinh trắng của Đức Mẹ, rồi họ đã tè lên cây thập tự, không chỉ trong thánh lễ nhập đạo mà trong cả Tuần Thánh. Họ bảo họ không tin vào phép bí tích và họ không chỉ thờ phụng Baphomet mà còn cả Quỷ sứ trong hình dạng một con mèo...”

Tiếng Latin: nỗi nhục nhã với phẩm giá con người.

Không kém phần lố bịch dẫu không đến mức khó tin như trên là vũ điệu đôi lúc này bắt đầu giữa nhà vua và Giáo hoàng. Giáo hoàng muốn đảm nhận vụ này; nhà vua khăng khăng đòi giám sát vụ xét xử cho tới kết luận cuối cùng. Giáo hoàng đề nghị đình chỉ tạm thời hoạt động của dòng: kẻ có tội sẽ bị xử tử, rồi dòng Đền sẽ được hồi sinh lại sự thanh khiết ban đầu của nó. Nhà vua muốn xì căng đan này lan rộng, muốn nó bao trùm lên toàn bộ dòng tu. Điều đó sẽ dẫn tới sự tan rã hoàn toàn của dòng tu - về mặt chính trị, tôn giáo và, quan trọng nhất, về tài chính.

Đến một lúc, người ta tạo ra một bản văn đích thực là kiệt tác. Một số tiến sĩ thần học tranh luận rằng, để ngăn không cho bị cáo rút lại lời thú tội, bị cáo nên bị tước bỏ bất kỳ quyền biện hộ nào. Bởi vì họ đã thú tội, không cần phải xét xử nữa. Một phiên tòa chỉ cần thiết nếu vụ việc vẫn còn có nghi ngờ, mà ở đây thì không có nghi ngờ nào hết. “Vì sao lại cho phép họ được biện hộ một khi mục đích duy nhất của biện hộ sẽ chỉ là che chắn họ khỏi hệ quả tất yếu từ những lỗi lầm họ đã thú nhận? Bằng chứng khiến cho việc trừng phạt họ là không tránh khỏi.”

Nhưng vẫn còn một nguy cơ rằng Giáo hoàng có thể giành quyền kiểm soát cuộc xét xử nên nhà vua và Nogaret dựng lên một vụ ì xèo liên quan tới đức giám mục vùng Troyes. Ông này bị buộc tội phù thủy theo lời khai mật của một kẻ âm mưu bí ẩn có tên Noffo Dei. Sau này người ta sẽ phát hiện ra Dei dối trá - và gã sẽ bị treo cổ vì rắc rối mình bầy ra - nhưng trong lúc đó, vị giám mục khốn khổ bị công khai buộc tội là kẻ gian, báng bổ thánh thần và cho vay nặng lãi, chẳng khác gì tội của các hiệp sĩ dòng Đền. Có lẽ nhà vua đang cố cho con dân nước Pháp thấy rằng Giáo hội không có quyền ngồi ở vị trí phán xử các hiệp sĩ dòng Đền bởi bản thân nó đâu phải vô can với những tội lỗi của họ, hoặc có lẽ ông ta chẳng qua đang cảnh cáo Giáo hoàng hãy biết đường mà tránh xa vụ này. Toàn bộ câu chuyện rất tăm tối, một sự chồng chéo của nhiều lực lượng cảnh sát và các lực lượng mật, trà trộn vào nhau và những cáo buộc nặc danh. Giáo hoàng bị dồn vào chân tường và buộc lòng chấp nhận thẩm vấn bảy mươi hai hiệp sĩ dòng Đền, những người này lặp lại lời thú tội họ đã thốt ra dưới cực hình tra khảo. Nhưng Giáo hoàng quan sát thấy họ đã ăn năn nên sử dụng lời thề bỏ đạo của họ - một quân Át chủ bài - như một cái cớ để tha tội cho họ.

Đến đây lại có chuyện xảy ra - đó là một vấn đề mà tôi phải giải quyết trong luận văn của mình, nhưng tôi bị giằng xé giữa các nguồn mâu thuẫn nhau. Ngay khi Giáo hoàng cuối cùng cũng giành được quyền xét xử các hiệp sĩ, ông ta bất thình lình trao họ lại cho nhà vua. Vì sao xảy ra cơ sự ấy? Molay rút lại lời thú tội, Clement cho phép ông ta được bào chữa, và ba hồng y được triệu tập để thẩm vấn ông ta. Vào ngày 26 tháng Mười một năm 1309, Molay ngạo nghễ biện hộ cho dòng tu cùng sự trong sạch của nó, ông ta thậm chí còn đi xa tới mức đe dọa những kẻ buộc tội. Nhưng rồi ông ta được một công sứ của nhà vua, Guillaume xứ Plaisains, kẻ mà ông ta coi như bạn hữu đến viếng thăm. Ông ta được bạn cho vài lời khuyên không ai rõ, thế là hai ngày sau, ngày 28 tháng Mười một, ông ta đưa ra một lời cung ngoan ngoãn và mập mờ, trong đó tự nhận là một hiệp sĩ nghèo khó, vô học, rồi tự bó mình trong việc kể lể những giá trị (giờ đã lùi xa) của dòng Đền, những việc thiện của nó, và máu xương những hiệp sĩ của dòng tu đã đổ xuống Đất Thánh, và vân vân. Đổ thêm dầu vào lửa, Nogaret đột nhiên xuất hiện và nhắc tất cả mọi người nhớ rằng dòng Đền từng có những liên hệ không minh bạch với Saladin. Giờ đây thì tội lỗi được ngầm hiểu là phản quốc. Những lý lẽ biện hộ của Molay thật đáng thương. Ông ta đã kéo lê hai năm trong ngục tù, và trong lời cung khai này ông ta có vẻ suy sụp, nhưng ông ta cũng đã có vẻ suy sụp ngay sau khi bị bắt. Vào tháng Ba năm sau, Molay có một chiến lược mới trong lời cung khai thứ ba. Giờ ông ta hoàn toàn không chịu mở miệng, tuyên bố rằng ông ta sẽ chỉ nói chuyện với Giáo hoàng, không ai khác nữa.

Một khúc ngoặt kịch tính, và tại đây thiên sử thi bắt đầu. Vào tháng Tư năm 1310, năm trăm năm mươi hiệp sĩ dòng Đền đề nghị được lên tiếng để bảo vệ dòng tu của mình. Họ tố cáo cực hình tra khảo mà mình phải chịu đựng và phủ nhận những lời buộc tội. Họ chứng minh rằng tất cả các cáo buộc là hoang đường. Nhưng nhà vua và Nogaret biết phải làm gì. Một số hiệp sĩ dòng Đền phản cung ư? Tốt. Sự phản cung ấy chỉ biến họ thành kẻ tái phạm và khai man - relapsi - một tội khủng khiếp vào thời đó. Kẻ biết thú tội và ăn năn có thể được tha thứ, nhưng kẻ không biết ăn năn mà còn rút lại lời thú tội, nhổ rồi lại liếm, cứng đầu cứng cổ chối cãi rằng mình chẳng có gì phải ăn năn, thì chỉ còn nước chết. Năm mươi kẻ khai man như thế đã bị kết án tử.

Tiên đoán phản ứng của những tù nhân khác chẳng khó gì. Nếu anh thú tội, anh còn toàn mạng, dù có bị giam cầm, và anh có thể đợi mà xem diễn biến sắp tới. Nếu anh không thú tội, hoặc tồi tệ hơn, anh rút lại lời thú tội của mình, anh lên giàn thiêu. Năm trăm kẻ rút lại lời thú tội còn sống vội vàng rút lại lời phản cung kia.

Và hóa ra, những người chọn ăn năn đã lựa chọn thông minh. Năm 1312, những người không nhận tội bị kết án tù chung thân trong khi những kẻ nhận tội được tha. Philip không hướng tới một cuộc tàn sát, ông ta chỉ muốn giải tán dòng tu. Những hiệp sĩ được thả tự do, thân thể và tinh thần suy sụp vì bốn năm năm tù đày, lặng lẽ trôi dạt vào các dòng tu khác. Tất cả những gì họ muốn là được người đời quên lãng, và sự biến mất lặng lẽ này rồi sẽ thắp lên huyền thoại về sự tồn tại ngầm của dòng tu.

Molay vẫn yêu cầu được Giáo hoàng lắng nghe. Clement đã triệu tập một hội đồng ở Viên vào năm 1311 nhưng không có mặt Molay. Việc giải tán dòng tu được thông qua và tài sản của nó được chuyển sang cho các hiệp sĩ dòng Cứu tế dù tạm thời nhà vua sẽ quản lý.

Ba năm nữa lại trôi qua, và cuối cùng một thỏa ước cũng đạt được với Giáo hoàng. Vào ngày 19 tháng Ba năm 1311, trước cổng Nhà thờ Đức Bà, Molay bị kết án tù chung thân. Ông phản ứng lại đầy phẩm giá. Ông ta đã chờ đợi Giáo hoàng cho phép mình tự biện hộ, giờ ông ta cảm thấy bị phản bội. Ông ta biết nếu mình rút lại lời thú tội thì sẽ bị kết án tái phạm và khai man. Ông ta đã cảm thấy những gì trong tim khi đứng đó sau gần bảy năm chờ đợi cuộc phán xử? Liệu ông ta có lấy lại được dũng khí của các bậc tiền bối? Hay là ông ta sẽ đơn giản quyết định rằng, giờ mình đã suy sụp lắm rồi, bị xử phải sống nốt những ngày cuối đời trong ô nhục, bị thiêu sống, mình cũng nên chết một cái chết đường hoàng? Bởi ông ta đã dõng dạc lớn tiếng quả quyết rằng bản thân và các anh em trong dòng tu vô tội. Các hiệp sĩ dòng Đền, ông nói, phạm một tội và chỉ một tội duy nhất: vì nhát gan mà họ đã phản bội lại dòng Đền. Ông ta sẽ không tiếp tục làm vậy nữa.

Nogaret mở cờ trong bụng. Một tội ác công khai đòi hỏi một sự kết án công khai, dứt khoát, ngay lập tức. Geoffroy xứ Charnay, trưởng nhánh dòng Đền ở Normandy, cũng theo gương Molay. Cũng chính trong hôm đó nhà vua ra quyết định: một giàn thiêu được dựng lên ở mũi đảo Île de la Cité. Vào lúc hoàng hôn, Molay và Charnay bị thiêu sống.

Truyền thuyết kể rằng trước khi chết, vị đại thủ lĩnh đã tiên tri ngày tàn của những kẻ ngược đãi mình. Và quả thật, Giáo hoàng, nhà vua cùng Nogaret, tất cả đã chết trước khi năm đó trôi qua. Khi nhà vua đã băng hà, Marigny bị nghi ngờ biển thủ tiền. Ông ta bị các địch thủ cáo buộc tội phù thủy và bị treo cổ. Nhiều người bắt đầu coi Molay như một người tử vì đạo. Chính Dante đã nói lên nỗi căm phẫn rộng khắp trong dân trước cuộc bức hại những hiệp sĩ dòng Đền.

Và chính tại điểm này lịch sử kết thúc, truyền thuyết bắt đầu. Một phần của truyền thuyết khẳng định rằng khi Louis XVI lên máy chém, một người đàn ông không rõ danh tính đã trèo lên bục gỗ kê máy chém và hô to: “Jacques xứ Molay, thù người đã được rửa!”

Đó là ít nhiều câu chuyện tôi đã kể đêm đó ở Pilade, liên tục bị cắt ngang.

Chẳng hạn Belbo sẽ hỏi: “Anh có chắc là anh không đọc chuyện này trong sách của Orwell hay Koestler?” Hay: “Gượm đã, đây chính là điều xảy ra với gã tên là gì nhỉ, cái gã trong Cách mạng Văn hóa ấy.” Còn Diotallevi thì không ngừng xen vào, đầy vẻ dạy đời: “Historia magistra vitae.”* Belbo sẽ lập tức đáp lại: “Thôi nào, những người theo Kabbalah không tin vào lịch sử.” Và Diotallevi luôn luôn trả lời: “Đó chính là mấu chốt. Mọi thứ đều là sự lặp lại, theo chu kỳ. Lịch sử là một người thầy vì nó dạy chúng ta rằng nó không tồn tại. Chỉ các hoán đổi mới quan trọng mà thôi.”

Tiếng Latin: Lịch sử là thầy giáo của đời.

“Chúng ta vẫn chưa trả lời câu hỏi thực sự,” cuối cùng Belbo nói. “Hiệp sĩ dòng Đền là ai? Ban đầu anh khiến họ giống như những trung sĩ trong một bộ phim của John Ford, rồi lại giống một đám vô công rồi nghề, rồi giống những hiệp sĩ trong một bức tiểu họa trang trí cảo bản, rồi giống những tay chủ nhà băng của Chúa tiến hành những giao dịch bẩn thỉu, rồi giống một đám tàn binh mạnh ai nấy chạy, rồi như những kẻ sùng đạo của một giáo phái ma quỷ, và cuối cùng như những người tử vì đạo để giải phóng tư tưởng. Cuối cùng thì họ là gì?”

“Có lẽ là tất cả những thứ đó. ‘Giáo hội Công giáo là gì?’, một sử gia sao Hỏa năm 3000 có thể đặt câu hỏi như vậy. ‘Những người ném thân mình vào miệng sư tử hay những kẻ giết những người theo dị giáo?’ Cả hai.”

“Nhưng họ có làm hay không làm những chuyện khủng khiếp kia?”

“Điều nực cười nằm ở chỗ nhiều kẻ đi theo họ - những hiệp sĩ dòng Đền mới ở các thời đại khác nhau - bảo rằng có. Và người ta đưa ra lý lẽ biện hộ. Chẳng hạn như đó cũng giống thách đố với ma mới khi nhập hội. Anh muốn thành một hiệp sĩ dòng Đền ư? Được thôi, hãy chứng minh anh có gan nhổ nước miếng lên cây thập tự và hãy xem Chúa có giáng sét đánh chết anh không. Nếu anh tham gia đội quân này, anh phải trao cho các sư huynh của anh cả trái tim lẫn linh hồn, vậy nên hãy để họ hôn lỗ trôn anh. Một giả thuyết khác là họ được yêu cầu phủ nhận Chúa Jesus để xem họ sẽ cư xử ra sao nếu bị quân Hồi tóm được. Lý luận này nghe có vẻ hơi ngu bởi anh không dạy một người phương thức chống lại tra khảo bằng cách buộc anh ta làm - thậm chí dù chỉ mang tính biểu tượng - điều mà bọn tra khảo bắt anh ta làm. Giả thuyết thứ ba: ở Trung Đông, các hiệp sĩ dòng Đền đã có liên hệ với Mani giáo, những người coi khinh Thánh giá, coi đó là một công cụ tra tấn Chúa. Người Mani giáo cũng thuyết giảng về sự xa đời và không khuyến khích hôn nhân cùng sinh con đẻ cái. Một tư tưởng cũ, thường thấy với nhiều người theo dị giáo vào các thế kỷ đầu tiên của Công giáo. Sau này nó được phái Cathar tiếp nhận và trên thực tế có cả một truyền thuyết cho rằng các hiệp sĩ dòng Đền nhiễm giáo phái này. Và điều này cũng lý giải cho sự kê gian - cũng chỉ mang tính biểu tượng. Chúng ta hãy giả sử các hiệp sĩ có liên hệ với Mani giáo. Ồ, họ không hẳn là các trí thức, nên có lẽ - một phần vì khờ dại, một phần vì đua đòi và esprit de corps* - họ sáng tạo ra một nghi lễ mang tính cá nhân để phân biệt mình với những quân Thập tự chinh khác. Họ tiến hành nhiều nghi thức nhận diện đặc biệt mà không buồn để tâm đến ý nghĩa của chúng.”

Tiếng Pháp: tinh thần đồng đội.

“Thế còn vụ Baphomet?”

“Nhiều lời cung đã nhắc tới một nhân vật Baffometi, nhưng đó có thể là một lỗi của kẻ ghi chép đầu tiên, một lỗi được sao chép ra tất cả các văn bản sau này. Hoặc các biên bản đã bị người ta làm giả. Trong một số trường hợp họ có nói về Mahomet (istud caput vester deus est, et vester Mahumet)*, điều ấy gợi ý rằng các hiệp sĩ dòng Đền đã sáng tạo ra một nghi lễ hổ lốn của riêng mình. Một số lời thú tội khai rằng họ cũng được giục hô to ‘Yalla’, mà có thể là Allah. Nhưng người Hồi giáo không thờ hình ảnh của Mahomet, vậy nên cái vật đó từ đâu ra? Những lời khai kể rằng nhiều người thấy những cái đầu chạm trổ, nhưng đôi khi nó không chỉ là một cái đầu mà là cả một tượng thần - bằng gỗ, với mái tóc xoăn, mạ vàng, và luôn có râu. Có vẻ như những kẻ điều tra đã tìm thấy những cái đầu như vậy và dùng chúng để đối chứng với các bị cáo, nhưng không dấu tích nào của chúng còn tồn tại. Ai cũng thấy những cái đầu, và không ai thấy chúng. Giống như mèo: một số thấy một con mèo xám, những người khác thấy mèo đỏ, số khác nữa thấy mèo đen. Hãy tưởng tượng mình bị khảo cung bằng dùi sắt nung đỏ: Anh có thấy một con mèo trong thánh lễ nhập đạo không? Ồ, sao không phải là một con mèo chứ? Một trang trại của hiệp sĩ dòng Đền, nơi bao ngũ cốc cất trữ cần được bảo vệ trước lũ chuột, thì hẳn phải đầy mèo. Mèo không phải là một vật nuôi phổ biến ở châu Âu thời đó. Nhưng ở Ai Cập thì có. Có thể các hiệp sĩ dòng Đền nuôi mèo trong nhà dù những người dân đầu óc đứng đắn nhìn mấy con vật như vậy với nỗi ngờ vực. Với những cái đầu tượng Baphomet cũng tương tự thế. Có thể chúng là những hòm đựng thánh tích có hình dạng một cái đầu, vốn cũng được dùng vào thời đó. Tất nhiên, có người nói rằng Baphomet là một nhân vật giả kim thuật.”

Tiếng Latin: cái đầu này là Chúa của người, và Mahomet của người.

“Lúc nào cũng lòi ra giả kim thuật,” Diotallevi gật đầu. “Các hiệp sĩ dòng Đền có lẽ biết bí mật chế ra vàng.”

“Tất nhiên là họ biết,” Belbo nói. “Phương pháp rất đơn giản. Tấn công một thành phố của người Hồi, cắt cổ đàn bà trẻ em và vơ vét mọi thứ giành giật được. Sự thật là toàn bộ câu chuyện này là một mớ hỗn độn khổng lồ.”

“Có lẽ mớ hỗn độn nằm chính trong đầu họ. Họ quan tâm gì về những cuộc tranh biện giáo lý? Lịch sử đầy những giáo phái nhỏ dựng lên phong cách riêng của mình, một phần ngông ngạo, một phần thần bí. Bản thân các hiệp sĩ dòng Đền không thực sự hiểu mình đang làm gì. Mặt khác, luôn có cách giải thích bí truyền: họ biết chính xác mình đang làm gì, họ là những người tinh thông về các điều huyền bí phương Đông, nên thậm chí nụ hôn vào lỗ trôn cũng có một ý nghĩa nghi thức.”

“Hãy giải thích ngắn gọn cho tôi ý nghĩa nghi thức của nụ hôn vào lỗ trôn,” Diotallevi nói.

“Được thôi. Một số người nghiên cứu thuyết bí truyền ngày nay kiên định cho rằng các hiệp sĩ dòng Đền làm sống lại những học thuyết Ấn Độ. Nụ hôn trên lỗ trôn nhằm thức tỉnh luồng hỏa xà Kundalini, một nguồn sức mạnh vũ trụ ngụ ở cuối cột sống, trong các tuyến sinh dục. Một khi thức tỉnh, Kundalini dâng lên tuyến tùng...”

“Tuyến tùng của Descartes?”

“Tôi nghĩ là cùng một tuyến đó đấy. Khi ấy, một con mắt thứ ba được cho là sẽ mở ra trên trán, con mắt giúp anh nhìn xuyên qua thời gian và không gian. Đó là lý do tại sao thiên hạ vẫn tìm kiếm bí mật của các hiệp sĩ dòng Đền.”

“Đáng lẽ ra Philip Tuấn tú nên thiêu sống đám người hiện đại theo thuyết bí truyền thay vì những gã khốn khổ kia.”

“Phải, trừ việc bọn hiện đại theo thuyết bí truyền không có hai đồng bạc để miết vào nhau.”

“Giờ anh thấy chúng tôi phải nghe loại chuyện nào rồi đấy!” Belbo tổng kết. “Ít nhất thì tôi cũng hiểu vì sao quá nhiều kẻ điên của mình bị ám ảnh vì các hiệp sĩ dòng Đền này.”

“Nó cũng hơi giống điều anh nói tối đó. Toàn bộ câu chuyện là một phép tam đoạn luận bị bẻ cong. Cứ hành động như một kẻ điên, rồi thì anh sẽ vĩnh viễn bí hiểm. Úm ba la, những chữ Mene Tekel trên tường, Abracadabra, Manel Tekel Phares, Pape Satan Pape Satan Aleppe, le vièrge le vivace et le bel aujourd’hui. Bất cứ khi nào một nhà thơ hay nhà thuyết giáo, thủ lĩnh hay thầy phù thủy phun ra mấy câu ba láp không ai hiểu, nhân loại lại mất hàng thế kỷ giải mã thông điệp. Chứng rối loạn thần kinh của các hiệp sĩ dòng Đền khiến cho không ai giải mã họ nổi. Đó là lý do vì sao quá nhiều người sùng kính họ.”

“Một lời giải thích của nhà thực chứng,” Diotallevi nói.

“Phải,” tôi đồng ý, “có thể tôi là một nhà thực chứng. Một chút mổ xẻ lên tuyến tùng có thể biến những hiệp sĩ dòng Đền thành hiệp sĩ Cứu tế, nói cách khác là những người bình thường. Chiến tranh bằng cách nào đó phá hoại tuần hoàn não. Có thể là do tiếng súng thần công hoặc lửa Hy Lạp. Cứ nhìn những vị tướng của chúng ta mà xem.”

Lúc ấy đã một giờ sáng. Diotallevi chếnh choáng say nước tonic không còn đứng vững. Chúng tôi tạm biệt nhau. Tôi đã có một buổi tối thú vị. Họ cũng vậy. Chúng tôi vẫn chưa biết rằng mình vừa bắt đầu đùa với lửa - lửa Hy Lạp, thứ thiêu đốt và phá hủy.

nghĩ của anh chạy quá nhanh so với cổ tay tê nhức. Nếu anh đánh máy, các con chữ dính vào nhau, và lần nữa mình lại phải theo tốc độ tầm thường của cỗ máy, không phải tốc độ nơ ron thần kinh của mình. Nhưng với cậu ta (nó? cô ta?) những ng
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.