Con Lắc Foucault

Lượt đọc: 139 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
11

❊ ❊ ❊

Sự vô sinh của người là vô hạn. Một phần của cực khoái nằm ở đấy.

− EM. Cioran, Le mauvais demiurge, Paris, Gallimard, 1969,

“Pensées étranglées”

Cuộc đối thoại ở Pilade đã trưng ra trước mắt tôi con người công chúng của Belbo. Nhưng một người quan sát sắc sảo vẫn có thể ngửi thấy nỗi u sầu sau những giễu nhại ấy. Không phải sự giễu nhại của Belbo là tấm mặt nạ. Mặt nạ là sự thú nhận riêng tư của anh ta, có lẽ vậy. Hoặc có lẽ bản thân sự u sầu của anh ta đã là mặt nạ, một kỹ xảo để che giấu một nỗi u sầu thẳm sâu hơn.

Có một văn bản trong đó anh ta cố gắng tiểu thuyết hóa những gì đã nói với tôi về nghề nghiệp của mình khi tôi tới Garamond vào hôm sau. Nó hàm chứa tất cả sự chính xác lẫn đam mê của anh ta, nỗi thất vọng của một biên tập viên chỉ có thể viết lách thông qua kẻ khác trong khi thèm thuồng được sáng tạo riêng mình. Nó cũng hàm chứa sự nghiêm khắc đạo đức đã dẫn anh ta tới việc trừng phạt bản thân mình vì đã khao khát một thứ mà anh ta không cảm thấy mình có quyền. Dẫu cho anh ta họa nên khao khát của mình bằng những màu sắc đáng thương và chói mắt, tôi không thể ngờ một người đàn ông có thể tự thương thân với một sự bỉ bôi đến thế.

Jim Bốn Bểdoc

Ngày mai, gặp Cinti trẻ tuổi.

Chuyên khảo tốt, uyên thâm, có lẽ hơi uyên thâm quá.

Nói chung, sự so sánh giữa Catullus*, poetae novi*, và các nghệ sĩ tiên phong ngày nay là phần hay nhất.

Gaius Valerius Catullus (khoảng 84-54 TCN): nhà thơ La Mã, có tầm ảnh hưởng rộng khắp tới tận ngày nay.

Có nghĩa là “các nhà thơ mới”.

Sao lại không lấy đây làm lời giới thiệu?

Thuyết phục anh ta. Anh ta sẽ nói rằng những ý tưởng viển vông như thế không thuộc về một xê ri ngữ văn. Anh ta sợ chọc giận thầy giáo của mình, người sẽ hạ bút viết lời tựa đầy uy lực. Một ý tưởng xán lạn có thể thoát an toàn nếu nằm trong hai trang cuối, nhưng đặt vào phần mở đầu sẽ quá lộ liễu, nó sẽ làm chướng mắt các thế lực hàn lâm.

Tuy nhiên, nếu như nó được in nghiêng, trong dạng hội thoại, tách biệt khỏi phần học thuật, vậy thì giả thuyết vẫn chỉ là giả thuyết và không làm suy yếu sự nghiêm trang của công trình. Và người đọc lập tức sẽ bị cuốn hút, họ sẽ tiếp cận cuốn sách theo một cách hoàn toàn khác.

Liệu tôi đang thúc giục anh ta vươn tới một hành động tự do, hay là tôi đang dùng anh ta để chấp bút cuốn sách của chính mình?

Thay hình đổi dạng cuốn sách bằng một từ ở chỗ này, từ kia ở chỗ nọ. Làm hóa công cho tác phẩm của những người khác. Gõ vào tấm đất sét đã cứng lại, vào bức tượng ai đó khác đã tạc xong. Thay vì lấy đất sét mềm và tự mình nặn lấy. Giáng cho tiên tri Moses cứ gõ chuẩn xác bằng búa, rồi ngài sẽ cất tiếng nói.

Gặp William S.

“Tôi đã xem tác phẩm của anh. Không tồi. Nó có độ căng, không gian tưởng tượng. Tác phẩm đầu tay đấy hả?”

“Không. Tôi từng viết một vở bi kịch khác. Đó là câu chuyện về một cặp tình nhân ở Verona...”

“Mình hãy bàn về tác phẩm này trước đã, anh S. Tôi đang tự hỏi vì sao anh lại đặt bối cảnh ở Pháp. Tôi có thể đề xuất vài ý kiến được không, Đan Mạch thì sao? Sẽ chẳng mất công lắm đâu. Anh chỉ đổi vài ba cái tên và biến lâu đài vùng Châlons-sur-Marne thành, thế này đi, pháo đài Elsinore... Trong một bầu không khí Bắc Âu, Kháng Cách giáo, dưới cái bóng của Kierkegaard, ấy là nói như vậy, tất cả những bội âm về sự tồn tại này...”

“Có lẽ anh nói đúng.”

“Tôi nghĩ là tôi đúng đấy. Tác phẩm có thể cần chỉnh trang một chút về văn phong. Chẳng có gì ghê gớm đâu, chỉ như vài nhát kéo sửa sang của tay thợ cạo trước khi anh ta nâng gương lên cho anh xem thôi. Ví dụ hồn ma của người cha nhé. Vì sao lại ở cuối? Tôi thì sẽ đưa ông ta lên đầu. Bằng cách đó lời cảnh báo của người cha giúp thúc đẩy hành vi của chàng hoàng tử trẻ tuổi và nó tạo ra mâu thuẫn với người mẹ.”

“Ừm, ý tưởng hay lắm. Tôi sẽ chỉ phải chuyển một cảnh.”

“Chính xác. Giờ là văn phong. Đoạn này, khi hoàng tử quay sang khán giả và bắt đầu độc thoại về hành động và không hành động. Đoạn đó cũng khá hay, nhưng lời anh ta, ừm, chưa đủ day dứt. ‘Hành động hay không hành động? Đó là vấn đề của tôi.’ Tôi sẽ không nói ‘vấn đề của tôi’ mà là ‘câu hỏi’. Câu hỏi là đó. Anh hiểu ý tôi chứ. Vấn đề cá nhân của anh ta có đáng kể gì so với toàn bộ câu hỏi về sự tồn tại. Câu hỏi rằng liệu tồn tại hay không tồn tại...”

Nếu anh rải khắp thế giới này những đứa trẻ không mang tên anh, sẽ chẳng ai biết chúng là của anh. Giống như Chúa trời trong bộ y phục mộc mạc. Anh là Chúa trời, anh thả bộ khắp thành phố, anh nghe thấy người ta nói về anh, Chúa thế này, Chúa thế nọ, vũ trụ này tuyệt vời ra sao, và cái định luật vạn vật hấp dẫn tao nhã chừng nào, và anh mỉm cười một mình sau bộ râu giả (không, tốt nhất là ra đường không nên đeo râu, bởi vì một vị Chúa đeo râu sẽ lập tức bị nhận ra). Anh tự thoại (Chúa luôn tự thoại): “Chính ta đây, đấng Độc tôn, mà họ không hay biết.” Nếu một khách bộ hành va phải anh trên phố hoặc thậm chí nhục mạ anh, anh khiêm nhường xin lỗi và đi tiếp, dù cho anh là Chúa trời và chỉ cần búng tay một cái là anh có thể biến thế giới này thành tro bụi. Nhưng dẫu quyền lực vô hạn như anh, anh lại có thể rất nhẫn nhục.

Một tiểu thuyết về Thiên Chúa vi hành. Không. Nếu tôi nghĩ ra đề tài ấy, hẳn phải có ai đó đã viết xong nó rồi.

Biến thể. Anh là một tác giả, còn chưa ý thức được về những sức mạnh của mình. Người đàn bà anh yêu đã bội phản anh, cuộc đời với anh chẳng còn ý nghĩa gì nữa, vậy nên một ngày, để lãng quên tất cả, anh lên con tàu Titanic và tàu đắm ở Thái Bình Dương. Anh được cứu, kẻ sống sót duy nhất, bởi một chiếc thuyền độc mộc đầy thổ dân và trải qua những năm dài, bị thế giới bên ngoài quên lãng, trên hòn đảo chỉ có người Papua sinh sống này. Các nàng thiếu nữ hát tặng anh những khúc ca lả lướt, bầu ngực nẩy nở của họ chỉ che đậy sơ sài bằng những vòng hoa pua*. Họ gọi anh là Jim (họ gọi tất cả đàn ông da trắng là Jim), thế rồi tối nọ, một thiếu nữ làn da màu mật lẻn vào lều anh và nói: “Em của chàng, em cùng chàng.” Thú làm sao khi nằm dài ngoài mái hiên lúc tà dương ngả bóng về Tây và ngắm chòm Thập tự Phương Nam, có nàng vuốt ve vầng trán.

Pua tiếng Hawaii cũng có nghĩa là hoa.

Anh sống trong vòng tuần hoàn của những rạng đông và những hoàng hôn, chẳng biết sự gì nữa trên đời. Ngày nọ, một chiếc thuyền máy chở vài gã Hà Lan cập bến, anh nhận ra rằng mười năm đã qua; anh có thể rời đi cùng những người Hà Lan nhưng anh khước từ. Anh bắt đầu buôn dừa, anh quản lý việc thu hoạch cây gai dầu, người bản xứ làm thuê cho anh, anh chèo thuyền từ đảo này sang đảo khác, và tất cả đều gọi anh là Jim Bốn Bể. Một tay thám hiểm Bồ Đào Nha nát bươm vì rượu đến làm cùng anh và cứu bản thân mình. Đến nay anh đã thành đề tài bàn luận khắp eo biển Sunda, anh cố vấn cho vua Brunei trong chiến dịch chống lại tộc Dayak miền sông nước, anh tìm thấy một khẩu súng thần công cũ từ thời Tippo Sahib và tu sửa cho nó hoạt động lại được. Anh huấn luyện một đội quân Mã Lai tận tụy răng đen nhẻm vì nhai trầu. Trong một cuộc giao tranh nhỏ gần rặng san hô, lão Sampan răng đen lấy thân mình che chắn cho anh; tôi rất vui lòng được chết cho ngài, Jim Bốn Bể. Lão Sampan tử tế, vĩnh biệt, bạn hiền của tôi.

Giờ thì anh đã nổi tiếng trên toàn quần đảo, từ Sumatra cho tới Port-au-Prince. Anh giao thương với cả người Anh; ở văn phòng quản lý cảng tại Darwin, anh đăng ký tên Kurtz, và giờ với tất cả mọi người, anh là Kurtz - chỉ có thổ dân vẫn còn gọi anh là Jim Bốn Bể. Một tối nọ, ngoài hiên nàng thiếu nữ ve vuốt anh và trên đầu chòm Thập tự Phương Nam sáng rực rỡ hơn bao giờ hết - a! mới khác chòm Đại Hùng làm sao - anh nhận ra mình muốn quay về. Một lát thôi, để xem ở đó có thứ gì, nếu có, còn lại của anh không.

Anh lên tàu tới Manila, từ đó đón máy bay cánh quạt tới Ball, rồi Samoa, quần đảo Admiralty, Singapore, Tenerife, Timbuktu, Aleppo, Samarkand, Basra, Malta, và anh đã về tới nhà.

Mười tám năm đã vụt trôi qua, cuộc sống để lại những dấu vết của nó trên thân thể anh: gương mặt anh rám lại vì gió mậu dịch, anh đã già hơn, có lẽ cũng đẹp trai hơn. Đến nơi, anh khám phá ra rằng tất cả các hiệu sách đều bày bán sách về anh, theo những ấn bản phê bình mới, và tên anh được khắc vào trán tường tại trường học cũ của anh, nơi hồi xưa anh học đọc học viết. Anh là Nhà thơ Mất tích Vĩ đại, lương tâm của cả một thế hệ. Những nàng trinh nữ lãng mạn tự tử bên nấm mồ rỗng của anh.

Và rồi tôi vô tình gặp em, tình yêu của tôi, với những nếp nhăn kia quanh đôi mắt em, khuôn mặt em vẫn tươi đẹp như ngày nào dẫu hao gầy vì ký ức và chút ăn năn yếu ớt. Tôi gần như đã đi qua em trên vệ đường, tôi chỉ cách có vài bước chân và em nhìn tôi như cách em nhìn tất cả mọi người, cơ hồ đang tìm kiếm ai khác phía sau cái bóng của họ. Tôi có thể lên tiếng, xóa đi những năm qua. Nhưng để làm gì? Chẳng phải tôi, ngay cả lúc này đây, đã tròn chức phận sao? Tôi giống như Chúa Trời, cô độc như Người, hão huyền và tuyệt vọng như Người, không thể là một trong những tạo vật của mình. Họ tắm trong ánh sáng của tôi, trong khi tôi tắm trong bóng đêm khôn chịu thấu, nguồn gốc của ánh sáng đó.

Vậy hãy bình yên an nghỉ, William S! Nổi tiếng rồi, anh đi qua và không nhận ra tôi. Tôi lẩm bẩm với mình: Tồn tại hay không tồn tại. Và tôi tự nhủ: Tốt cho anh, Belbo, làm tốt lắm. Đi đi, anh bạn già William S, đi mà gặt hái phần thưởng vinh quang của anh. Mình anh sáng tạo, tôi chỉ đưa vào vài thay đổi mà thôi.

Chúng tôi những bà mụ, người giúp cho cuộc sinh nở của kẻ khác, cần bị đuổi không được chôn cất trong đất nhà thờ. Giống đám diễn viên. Trừ việc diễn viên giỡn thế giới này đúng như nó là thế, còn chúng tôi giỡn một số lớn những thứ giả-làm-như-thật, với vô tận những khả năng tồn tại trong một vũ trụ vô cực...

Làm sao cuộc sống có thể hào phóng đến vậy, vung ra những phần thưởng lớn lao là thế cho thứ tầm thường?

nghĩ của anh chạy quá nhanh so với cổ tay tê nhức. Nếu anh đánh máy, các con chữ dính vào nhau, và lần nữa mình lại phải theo tốc độ tầm thường của cỗ máy, không phải tốc độ nơ ron thần kinh của mình. Nhưng với cậu ta (nó? cô ta?) những ng
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.