Con Lắc Foucault

Lượt đọc: 132 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1

❊ ❊ ❊

hinh1

Ấy là lúc tôi trông thấy Con lắc.

Quả cầu treo ở đầu một sợi kim loại dài thả từ tận mái bục ca đoàn, đường bệ lăng qua lăng lại.

Tôi biết tỏng - nhưng ai mà chả linh cảm thấy từ trong xảo thuật của hơi thở bình an kia - rằng chu kỳ của nó được khống chế bởi căn bậc hai của chiều dài sợi dây và bởi π, con số mà, dù vô tỉ và phi lý* đến đâu đối với đầu óc thế nhân, bằng một sự hữu tỉ và có lý còn lớn hơn, vẫn nối liền chu vi và bán kính của mọi đường tròn trên đời. Thời gian quả cầu lăng từ đầu này sang đầu kia được định đoạt bởi một sự đồng lõa kỳ bí giữa những số đo phi thời gian nhất: tính độc nhất của điểm treo, tính đối ngẫu của các chiều trên mặt phẳng dao động, khởi nguyên bằng ba của số ω, bản chất bậc hai bí ẩn của căn, và sự hoàn hảo vô hạn của tự thân đường tròn.

Tác giả chơi chữ. π là số vô tỉ. Irrazionale trong tiếng Ý vừa có nghĩa là vô tỉ (trong số vô tỉ), vừa có nghĩa là phi lý.

Tôi cũng biết tỏng rằng một thiết bị từ gắn dưới mặt sàn vẫn đang phát lệnh tới khối trụ giấu ở trung tâm quả cầu, đảm bảo cho dao động kia tiếp diễn. Cái thiết bị ấy, chẳng dây mơ rễ má gì với định luật dao động của Con lắc, trên thực tế lại đang dung dưỡng màn phô diễn kia, bởi vì trong chân không, bất kỳ vật thể nào treo trên một sợi dây có trọng lượng bằng không và không dãn, với sức cản của không khí và lực ma sát cũng bằng không, nó sẽ dao động vĩnh viễn.

Quả cầu đồng hắt ra ánh sáng chập chờn, nhợt nhạt phản xạ những tia mặt trời cuối cùng xuyên qua các cửa sổ kính màu vĩ đại. Nếu như, tự thuở xưa, dưới đầu kim nhọn kia là một lớp cát ẩm trải trên mặt sàn bục ca đoàn, mỗi đường lăng sẽ để lại một vết xước nhẹ, và những vết xước ấy, với một sự đổi hướng siêu vi, sẽ mở rộng dần tạo thành một vệt đậm, một đường rãnh đối xứng tỏa tròn - như đường bao của đồ hình Mạn-đà-la hay biểu tượng ngôi sao sáu cánh, một ngôi sao, một bông hồng thần bí. Không, nó giống một câu chuyện được ghi lại trên sa mạc mênh mông hơn, trong những dấu vết mà vô số đoàn xe của dân du cư để lại, một câu chuyện về những cuộc thiên di chậm chạp, kéo dài cả thiên niên kỷ, như những cư dân Atlantis khi họ rời bỏ lục địa thần thánh Mu* và tỏa khắp, một cách bướng bỉnh, dày đặc, từ Tasmania đến Greenland, từ chòm Nam Dương tới chòm Bắc Giải, từ Đảo Hoàng tử Edward tới quần đảo Svalbard. Cái đầu kim nhọn lại sượt tới, lần nữa thuật lại trong thời lượng nén chặt những gì người ta đã làm từ kỷ băng hà này tới kỷ băng hà khác, và có lẽ vẫn còn đang làm, những tín sứ của các Thủ lĩnh ấy. Có lẽ đầu kim đã sượt qua Agarttha*, trung tâm của thế giới, trong khi thực hiện cuộc hành trình từ Samoa sang Novaya Zemlya. Và tôi cảm thấy rằng một họa tiết đơn hợp nhất nốt hòn đảo truyền thuyết Avalon* vời xa bên kia những trận gió Bắc với sa mạc ở phương Nam nơi điều bí ẩn của đá thiêng Ayers ngự trị.

Một lục địa trong truyền thuyết, tương truyền đã chìm dưới đáy Đại Tây Dương.

Một vùng đất huyền thoại nằm ở tâm Trái Đất.

Một hòn đảo huyền thoại trong truyền thuyết về vua Arthur (Anh).

Vào thời khắc bốn giờ chiều ngày hai mươi ba tháng Sáu ấy, Con lắc đang chậm dần ở cuối một đường lăng, rồi uể oải trở ngược về trục, lấy lại phong độ trên đường đi, thản nhiên chém qua hình bình hành lực vô hình vốn là mệnh số của nó.

Nếu tôi cứ đứng trơ đó mặc cho hàng giờ trôi qua, trân trối nhìn cái đầu con chim, mũi cây thương, cái mũ giáp đội ngược kia trong khi nó nhịp nhàng vẽ ra những đường chéo trong không trung, sượt qua những điểm đối xứng trên đường tròn hoa cả mắt của mình, hẳn tôi sẽ biến thành nạn nhân của ảo giác: rằng mặt phẳng dao động của con lắc đã đi giáp một vòng tròn, đã trở về điểm xuất phát sau ba mươi hai giờ đồng hồ, phơi bày một hình elip quay quanh trục theo vận tốc tỉ lệ với sin vĩ độ của nó. Nếu được treo dưới mái vòm của Đền Solomon* thay vì chỗ này, quỹ đạo quay của nó sẽ ra sao? Có lẽ các hiệp sĩ cũng đã từng làm phép thử ấy. Có lẽ đáp án, cái ý nghĩa cuối cùng, vẫn chẳng có gì khác biệt. Có lẽ nhà thờ tu viện Saint-Martin-des-Champs này mới là Ngôi Đền thực sự. Dù thực tế thế nào đi nữa thì thí nghiệm cũng chỉ diễn ra hoàn hảo tại Địa cực, nơi duy nhất mà Con lắc, ngự trên đường trục kéo dài của Trái đất, sẽ hoàn thành vòng tròn của nó trong đúng hai mươi tư giờ.

Tương truyền là ngôi đền đầu tiên, do Vua Solomon xây dựng. Đền Solomon giữ vị trí quan trọng trong những truyền thuyết về các Hiệp sĩ dòng Đền vốn có tên đầy đủ là “paupers commilitones Christi Templique Solomonici” (tạm dịch: Các Chiến hữu Nghèo của Chúa Kitô và đền Solomon).

Nhưng chút lệch lạc này so với Luật, điều mà Luật cho phép, sự vi phạm nguyên tắc ấy không khiến cho kỳ quan kia bớt phần kỳ vĩ. Tôi biết rằng Trái đất đang quay, và tôi quay cùng nó, và Saint-Martin-des-Champs cũng như cả Paris quay cùng tôi, và vậy là cùng nhau chúng ta quay tròn dưới Con lắc, mặt phẳng dao động của nó không bao giờ đổi hướng, bởi vì tít tắp trên kia, dọc theo đường nối dài vô hạn của sợi dây, vượt xa khỏi mái vòm nhà thờ, vươn tới tận những thiên hà xa xăm nhất, đang ngự trị Điểm Đứng Yên Duy Nhất trong vũ trụ, bất động vĩnh hằng.

Vậy nên không phải tôi đang dõi nhìn mặt đất này, mà là trời xanh, nơi điều bí ẩn bất dịch tuyệt đối được tụng ca. Con lắc kể với tôi rằng, trong khi mọi thứ đều chuyển động - Trái đất, Hệ mặt trời, tinh vân và hố đen, hết thảy con đàn cháu đống của Vụ Nổ Lớn - thì vẫn có một điểm luôn đứng yên: một cái trục, bu-lông hay cái móc mà vũ trụ có thể chuyển động quanh nó. Và thời khắc này tôi đang tham dự vào trải nghiệm tối cao ấy. Tôi cũng chuyển động cùng hết thảy, nhưng tôi có thể thấy đấng Độc tôn, Khối đá, lời cam đoan của Thiên Chúa, vầng sáng chói lóa không phải vật chất, không hình dáng, trọng lượng, số lượng hay chất lượng, không nhìn hay nghe, thứ mà ta không thể cảm nhận, không nằm trong không gian hay thời gian, không phải linh hồn, trí tuệ, tưởng tượng, ý niệm, con số, trật tự hay thước đo nào. Không cả bóng tối hay ánh sáng, không cả sai hay đúng.

Tôi sực tỉnh bởi cuộc trao đổi ơ hờ giữa một cậu chàng đeo kính và một cô nàng tiếc thay không đeo.

“Đây là Con lắc Foucault,” cậu chàng đang nói. “Được thử nghiệm lần đầu tiên trong một căn hầm vào năm 1851, rồi được trưng bày tại Viện bảo tồn và sau này là dưới mái vòm của điện Panthéon với một sợi kim loại dài sáu mươi bảy mét và một quả cầu nặng hai mươi tám kí lô. Kể từ năm 1855, nó được trưng bày ở đây, với phiên bản nhỏ hơn, treo vào cái lỗ ở giữa thanh xà kia.”

“Thế nó để làm gì? Cứ treo ở đó thôi?”

“Nó chứng minh rằng Trái đất quay. Vì điểm treo không dịch chuyển...”

“Vì sao nó lại không dịch chuyển?”

“Ừm, bởi vì một điểm... ý anh là cái điểm trung tâm ấy, điểm ở ngay chính giữa tất cả những điểm mà em thấy... nó là một điểm hình học; em không thể thấy nó bởi vì nó không có chiều kích, và nếu một thứ không có chiều kích thì nó không thể chuyển động được, không sang phải, cũng không sang trái, không lên không xuống. Vậy nên nó không quay cùng với Trái đất. Hiểu chưa? Nó thậm chí không thể tự quay quanh chính nó. Mà cũng không có ‘chính nó’ nốt.”

“Nhưng Trái đất quay cơ mà.”

“Trái đất quay, nhưng cái điểm đó thì không. Vậy thôi. Cứ nghe anh là được.”

“Thì kệ, đó là việc của Con lắc thôi.”

Đồ ngốc. Ngay trên đầu cô ta là điểm đứng yên duy nhất trong toàn vũ trụ, điểm nương náu độc nhất khỏi địa ngục của vô thường*, thế mà cô ta nghĩ rằng nó là việc của Con lắc, không phải của mình. Phút sau, cặp đôi bỏ đi - cậu chàng, được cuốn giáo khoa nào đó dạy dỗ đến cùn mòn hết thảy năng lực hoài nghi, còn cô nàng, trơ lì và vô cảm trước sự ly kỳ của vô cực, cả đôi đều thờ ơ trước sự diệu tuyệt của cuộc hạnh ngộ - hạnh ngộ đầu tiên và cũng là cuối cùng - với cái Độc tôn, cái Vô hạn*, cái Bất khả danh. Sao các người có thể sơ sẩy mà không phủ phục trước ban thờ chân lý tuyệt đối này?

Nguyên văn: Panta rei, xuất phát từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “mọi thứ đều trôi chảy”. Cụm từ này được triết gia nổi tiếng Hy Lạp Heraclitus sử dụng để diễn tả quan điểm biện chứng sơ khai của mình.

Nguyên văn: Ein-Sof; cái vô hạn thần thánh trong đạo Kabbalah của người Do Thái. Ein-Sof là nguồn gốc của vạn vật, đối ngược với Ein - hư vô.

Tôi dõi trông với cả niềm sùng kính lẫn khiếp sợ. Trong khoảnh khắc đó, tôi tin chắc rằng Jacopo Belbo đúng. Những gì anh ta bảo tôi về Con lắc mà tôi từng quy kết là ba hoa duy mỹ, là khối ung thư không hình dạng đang từ từ thành hình trong linh hồn anh ta, biến trò chơi thành đời thực mà chính anh ta không hay biết. Nhưng nếu Belbo đoán đúng về Con lắc, biết đâu tất cả phần còn lại cũng là sự thật: Kế hoạch, Âm mưu vũ trụ. Và trong trường hợp ấy, tôi đã đúng khi mò tới đây, vào đêm trước ngày hạ chí này. Jacopo Belbo không hề điên; chẳng qua là, qua trò chơi của mình, anh ta đã chạm được tới chân lý.

Nhưng thực tế là chẳng mất mấy thời gian để trải nghiệm về Thần thiêng* làm rối loạn tâm trí.

The numinous experience: thuật ngữ này bắt nguồn từ tiếng Latin numen có nghĩa là cái thần bí, thần tính. Trong Từ điển thuật ngữ Công giáo (Việt Nam), numinous là thần thiêng, linh thiêng, siêu trí. Có một số văn bản tôn giáo dùng với ý nghĩa “kính sợ”, “thể đáng kính sợ”.

Tôi bèn cố đổi hướng nhìn. Mắt tôi lướt cùng đường lượn khởi đi từ đầu các cột trụ xếp thành hình bán nguyệt và chạy dọc theo những gờ cong của mái vòm đi về phía chốt đỉnh, phản chiếu lại điều huyền bí của hình cung nhọn, cái giả tạo bất dịch tối thượng ấy, kẻ ngự trên sự trống rỗng khiến cho đám cột trụ tin rằng chúng đang đẩy những gờ cong vĩ đại đi lên còn những gờ cong lại tin rằng chúng đang đè đám cột trụ xuống, mái vòm vừa là tất cả vừa chẳng là gì, cùng lúc vừa là nhân cũng vừa là quả. Nhưng tôi nhận ra rằng bỏ qua Con lắc thả từ đỉnh vòm mà thưởng lãm riêng mình mái vòm kia thì chẳng khác gì say sưa với con suối thay vì hưởng mạch đầu nguồn.

Bục ca đoàn ở Saint-Martin-des-Champs tồn tại chỉ cốt để, theo Luật, Con lắc có thể tồn tại; và Con lắc tồn tại cốt để bục ca đoàn có thể tồn tại. Mi không thể thoát khỏi vô cực này bằng cách trốn chạy tới một vô cực khác, tôi tự nhủ; mi không thể thoát khỏi thiên khải về cái đồng nhất bằng cách ẩn náu trong ảo tưởng về cái đa tạp.

Vẫn không thể rời mắt khỏi chốt đỉnh vòm, tôi lùi lại, từng bước một, vì tôi đã học thuộc lòng lối đi trong mấy phút ở đây. Những con rùa kim loại khổng lồ xếp thành hàng trôi hai bên mình tôi, vừa đủ ấn tượng để ra dấu về sự hiển hiện của chúng ở rìa tầm nhìn của tôi. Trên lối đi giữa giáo đường dẫn ra cửa, tôi ngã ngửa người, và một lần nữa lũ chim tiền sử bằng dây thép cùng vải bạt mục nát đầy hăm dọa lại lù lù phủ bóng lên tôi, những con chuồn chuồn ma quỷ mà quyền năng bí ẩn nào đó đã treo lên trần giáo đường. Tôi nhìn chúng như các phép ẩn dụ khôn ngoan mà ý nghĩa vượt xa vỏ bọc giáo điều của mình. Một bầu đoàn côn trùng và bò sát từ kỷ Jura, biểu trưng của công cuộc di cư lên cạn dài dằng dặc mà Con lắc đang kể lại, nhắm thẳng vào tôi như những archon* thịnh nộ với cái mỏ dài của chim thủy tổ; đám phi cơ của Bréguet, Blériot, Esnault, và trực thăng của Dufaux.

Archon: những quyền năng siêu nhiên (nằm dưới Demiurge - Hóa công) cai trị thế giới được dùng trong thuyết Ngộ đạo (Gnosis).

Để vào Học viện Kỹ nghệ* ở Paris, trước tiên bạn sẽ qua một sân trong có từ thế kỷ 18, rồi bạn bước vào một nhà thờ cũ kỹ hiện nằm trong tổ hợp công trình ra đời sau này nhưng ban đầu nó vốn là một phần của tu viện. Bạn bước vào và choáng váng trước cái quỷ kế mà trong đó vũ trụ uy nghi siêu phàm của những đường cung nhọn thần thánh và chốn âm ty của những kẻ ngốn xăng nằm cận kề nhau.

Viện Bảo tồn các Ngành nghề và Kỹ nghệ, hay còn gọi là Học viện Nghệ thuật và Nghề nghiệp.

Trên mặt sàn trải ra một hàng phương tiện chuyên chở: xe đạp, xe không ngựa kéo, ô tô; còn trên mái lơ lửng những tàu bay. Một số còn nguyên vẹn dù đã tróc lở và xói mòn theo thời gian, trong pha lẫn nhá nhem giữa ánh sáng tự nhiên và đèn điện, trông chúng cơ hồ phủ một nước bóng cổ xưa như lớp véc ni trên cây vĩ cầm lâu đời. Những kẻ khác chỉ còn là bộ xương hay khung gầm, thanh truyền và tay quay, gióng lên nỗi đe dọa về những cực hình ngoài sức miêu tả của con người. Bạn mường tượng ra mình bị xích vào một cái trăn, thứ đang đâm sâu vào da thịt cho tới khi bạn chịu nhận tội.

Bên kia hàng dài những cỗ máy cổ lỗ này - một thời từng chuyển động, giờ nằm im lìm, linh hồn gỉ sét, chỉ còn là mẫu vật của cái niềm tự hào công nghệ đã quá tha thiết được phơi bày trước con mắt sùng mộ của khách tham quan - là bục ca đoàn, mạn trái được canh gác bởi mô hình thu nhỏ của tượng Nữ thần Tự do mà Bartholdi thiết kế cho một thế giới khác, còn mạn phải có tượng Pascal. Chính tại nơi đây, cả hai bên sườn Con lắc không ngừng dao động kia là cơn ác mộng của một nhà côn trùng học loạn trí - nào càng, hàm dưới, râu, đốt sán và cánh - một mộ địa của những thây ma cơ khí nom như chực sống lại bất cứ lúc nào - ma nhê tô, biến áp một pha, tuốc-bin, bộ biến mô, động cơ hơi nước, đi na mô. Phía sau, trên lối đi nhỏ nằm bên kia Con lắc, đang yên nghỉ những ngẫu tượng của Assyria*, và những ngẫu tượng Chaldea, Carthage, những thần Baal vĩ đại mà bụng từ lâu đã nóng đỏ sáng rực, lại thêm những Trinh nữ Nuremberg* trong lòng vẫn tua tủa đinh nhọn trần trụi: những thứ ấy từng một thời là động cơ máy bay. Giờ chúng kết thành một vòng hoa kinh hoàng của những hình nộm giả tạo nằm đó mà sùng bái Con lắc; như thể con cái của Lý trí và Khai sáng bị đày đứng gác vĩnh viễn cho biểu tượng tối thượng của Truyền thống và Minh triết.

Assyria: một dân tộc cổ đại đã biết dùng sắt từ rất sớm.

Một loại dụng cụ tra tấn có hình người rất tàn khốc của thời xưa.

Những vị khách buồn chán trả chín phơ-răng ở quầy hay vào cửa miễn phí trong ngày Chủ nhật có thể tin rằng các tôn ông thế kỷ 19 già cỗi - râu ngả vàng vì chất nicôtin, cổ áo nhàu nhĩ và nhờn mỡ, cà vạt đen, áo choàng dài bốc mùi bột thuốc lá, ngón tay ố axít, trí óc bị ăn mòn bởi nỗi ghen tị nghề nghiệp, những bóng ma nực cười gọi nhau là cher maître* - đã đặt những vật trưng bày này ở đây bởi một khát vọng thánh thiện là giáo dục và mua vui cho những tay trưởng giả và những kẻ đóng thuế cấp tiến, cũng để tán tụng hành trình tiến bộ nguy nga của nhân loại. Nhưng không: Saint-Martin-des-Champs khởi thủy là một tu viện, chỉ sau này mới biến thành bảo tàng của Cách mạng* và bản tóm lược tri thức bí hiểm. Đám tàu bay, những cỗ máy tự động, những bộ xương điện từ kia, đang tiếp tục cuộc đối thoại mà câu chữ vẫn còn chơi trò cút bắt với tôi.

Tiếng Pháp: Ngài kính mến.

Bảo tàng này được thành lập trong thời kỳ Cách mạng Pháp.

Tập catalog vờ vĩnh thông báo với tôi rằng công trình đáng nể này được các tôn ông trong Hội nghị Quốc ước khởi xướng, họ muốn đem đến cho công chúng một ngôi đền của mọi lĩnh vực kỹ nghệ và thương mại mà người ta có thể thăm thú được. Nhưng làm sao tôi tin nổi điều ấy khi mà bao từ ngữ từng được dùng để miêu tả công trình này lại chính là những từ mà Francis Bacon từng sử dụng để tả Ngôi nhà Solomon trong cuốn Tân Atlantis?

Phải chăng chỉ mình tôi - cùng với Jacopo Belbo và Diotallevi - đã đoán ra sự thật? Câu trả lời có lẽ sẽ đến vào đêm nay. Tôi phải tìm cách nán lại trong bảo tàng này qua giờ đóng cửa và đợi ở đây đến nửa đêm.

Họ sẽ tới đây bằng cách nào? Tôi hoàn toàn không biết. Có thể một vài đường ống trong hệ thống cống ngầm ở Paris nối viện bảo tàng với một điểm khác của thành phố, không chừng là gần đài tưởng niệm cổng Saint-Denis. Nhưng tôi chắc chắn là, nếu rời khỏi đây, tôi sẽ không có cách nào tìm được đường quay trở vào nữa. Tôi phải trốn đâu đó trong tòa nhà này.

Tôi cố gạt bỏ sức mê hoặc của nơi này và lạnh lùng quan sát gian giữa giáo đường. Giờ tôi không tìm kiếm sự hiển linh mà là thông tin. Tôi thầm mường tượng rằng trong các phòng khác thì sẽ khó mà tránh khỏi cặp mắt những tay bảo vệ đi kiểm tra vào giờ đóng cửa xem có tên trộm nào ẩn náu không. Tuy vậy, gian giữa chật ních xe cộ kia chính là nơi lý tưởng để qua đêm như một khách lữ hành: một người còn sống nấp trong một cái xác xe. Chúng tôi đã thử qua quá nhiều trò chơi nên chẳng có lý gì tôi không thử nốt trò này.

Can đảm lên, tôi tự nhủ: đừng có nghĩ đến Minh triết vào lúc này; hãy nhờ đến bàn tay của Khoa học.

nghĩ của anh chạy quá nhanh so với cổ tay tê nhức. Nếu anh đánh máy, các con chữ dính vào nhau, và lần nữa mình lại phải theo tốc độ tầm thường của cỗ máy, không phải tốc độ nơ ron thần kinh của mình. Nhưng với cậu ta (nó? cô ta?) những ng
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.