Con Lắc Foucault

Lượt đọc: 177 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
17

❊ ❊ ❊

Và thế là những hiệp sĩ dòng Đền đã biến mất cùng bí mật của họ, cái bí mật mà dưới bóng nó phập phồng một niềm khát khao ngời ngợi về cái thành phố trần tục ấy. Nhưng cái Trừu tượng mà những nỗ lực của họ thiết tha hướng đến thì vẫn tiếp tục sống, không thể chạm tới, ở những xứ sở không ai rõ... Và nguồn cảm hứng của nó, hơn một lần trong dòng chảy thời gian, đã đầy ắp những tâm hồn có thể tiếp nhận được nó.

− Victor Emile Michelet, Le secret de la Chevalerie, 1930, tr. 2

Người đàn ông ấy có khuôn mặt của thập niên 1940. Dựa theo những tờ tạp chí cũ tôi lục ra trong tầng hầm ở nhà, tất cả những người có khuôn mặt như vậy đều thuộc về thập niên bốn mươi. Hẳn cái đói khát thời chiến tranh đã làm hõm sâu những gò má và khiến những đôi mắt lơ mơ sốt. Đó là một bộ mặt mà tôi biết được từ những tấm hình chụp những đội xử bắn - ở cả hai phía. Vào thời ấy, những người đàn ông mang khuôn mặt như thế bắn giết lẫn nhau.

Vị khách của chúng tôi mặc com lê xanh da trời, sơ mi trắng, cà vạt màu ngọc trai xám và một cách bản năng tôi tự hỏi vì sao ông ta lại bận thường phục. Tóc ông ta, đen một cách không tự nhiên, chải lật thành hai dải từ hai bên thái dương ra sau, vuốt sáp bóng loáng, dù rất cẩn thận song vẫn phô bày một đỉnh đầu hói bóng lưỡng với vài sợi mỏng đều tăm tắp như dây điện báo vắt ngang qua, tạo thành một chữ V chính giữa trán. Khuôn mặt ông ta rám nắng, đầy vết tích, không chỉ là những nếp nhăn chằng chịt. Một vết sẹo mờ chạy ngang qua má trái từ môi tới tai, cắt một đường mỏng khó nhận ra qua nửa trái của bộ ria đen kiểu Adolphe Menjou. Da hẳn bị rách chưa tới một milimét và đã được khâu lại. Đấu kiếm? Hay vết đạn sượt qua?

Ông ta tự giới thiệu là đại tá Ardenti, chìa tay cho Belbo và chỉ gật đầu với tôi khi Belbo giới thiệu tôi là trợ lý. Ông ta ngồi xuống, bắt tréo chân, kéo nhẹ ống quần làm lộ ra đôi tất nâu ngang mắt cá.

“Đại tá... đang tại ngũ?” Belbo hỏi.

Ardenti phô đôi hàm giả loại tốt. “Đã nghỉ hưu, anh có thể coi như vậy. Hoặc nếu anh thích thì cứ coi là đang trong lực lượng dự bị. Trông tôi chưa già cả lắm nhưng thực tế lại là thế đó.”

“Nom bác không hề già,” Belbo nói.

“Tôi đã chiến đấu trong bốn cuộc chiến tranh.”

“Thế thì hẳn cuộc chiến đầu tiên của bác phải từ thời Garibaldi.”

“Không. Tôi là trung úy tình nguyện ở Ethiopia. Rồi thành đại úy, một lần nữa lại là quân tình nguyện, ở Tây Ban Nha. Rồi thăng đến cấp thiếu tá ở châu Phi cho tới khi chúng ta bỏ rơi các thuộc địa của mình. Mề đay Bạc. Đến năm 1943, ồ, chúng ta hãy cứ thẳng thắn với nhau rằng tôi lựa chọn bên thua cuộc và quả thực tôi đã mất tất cả, chỉ giữ được danh dự. Tôi gan góc bắt đầu tất cả lại từ đầu, trong đội ngũ. Lính lê dương. Trường đời nghiệt ngã. Trung sĩ vào năm 1946, đại tá vào năm 1958, với Massu. Rõ ràng tôi luôn chọn bên thua cuộc. Khi cánh tả của de Gaulle nắm quyền, tôi giải ngũ và chuyển sang Pháp sống. Tôi có mối giao tình với vài người Angeria nên tôi mở một công ty xuất nhập khẩu ở Marseilles. Lần này tôi đã chọn được bên thắng cuộc, hiển nhiên vậy, bởi vì giờ tôi đang hưởng một nguồn thu độc lập và có thể tận hiến đời mình cho sở thích cá nhân. Trong mấy năm vừa qua, tôi đã viết ra những kết quả nghiên cứu của mình. Đây...” Ông ta lôi từ chiếc cặp da một kẹp tài liệu to tướng mà lúc đó tôi thấy có vẻ là màu đỏ.

“Vậy,” Belbo nói, “một cuốn sách về hiệp sĩ dòng Đền phải không ạ?”

“Hiệp sĩ dòng Đền,” vị đại tá xác nhận. “Một niềm đam mê của tôi từ thời trai trẻ. Họ cũng là lính đánh thuê, vượt Địa Trung Hải để kiếm tìm vinh quang.”

“Signor Casaubon đây cũng đang nghiên cứu về hiệp sĩ dòng Đền,” Belbo nói. “Anh ấy rành đề tài này hơn tôi. Nhưng bác nói qua cho chúng tôi về cuốn sách đi ạ.”

“Các hiệp sĩ dòng Đền đã luôn hấp dẫn tôi. Một nhúm những tâm hồn phóng khoáng mang ánh sáng của châu Âu giữa những kẻ man rợ của hai Tripoli...”

“Đối thủ của các hiệp sĩ dòng Đền không hẳn là người man rợ,” tôi nhận xét.

“Anh đã bao giờ bị quân phản loạn ở Magreb bắt chưa?” ông ta hỏi lại tôi với vẻ mỉa mai nặng nề.

“Cháu nhớ là không ạ,” tôi nói.

Ông ta trừng mắt với tôi và tôi lấy làm mừng rằng mình chưa từng là lính dưới quyền ông ta. “Xin lỗi,” ông ta quay sang Belbo nói. “Tôi thuộc về một thế hệ khác.” Ông quay lại nhìn tôi khiêu khích. “Đây là một kiểu phiên tòa đấy à, hay là...”

“Chúng ta ở đây để nói về công trình của bác, đại tá,” Belbo nói. “Mời bác tả cho chúng tôi về nó ạ.”

“Tôi muốn lập tức làm rõ một điều,” viên đại tá đặt tay lên kẹp tài liệu. “Tôi đã sẵn sàng chịu chi phí xuất bản. Các anh sẽ không phải bỏ ra đồng nào. Nếu các anh muốn lời giới thiệu từ giới học thuật thì tôi cũng sẽ cung cấp. Mới hai giờ trước tôi vừa gặp một chuyên gia trong lĩnh vực này, ngài ấy từ Paris bay gấp tới đây để gặp tôi. Ngài ấy có thể cho ta một lời giới thiệu có sức nặng...” Ông ta lường trước câu hỏi của Belbo và làm một cử chỉ tỏ ý rằng vào lúc này tốt nhất chưa nên bàn tới tên tuổi vị kia, đó là một vấn đề nhạy cảm.

“Tiến sĩ Belbo,” ông ta nói, “những trang viết này chứa đựng mọi yếu tố của một câu chuyện. Một câu chuyện có thực, và là câu chuyện vô cùng khác thường. Hay hơn bất cứ truyện kinh dị Mỹ nào. Tôi đã khám phá ra một điều - một điều rất quan trọng - nhưng đấy chỉ mới là khởi đầu thôi. Tôi muốn kể với thế giới điều tôi biết, hy vọng rằng sẽ có ai đó ngoài kia có thể ghép phần còn lại của tấm xếp hình này - một người nào đó có thể đọc cuốn sách mà xuất đầu lộ diện. Nói cách khác, đây cũng gần như một dạng bịt mắt dò đường. Và thời gian là vấn đề cốt yếu. Người duy nhất biết điều mà tôi biết giờ có lẽ đã bị giết, chính là để bịt miệng. Nhưng nếu tôi có thể đưa những gì mình biết đến với hai ngàn độc giả thì người ta chẳng còn lý do gì để thử tiêu tôi nữa.” Ông ta ngừng lại. “Hai người có biết gì về cuộc bắt bớ những hiệp sĩ dòng Đền không?”

“Signor Casaubon gần đây mới cho tôi biết về chuyện đó, và tôi bị choáng trước thực tế rằng họ chẳng có phản kháng nào hết và các hiệp sĩ dòng Đền bị bắt một cách bất ngờ.”

Vị đại tá nở nụ cười chiếu cố. “Đúng. Nhưng thật phi lý khi nghĩ rằng những người mạnh đến nỗi vua Pháp cũng phải sợ lại không thể nhìn ra có vài thằng nhãi ranh đang xúi giục nhà vua và nhà vua đang xúi giục Giáo hoàng. Thật phi lý! Điều đó gợi ý cho ta rằng hẳn phải có một kế hoạch. Một kế hoạch siêu phàm. Giả dụ như các hiệp sĩ dòng Đền có một kế hoạch chinh phục thế giới và họ biết bí mật của một nguồn sức mạnh khổng lồ, một bí mật mà để bảo tồn nó thì cũng đáng để hy sinh cả dòng Đền ở Paris cũng như của các trang ấp rải rác khắp vương quốc, cả ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh và Ý, các pháo đài ở Đất Thánh, của cải vật chất - hết thảy mọi thứ. Philip Tuấn tú nghi ngờ điều này. Nếu không thì vì sao ông ta lại mở một cuộc khủng bố làm dơ bẩn bông hoa đẹp của hiệp sĩ Pháp? Dòng Đền nhận ra rằng nhà vua nghi ngờ và ông ta sẽ cố hủy diệt họ. Kháng cự trực tiếp cũng vô ích, kế hoạch cần thời gian: kho báu (hoặc cái gì đấy, bất kể là gì) cần phải được tìm ra, hoặc nó cần phải được khai thác từ từ. Và ban trị sự bí mật của dòng Đền mà giờ ai cũng biết là tồn tại-”

“Ai cũng biết?”

“Tất nhiên. Làm sao có thể tưởng tượng được rằng một dòng tu quyền lực đến vậy có thể tồn tại lâu dài như vậy mà không có ban trị sự bí mật.”

“Lập luận của bác rất hoàn hảo,” Belbo nói và liếc xéo tôi.

Vị đại tá tiếp tục. “Vị đại thủ lĩnh cũng nằm trong ban trị sự bí mật, nhưng ông ta ắt chỉ là bình phong để che mắt những kẻ bên ngoài. Trong La Chevalerie et les aspects secrets de l’histoire, Gaulthier Walther bảo rằng phải đến tận năm 2000 kế hoạch chinh phục thế giới của các hiệp sĩ dòng Đền rốt cuộc mới được thực hiện. Các hiệp sĩ dòng Đền đã quyết định chuyển sang hoạt động ngầm, điều đó có nghĩa là dòng tu phải xem như đã chết. Họ hy sinh bản thân mình, đó chính là điều họ đã làm! Trong đó có cả vị đại thủ lĩnh. Một số người mặc cho kẻ khác giết hại, có lẽ dòng tu đã tổ chức rút thăm để chọn. Những người khác thì ngừng phản kháng, trà trộn làm thường dân. Điều gì đã xảy đến với những người có thứ bậc thấp hơn, các thầy trợ sĩ, thợ mộc, thợ kính? Đó là cách mà Hội Tam điểm ra đời và sau này phân tán rộng khắp thế giới như tất cả mọi người đều biết. Nhưng ở nước Anh, mọi việc diễn ra theo cách khác. Nhà vua chống lại áp lực của Giáo hoàng và trợ cấp cho các hiệp sĩ dòng Đền trốn đi. Họ ngoan ngoãn sống trong những dinh thự rộng lớn của dòng tu. Ngoan ngoãn - anh có tin nổi không? Tôi thì không. Ở Tây Ban Nha dòng tu đã thay tên đổi họ thành dòng Montesa. Thưa nhị vị, đó là những người từng có thể ra lệnh cho cả một ông vua; họ cũng nắm giữ quá nhiều giấy nợ của ông ta đến nỗi chỉ cần mất một tuần là đủ khiến ông ta phá sản. Chẳng hạn như vua Bồ đã thỏa thuận với các hiệp sĩ. Chúng ta hãy xử lý chuyện này theo cách như vậy đi, các bạn thân mến của tôi, ông ta nói: các anh đừng tự nhận là hiệp sĩ dòng Đền nữa, đổi tên thành hiệp sĩ của Chúa Jesus rồi thì tôi sẽ rất vui lòng đón chào. Ở Đức có rất ít vụ xét xử. Sự thủ tiêu dòng tu thuần túy chỉ có tính hình thức, và dù gì đi nữa cũng có một dòng tu anh em, dòng hiệp sĩ Giéc-manh, lúc bấy giờ họ không chỉ là một nhà nước nằm trong một nhà nước: họ chính là nhà nước, đã giành được một lãnh thổ rộng lớn không kém gì những quốc gia giờ đang nằm dưới gót nước Nga, và họ tiếp tục mở rộng cho tới cuối thế kỷ 15 khi quân Mông cổ tới. Nhưng đó là chuyện khác, vì quân Mông cổ ngay cả bây giờ vẫn còn lấp ló ngoài cổng nhà ta. Nhưng tôi không nên lạc đề.”

“Vâng, chúng ta đừng lan man lạc đề,” Belbo nói.

“Như tất cả mọi người đều biết, hai ngày trước khi Philip Tuấn tú ban hành lệnh bắt giữ và một tháng trước khi nó được thực thi, một cỗ xe bò chở rơm đã rời lãnh thổ của dòng Đền tới một nơi không ai biết. Chính nhà tiên tri Nostradamus cũng đã ám chỉ tới chuyện này ở một trong những Tập trăm bài...” Ông ta nhìn xuống bản thảo để tìm câu trích dẫn:

Sous la pasture d’animaux ruminant

par eux conduits au ventre herbipolique

soldats caches, les armes bruit menant...

“Cái xe bò đó chỉ là truyền thuyết,” tôi nói. “Và cháu khó mà coi Nostradamus có uy tín gì trong những chuyện liên quan tới sự thật lịch sử.”

“Những người già hơn anh, Signor Casaubon, đã đặt lòng tin ở nhiều lời tiên tri của Nostradamus. Không phải là tôi ngây thơ đến nỗi hiểu câu chuyện chiếc xe bò theo nghĩa đen. Nó là một biểu tượng - một biểu tượng về sự thật rõ ràng, chắc chắn rằng Jacques de Molay, đoán trước được mình sắp bị bắt, đã chuyển quyền lãnh đạo dòng tu cũng như những tri thức bí mật của nó cho một người cháu, bá tước de Beaujeu, người trở thành thủ lĩnh của dòng Đền giờ đã chuyển vào hoạt động bí mật.”

“Có tài liệu nào xác nhận những điều ấy không ạ?”

“Chính sử được viết bởi kẻ thắng cuộc,” vị đại tá cất lời với nụ cười cay đắng. “Theo chính sử, những người như tôi không tồn tại. Không, đằng sau câu chuyện về chiếc xe bò ẩn chứa điều khác. Lực lượng nòng cốt bí mật của dòng Đền được chuyển tới một địa điểm kín đáo, và từ đó họ bắt đầu phát triển mạng lưới ngầm của mình. Chi tiết hiển nhiên này là điểm khởi đầu của tôi. Trong nhiều năm - thậm chí từ trước chiến tranh - tôi đã luôn tự hỏi những thầy tu anh hùng ấy có thể biến đi đâu. Khi lui về sống đời riêng, cuối cùng tôi đã quyết định tìm kiếm một dấu vết. Bởi vì cuộc trốn chạy của chiếc xe bò diễn ra ở Pháp nên Pháp là nơi tôi nên tìm kiếm nơi tập hợp ban đầu của nhóm nòng cốt bí mật kia. Nhưng là nơi nào ở nước Pháp?”

Ông ta có cảm quan sân khấu. Tôi và Belbo há hốc miệng nghe. Chúng tôi không thể tìm lời nào hay hơn là “Ồ, vậy thì ở nơi nào?”

“Tôi sẽ cho các anh biết ngay đây. Các hiệp sĩ dòng Đền sẽ trốn ở đâu? Hugues de Payns* từ đâu tới? Champagne, gần Troyes. Và vào thời điểm dòng Đền được thành lập, xứ Champagne nằm dưới quyền của Hugues de Champagne, người chỉ mấy năm sau đó đã đến Jerusalem gia nhập dòng Đền. Khi trở về nhà, ông ta hình như đi lại với tu viện trưởng xứ Citeaux và giúp vị này khởi xướng việc nghiên cứu cũng như dịch một số văn bản tiếng Hebrew trong tu viện. Hãy nghĩ về điều này: những tu sĩ áo trắng dòng Biển Đức - những tu sĩ Biển Đức của thánh Bernard - cũng mời các giáo sĩ Do Thái từ vùng thượng Burgundy tới Citeaux để nghiên cứu bất cứ văn bản nào mà Hugues đã tìm thấy ở Palestine. Hugues thậm chí tặng cho các tu sĩ của thánh Bernard một khu rừng ở Bar-sur-Aube, nơi về sau người ta dựng lên tu viện Clairvaux. Và thánh Bernard đã làm gì?”

Hugues de Payns (1070-1136) là người đồng sáng lập và cũng là Đại thủ lĩnh đầu tiên của dòng Đền.

“Ông ta trở thành chiến sĩ bênh vực dòng Đền,” tôi đáp.

“Nhưng vì sao? Các anh có biết rằng ông ta đã khiến dòng Đền thậm chí còn hùng mạnh hơn dòng Biển Đức không? Rằng ông ta đã cấm tu sĩ dòng Biển Đức nhận của biếu tặng là đất đai, nhà cửa và buộc họ thay vào đó trao lại đất đai nhà cửa cho dòng Đền? Các anh đã bao giờ thấy Rừng Phương Đông gần Troyes chưa? Nó trải rộng mênh mông, hết trang ấp này nối tiếp trang ấp khác. Và trong lúc ấy, các anh biết đấy, những hiệp sĩ ở Palestine không đánh đấm gì sất. Họ đã sinh sống trong Ngôi đền, kết giao với người Hồi thay vì giết người Hồi. Họ giao du với những nhà thần bí Hồi giáo. Nói cách khác, thánh Bernard, với ủng hộ tài chính của những bá tước vùng Champagne, xây dựng một dòng tu ở Đất Thánh có liên lạc với những giáo phái bí mật của người Ả Rập và Do Thái. Một ban trị sự bí mật điều hành các cuộc thánh chiến với nỗ lực giữ cho dòng phát triển chứ không phải là ngược lại và đi đúng định hướng ban đầu. Nó lập nên một mạng lưới quyền lực nằm ngoài sức kiểm soát của triều đình. Tôi là con người hành động, không phải người ngồi đó vùi đầu vào sách vở. Thay vì thêu dệt ra những phỏng đoán vô nghĩa, tôi làm điều mà tất cả những học giả dài dòng kia chưa từng làm bao giờ: tôi tới nơi phát tích của các hiệp sĩ dòng Đền, nơi từng là căn cứ của họ trong suốt hai thế kỷ, quê nhà của họ, nơi mà họ có thể sống như cá trong nước...”

“Chủ tịch Mao nói rằng các nhà cách mạng phải sống giữa nhân dân như cá sống trong nước,” tôi nói.

“Mừng cho ông chủ tịch của anh. Nhưng các hiệp sĩ dòng Đền đang chuẩn bị cho một cuộc cách mạng vĩ đại hơn nhiều cái cuộc cách mạng của đám cộng sản tết tóc đuôi sam ấy của các anh.”

“Họ đâu còn tết tóc đuôi sam nữa.”

“Không ư? Ồ, quá buồn cho họ. Như tôi đang nói đấy, các hiệp sĩ dòng Đền hẳn phải kiếm tìm nơi ẩn nấp ở Champagne. Payns? Troyes? Rừng Phương Đông? Không. Payns khi ấy và tới ngày nay vẫn là một ngôi làng bé tí. Vào thời ấy, nó có đến một pháo đài là cùng. Troyes là một thành phố: quá nhiều người của nhà vua ở đó. Rừng, nơi mà các hiệp sĩ dòng Đền sở hữu, sẽ là điểm đầu tiên mà lính triều đình tìm tới. Và nhân tiện chúng có làm thế thật. Không, tôi tự nhủ với bản thân, địa điểm hợp lý duy nhất là Provins.”

nghĩ của anh chạy quá nhanh so với cổ tay tê nhức. Nếu anh đánh máy, các con chữ dính vào nhau, và lần nữa mình lại phải theo tốc độ tầm thường của cỗ máy, không phải tốc độ nơ ron thần kinh của mình. Nhưng với cậu ta (nó? cô ta?) những ng
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.