Sauvez la faible Aischa des vertiges de Nahash, sauvez la plaintive Héva des mirages de la sensibilité, et que les Khérubs me gardent.
− Josephin Péladan, Comment on devient Fee,
Paris, Chamuel, 1893, tr. XIII
Khi đang tiến bước trong rừng rậm của những sự tương đồng, tôi nhận được một lá thư của Belbo.
Casaubon thân mến,
Cho tới tận hôm nọ tôi mới biết anh đã chuyển tới Brazil rồi. Tôi hoàn toàn mất liên lạc, thậm chí không biết rằng anh đã tốt nghiệp (xin chúc mừng). Dù sao, có một người ở Pilade cho tôi tọa độ của anh và tôi nghĩ rằng sẽ là ý hay nếu cập nhật với anh một số tiến triển mới trong vụ việc đại tá Ardenti xúi quẩy kia. Đã hơn hai năm rồi, tôi biết, và một lần nữa tôi phải xin lỗi: tôi là người sáng hôm đó kéo anh vào rắc rối này dù không hề cố ý.
Tôi đã gần như quên mất toàn bộ câu chuyện khó chịu kia, nhưng hai tuần trước tôi lái xe loanh quanh ở khu Montefeltro và vô tình tới pháo đài San Leo. Vào thế kỷ 18, có vẻ như vậy, vùng này nằm dưới quyền cai trị của Giáo hoàng và ông ta đã cầm tù Cagliostro* ở đây, trong một xà lim không có cửa ra vào đúng nghĩa (anh vào đó, lần đầu và cũng là lần cuối, qua một cái cửa lật ở trên trần), chỉ có một cửa sổ nhỏ mà từ đó thú duy nhất người tù trông thấy được là hai nhà thờ của làng. Tôi đã thấy một bó hồng trên cái bệ nơi Cagliostro từng ngả lưng và qua đời, tôi cũng được nghe kể rằng nhiều người mộ đạo vẫn hành hương tới địa điểm tử vì đạo của Cagliostro này. Trong số những người hành hương chuyên cần nhất có các thành viên của Picatrix, một nhóm sinh viên Milan theo thuyết huyền bí. Họ xuất bản một tờ tạp chí với rất nhiều tưởng tượng vớ vẩn có tên là Picatrix.
Bá tước Alessandro di Cagliostro (1743-1795) là tên giả của nhà huyền bí, nhà thám hiểm Giuseppe Balsamo. Ngày 27/12/1789, ông bị Tòa án Dị giáo bắt và giam cầm ở Castel Sant’Angelo. Không lâu sau đó, ông bị tuyên án tử hình với tội danh là Hội viên Hội Tam điểm. Tuy nhiên, Giáo hoàng đã sửa lại bản án thành cầm tù chung thân tại Castel Sant’Angelo. Sau khi cố gắng vượt ngục, ông bị chuyển tới giam giữ tại pháo đài San Leo và chẳng bao lâu sau thì qua đời.
Anh biết tôi hiếu kỳ đến chừng nào với những sự lạ này. Vậy nên khi quay lại Milan tôi đã mua một số tạp chí Picatrix, từ đó tôi biết được rằng vài ngày tới người ta sẽ tổ chức một cuộc gọi hồn Cagliostro. Tôi liền đi.
Tường treo những dải băng rôn phủ kín dấu hiệu Kabbalah, rất nhiều chim cú đủ kiểu, bọ hung và cò quăm, những vị thần thánh phương Đông không rõ nguồn gốc. Gần bức tường phía sau có một đài cao, quanh sân khấu là hàng đuốc rừng rực cháy được đỡ bằng những súc cây thô, ở phía sau là một bàn thờ với tấm trang trí hình tam giác và tượng các thần Isis, Osiris. Vây tròn khắp căn phòng là một hàng những hình thần Anubis và có một bức chân dung Cagliostro (đó khó có thể là ai khác, phải không?), một tượng xác ướp mạ vàng theo mẫu Cheops, hai chân nến năm nhánh, một chiếc cồng được đỡ bởi hai con rắn đang chồm lên, trên bục diễn thuyết, một bục giảng kinh phủ vải trúc bâu in chữ tượng hình, và hai vương miện, hai giá ba chân, một quan tài đá nhỏ dễ di chuyển, một ngai vàng, một chiếc phô tơi giả thế kỷ mười bảy, bốn chiếc ghế lệch bộ hợp với tiệc thết đãi tay cảnh sát trưởng Nottingham*, rồi nến cây, dây nến, nến Tạ ơn, tất cả bập bùng đầy ma mị.
Nhân vật phản diện trong truyền thuyết về Robin Hood, là một trong những kẻ thù của Robin Hood.
Dầu sao đi nữa, chúng ta hãy tiếp tục với câu chuyện: bảy lễ sinh bận áo thầy tu màu đỏ cầm đuốc tiến vào, theo sau là chủ lễ, hiển nhiên là người đứng đầu Picatrix - anh ta vui hưởng cái tên rất phổ thông là Brambilla - bận áo lễ hai màu hồng và ô liu. Theo sau chủ lễ là một tín đồ mới, hay thanh đồng, và sáu người giúp lễ bận áo trắng, tất cả đều nom giống diễn viên Ninetto Davoli, nhưng đầu đội infula*, của Chúa, nếu anh nhớ lại các nhà thơ của chúng ta.
Một trong hai mảnh cứng trên chiếc mũ mitra (là chiếc mũ các đức Giáo hoàng, hồng y, viện phụ và giám mục thuộc nghi lễ Latin đội khi cử hành phụng vụ. Đó là một chiếc mũ gồm hai mảnh cứng ghép lại, được làm bằng chất liệu vải lụa hoặc vải len, thường được trang trí cầu kỳ bằng những đường riềm vàng, gắn lại với nhau bằng một mảnh vải mềm mại, để có thể xếp gấp lại với nhau. Chiếc mũ này thường được gắn bằng hai dây vải nhỏ rủ xuống phía sau lưng).
Brambilla đội lên đầu một vương miện hình bán nguyệt, nâng một thanh gươm tế lên, vẽ những biểu tượng ma thuật lên đài cao để vời về nhiều thiên thần có tên kết thúc bằng “el”. Đến đây tôi lại mơ hồ nhớ tới những thần chú giải Xê-mít trong mật thư của Ingolf, nhưng chỉ trong một khắc thôi, bởi vì tôi lập tức bị phân tâm bởi một điều bất thường. Những micrô trên bệ nối với một bộ dò sóng đáng lẽ phải bắt những sóng ngẫu nhiên trong không gian nhưng hẳn là người điều khiển đã bắt nhầm bởi vì ban đầu chúng tôi nghe thấy tiếng nhạc disco và rồi thì đài Matxcơva chen vào. Brambilla mở chiếc quách, lấy một cuốn phù chú ra, khua một bình hương và kêu lên, “Lạy Chúa Con, nước Cha trị đến.” Hành động ấy dường như đạt được hiệu quả gì đó bởi vì đài Matxcova tắt ngóm, nhưng rồi, trong khoảnh khắc thần bí nhất, nó lại vang lên, với một bài Cô-dắc lè nhè, loại mà họ vừa nhảy vừa ngoáy mông cọ xuống đất ấy. Brambilla viện tới cả Clavicula Salomonis*, mạo hiểm tính mạng đốt một tấm giấy da trên một cây đuốc, vời về vài vị thần thánh của ngôi đền ở Karnak, nóng nảy đòi được đặt trên khối đá lập phương của Yesod, và một mực vời gọi “Người quen 39”, người hẳn phải khá quen thuộc với khán giả bởi vì một cơn run rẩy chạy qua khắp khán phòng. Một phụ nữ ngất đi, mắt cô ta đảo quanh cho tới khi chỉ còn lòng trắng. Mọi người gọi bác sĩ nhưng Brambilla gọi đến Quyền năng của Bùa sao năm cánh, và tín đồ mới kia, trong khi đó đã ngồi yên trên chiếc phô tơi rởm, bắt đầu quằn quại và gào rú. Brambilla đứng chờn vờn trước cô gái, sốt sắng đặt câu hỏi cho cô ta, hay đúng hơn là Người quen 39, người mà tôi đột nhiên nhận ra chính là Cagliostro.
Cuốn sách phép thuật được cho là của vua Solomon. Nó ước chừng có niên đại vào khoảng thế kỷ 14, 15, là một điển hình của ma thuật thời Phục hưng.
Và giờ đến phần khó chịu, bởi vì cô gái đáng thương kia có vẻ như đang đau đón thực sự: cô ta run lên, đổ mồ hôi, gào rú, và bắt đầu nói những lời không đầu không đuôi về một ngôi đền và một cái cửa phải được mở ra. Cô ta nói một cơn lốc sức mạnh đang được tạo ra và chúng ta phải trèo lên Đại kim tự tháp. Brambilla lúc này đang đứng trên đài trở nên kích động, anh ta đánh cồng và rống gọi Isis. Tôi đang hứng thú theo dõi màn trình diễn thì nghe thấy cô gái, vẫn thở dài và rên rỉ, nói về sáu dấu niêm phong, một trăm hai mươi năm chờ đợi và ba mươi sáu người vô hình. Giờ thì không thể nghi ngờ gì nữa: cô ta đang nói về mật thư ở Provins. Tôi lắng tai đợi nghe tiếp nhưng cô gái sụp xuống, kiệt sức. Brambilla vuốt trán cô ta, dùng bình hương ban phước cho những người tham dự và tuyên bố lễ đã xong.
Tôi thấy có phần kính sợ và còn nóng lòng muốn tìm hiểu sự việc. Tôi cố tiếp cận cô gái, bấy giờ cô đã tỉnh, khoác vào chiếc áo choàng lôi thôi và đang đi ra bằng cửa sau. Tôi sắp chạm được vào vai cô ta thì cảm thấy có ai đó nắm cánh tay mình. Tôi quay lại thì thấy đó là thanh tra De Angelis, anh ta bảo tôi buông cô gái ra: anh ta biết chỗ tìm cô ta. Anh ta rủ tôi đi uống cà phê. Tôi đi theo, cứ như bị anh ta bắt quả tang đang làm gì sai trái, mà trên phương diện nào đó thì đúng thế thật. Ở quán cà phê, anh ta hỏi tôi đang làm gì ở đó và vì sao tôi cố tiếp cận cô gái. Điều này chọc tức tôi. Chúng ta đâu có sống dưới chế độ độc tài, tôi nói. Tôi có thể tiếp cận bất kỳ ai tôi muốn. Anh ta xin lỗi và giải thích rằng tuy việc điều tra vụ Ardenti không phải ưu tiên, song họ đã thử tái dựng lại hai ngày ông ta ở Milan trước buổi gặp ở Garamond và với tay Rakosky bí ẩn kia. Một năm sau khi Ardenti mất tích, cảnh sát đã tìm ra, hoàn toàn ăn may, rằng có ai đó đã thấy ông ta rời văn phòng của Picatrix cùng với cô đồng kia, người mà tình cờ De Angelis cũng để trong tầm ngắm bởi vì cô ta chung sống với một người không xa lạ với lực lượng chống tội phạm ma túy.
Tôi bảo anh ta rằng tôi tình cờ có mặt ở đó thôi và tôi bị choáng khi nghe cô gái thốt ra một câu về sáu dấu niêm phong mà tôi cũng từng nghe viên đại tá nói. Anh ta nhận xét rằng thật lạ lùng khi tôi có thể nhớ rõ tới vậy điều mà viên đại tá nói sau hai năm, trong khi trước đó tôi từng khai ấy chỉ là một câu chuyện mơ hồ về kho báu của các hiệp sĩ dòng Đền. Tôi đáp rằng viên đại tá quả thực đã nói rằng kho báu được bảo vệ bởi sáu dấu niêm phong gì đó, nhưng tôi không coi đó là một chi tiết quan trọng bởi vì tất cả các kho báu đều được bảo vệ bởi các dấu niêm phong, thường là bảy, và bởi những con bọ vàng. Anh ta nhận xét rằng nếu tất cả các kho báu đều được bảo vệ bởi những con bọ vàng thì anh ta không thể hiểu vì sao điều cô gái nói lại ) khiến tôi choáng. Tôi yêu cầu anh ta thôi đừng đối xử với tôi như một kẻ tình nghi nữa, thế là anh ta cười và đổi giọng. Anh ta nói anh không thấy lạ rằng cô gái đã nói như thế, bởi vì Ardenti hẳn đã phải kể với cô ta những chuyện hoang đường của ông ta, có lẽ cô dùng cô ta để thiết lập liên hệ tâm linh nào đó, như trong những giới ấy người ta hay nói. Một cô đồng, anh ta nói tiếp, cũng từa tựa cái bọt biển, một tấm phim kính với một vô thức hẳn phải giống công viên giải trí. Chắc đám Picatrix quanh năm suốt tháng tẩy não cô ta nên chẳng có gì lạ rằng một khi rơi vào trạng thái nhập đồng - bởi vì cô gái này thành thật, không giả bộ và đầu óc có gì đó không bình thường - thì cô ta sẽ nhìn thấy những hình ảnh đã từ lâu in sâu trong tâm trí cô ta.
Nhưng hai ngày sau đó De Angelis ghé qua văn phòng tôi để báo một sự lạ: hôm sau buổi lễ anh ta tới gặp cô gái thì cô ta đã biến mất. Hàng xóm nói không nhìn thấy cô ta kể từ buổi chiều trước buổi tối diễn ra lễ kia. Lòng đầy nghi ngờ, anh ta vào căn hộ và thấy nó tan hoang: ga trải giường nằm dưới sàn, gối dồn vào một góc, những tờ báo bị xéo nát, những ngăn kéo trống không. Không có dấu vết nào của cô ta. Hoặc bạn trai cô ta hay bạn cùng phòng hoặc bất cứ danh từ nào anh muốn dùng để gọi hắn.
Anh ta bảo tôi nếu tôi biết gì nhiều hơn thì tốt nhất tôi nên nói ra, bởi vì thật lạ lùng khi cô gái biến mất như vậy, và anh ta chỉ có thể nghĩ tới hai lý do: hoặc có ai đó nhận ra rằng De Angelis theo dõi cô ta, hoặc bởi Jacopo Belbo định nói chuyện với cô ta. Do vậy những điều mà cô ta đã nói trong cơn nhập đồng trước đó có thể dính dáng tới chuyện gì nghiêm trọng, một việc còn chưa được hoàn thành. Họ - dù có là ai đi nữa - trước đó chưa nhận ra rằng cô ta biết quá nhiều. “Bây giờ giả dụ như một đồng nghiệp nào đó của tôi lại nảy ra ý tưởng rằng anh đã giết cô ta,” De Angelis nói thêm với một nụ cười đẹp đẽ. “Anh có thể thấy chúng ta cộng tác với nhau thì chỉ có lợi thôi.” Tôi suýt mất hết bình tĩnh, và có Chúa chứng giám, tôi không thường như vậy. Tôi hỏi anh ta vì sao một người không có mặt ở nhà lại được coi là đã bị giết, thì anh ta hỏi liệu tôi có nhớ chuyện gì đã xảy ra với viên đại tá không. Tôi bảo anh ta rằng nếu cô gái đã bị giết, hoặc bị bắt cóc, hẳn chuyện ấy phải xảy ra vào tối hôm đó, khi tôi đang ngồi với anh ta. Anh ta hỏi làm sao tôi có thể chắc chắn điều ấy, bởi vì chúng tôi chia tay nhau vào khoảng nửa đêm và anh ta không có cách nào biết được chuyện gì xảy ra sau đó. Tôi hỏi anh ta rằng anh ta có nghiêm túc không, anh ta liền trả lời rằng tôi đã bao giờ đọc truyện trinh thám chưa? Tôi không biết rằng kẻ tình nghi số một luôn là kẻ không có chứng cứ ngoại phạm chói sáng như Hiroshima sao? Anh ta nói rằng anh ta sẽ đi đầu xuống đất nếu tôi có chứng cứ ngoại phạm trong khoảng thời gian từ một giờ đến sáng bảnh hôm sau.
Tôi còn có thể nói gì đây, Casaubon? Có lẽ tôi nên kể sự thật với anh ta, nhưng ở quê tôi, người ta bướng bỉnh và không bao giờ lùi bước.
Tôi viết thư cho anh bởi vì nếu tôi tìm thấy địa chỉ của anh thì De Angelis cũng thừa sức tìm thấy thôi. Nếu anh ta liên lạc với anh, ít nhất anh biết con đường mà tôi đã chọn. Nhưng bởi vì có vẻ như đó không phải là con đường thẳng lắm, hãy cứ kể với anh ta mọi chuyện nếu anh muốn vậy. Tôi thấy hổ thẹn, tôi xin lỗi. Tôi cảm thấy như một kẻ đồng lõa vậy. Dù đã cố đến đâu đi nữa, xem ra tôi không thể tìm thấy cách biện hộ thanh cao nào cho bản thân. Hẳn là xuất phát từ nguồn gốc bần cố nông của tôi, ở cái xứ của tôi trên đất nước này, chúng tôi là một lũ ích kỷ.
Toàn bộ sự việc, như người Đức thường nói, thật là unheimlich*.
Có nghĩa là “đáng sợ”.
Thân ái,
Jacopo Belbo