Đại Tần Đế Quốc 4: Dương Mưu Xuân Thu

Lượt đọc: 448 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tiết Thứ Năm
Hang Động Viễn Cổ Ở Phế Tích Phong Kinh

❊ ❊ ❊

Doanh Trụ đang ôm một cuộn trúc giản ngẩn người, chóp mũi thoảng lại một làn dị hương làm say đắm lòng người.

“Cả ngày rúc trong thư phòng, nào biết vất vả thế nào.” Một đôi tay ngọc dịu dàng ôm chầm lấy. Doanh Trụ vỗ vỗ đôi bàn tay nhỏ nhắn trước ngực, thở dài một tiếng: “Ta già sắp đến nơi rồi, lời nói ra cũng lú lẫn rồi! Ngươi nói chiếu thư của phụ vương ta sao lại không thể suy đoán ra được?” Người phụ nữ đằng sau khúc khích cười: “Chẳng biết phu nhân có thể xem được không?” Doanh Trụ không khỏi mỉm cười, vươn tay kéo người phụ nữ vào lòng, dùng trúc giản nhẹ nhàng vỗ lên gò má nàng: “Một bận trong ngục mà đã biết quy củ rồi sao? Phạt nàng đã đọc rồi đấy.” Tiện tay nhét luôn cuộn trúc giản vào bộ ngực trắng ngần căng phồng của người phụ nữ. Người phụ nữ cười khúc khích: “Khinh mờ vương mệnh đấy, có biết không?” Doanh Trụ thò cả hai tay vào trong y phục trước ngực người phụ nữ day nắn, cười nói: “Ăn uống nam nữ là bản tính, nào can gì đến vương đạo! Mau xem đi! Không nhìn ra manh mối sẽ bị phạt!”

Hoa Dương phu nhân cười khúc khích rút trúc giản từ trước ngực ra trải rộng, ánh mắt quét qua liền nhảy cất lên vỗ tay cười lớn: “Chuyện tốt như thế sao không nói sớm? Đáng phạt!” Doanh Trụ uể oải cười: “Việc lập đích đã rõ từ lâu, có gì mà nói chứ?” “Mau rõ với chả sớm rõ! Đúng là đồ ngốc nhà chàng!” Hoa Dương phu nhân dùng trúc giản liên tục điểm lên ngọc quan của Doanh Trụ, “Đó là mật chiếu, đây là minh chiếu! Đó là Tứ xa thứ trưởng làm việc, đây là phụ mẫu làm việc! Đó là vô hạn định, đây là đến thu phân liền hành sự! Chàng thật sự không đong đếm được nặng nhẹ nữa rồi sao?” Doanh Trụ bất kiên nhẫn giật lấy cuộn trúc giản đang đập bộp bộp trên đầu, ào ào trải ra: “Có gì khác nhau? Vẫn một dạng! Nàng chỉ nói, câu ‘kẻ nào đáng xử trí thì sớm lo liệu, nên kín đáo thì phải kín đáo’ này ám chỉ điều gì?”

“Biết rồi, nghe ta nói đây.” Hoa Dương phu nhân nép sát vào người Doanh Trụ cười, “Phu quân minh giám: Thu phân tới đây làm lễ gia quan cho Tử Sở, tính từ nay đến lúc đó hãy còn hai tháng,lão phụ vương chắc chắn đã thông báo trước cho phu quân rồi. Ý của việc thông báo, tự nhiên là muốn chàng và ta chuẩn bị trước. Mà đã kín đáo thì phải kín đáo, một là chớ nên bày vẽ khoa trương rùm beng, hai là... đúng rồi, tuyệt đối không được thông báo trước cho Tử Sở và Lã Bất Vi!”

“Nói đùa!” Doanh Trụ liên tục lắc đầu, “Phụ vương rất coi trọng Lã Bất Vi, nàng biết chứ?”

“Lão phụ vương nhiếp chính tuổi già, vốn dĩ đã không theo quy củ mà hành sự, chàng biết chứ?”

“Được rồi được rồi, thế nàng lại nói xem câu ‘kẻ nào đáng xử trí thì sớm lo liệu’ có ý gì?”

“Cái này thì ta rõ, vốn định nhắc chàng từ lâu lại sợ chàng bảo ta kiếm chuyện, chàng biết chứ?” Hoa Dương phu nhân phá lệ không còn nụ cười ngây ngô đáng yêu thường treo trên mặt nữa, “Dám hỏi phu quân, ban đầu lập đích là vị công tử nào?”

“Công tử Hề chứ sao.”

“Hề nhi hiện tại đang ở đâu?”

“Hỏi thừa thật. Chẳng phải đang tu tập trong phủ sao?”

“Tử Sở lập đích gia quan, ắt phải về phủ cư trú. Lấy tính tình phù táo quái gở lại thêm tuổi tác đứng đầu của Hề nhi...”

“Phu nhân là nói, điều phụ vương ám chỉ kẻ cần xử trí lo liệu chính là việc này?”

“Ta nghĩ đã nhiều ngày, trong phủ ngoài việc này ra cần phải lo liệu trước, thì không còn chuyện gì khác nữa.”

Trầm mặc một lát, Doanh Trụ thở dài thườn thượt, chán nản dựa vào trường án rồi ngáy vang từng hồi dài. Hoa Dương phu nhân rón rén đứng dậy lấy từ sau bức bình phong trong thư phòng một chiếc bào vải nhẹ nhàng đắp lên cho Doanh Trụ, rồi không tiếng động lướt ra ngoài. Sắc trời ngả về tây, Doanh Trụ tỉnh dậy lau khóe miệng còn vương nước dãi ướt đẫm, uống một hén trà lạnh lớn, liền bước ra khỏi thư phòng thẳng hướng Vườn Song Lâm ở hậu viên đi tới, mãi đến tận canh ba mới trở về thư phòng.

Canh năm gà gáy, một xe một ngựa xuất phát từ cửa Đông Hàm Dương lộc cộc thẳng tiến Hàm Cốc quan.

Thượng tướng quân Mông Vũ đối với sự xuất hiện đột ngột của hai cha con Doanh Trụ vô cùng kinh ngạc. Pháp độ nước Tần: Thái tử không có vương mệnh thì không được vào quân doanh. Doanh Trụ đã là lão thái tử rồi, lại có thâm giao từ đời ông cha với Mông Vũ, đột ngột xông vào quân doanh không sợ mang tiếng vi phạm pháp luật sao? Dù nghĩ là vậy, Mông Vũ dẫu sao cũng là kẻ từng trải sóng gió, liền lập tức bày tiệc rượu tẩy trần trong mạc phủ trung quân chật hẹp giản dị, bốn mặt cửa trướng mở rộng, tuy gió mát trong sơn núi hiu hiu lùa qua các gian trướng, cái oi bức của tiết đại thử được quét sạch, nhưng bóng dáng giáp sĩ quân lại vẫn rành rành trong thấy, tình hình tiệc rượu cũng vì thế mà ai nấy đều rõ mồn một.

“An Quốc quân sao lại biết lão phu đang ở Hàm Cốc quan?” Sau một tước rượu tẩy trần, Mông Vũ cất giọng sang sảng cười lớn.

“Không ở đại doanh Lãnh Điền, thượng tướng quân có thể đi đâu được chứ?” Doanh Trụ cũng cất giọng sang sảng cười lớn.

“An Quốc quân nếu đi săn bắn ở Hào Sơn, lão phu cho chàng ba trăm cung mã.”

“Đã không phải đi săn, cũng chẳng phải đi sứ. Doanh Trụ đến đây, vốn là mang vương mệnh đấy.”

“Sao không nói sớm!” Mông Vũ cười ha hả xoay người vẫy tay, “Quân lại giáp sĩ lui trướng, thu dọn mạc phủ!”

“Không cần không cần, ta vốn chịu không nổi cái oi bức ngột ngạt này, thế này là vừa vặn.”

“Cũng được! Nếu không dính dáng đến cơ mật, An Quốc quân cứ việc nói thoải mái.”

“Đây là lục tử Hề, lão tướng quân còn nhớ chứ?”

“Nhiên nhiên là nhớ chứ! Chỉ là nhiều năm không gặp, công tử lại càng lộ rõ vẻ uy nghiêm lẫm liệt.”

“Đứa nhỏ này thích võ nghệ, ta muốn đưa nó vào chốn quân lính rèn luyện, lão tướng quân thấy thế nào?”

“Vào quân ngũ còn phải bàn nữa sao!” Mông Vũ cất tiếng khái khái rồi ánh mắt bỗng lóe lên, “Nhớ công tử Hề từng nhờ có công mà được tước Trâm Niểu, chiểu theo pháp độ, thì có thể làm thẳng thiên phu tướng, hoặc chuyển làm quân lại, không biết ý An Quốc quân và công tử thế nào?”

Chưa đợi Doanh Trụ mở miệng, Doanh Hề đã phắt dậy vái dài một cái: “Bẩm thượng tướng quân: Tước vị của Doanh Hề không phải do chiến công mà có, nay vào quân ngũ, nguyện noi theo tiền lệ của Bạch Khởi năm xưa, đi thẳng vào hàng ngũ tốt lính, dựa vào công lao chém đầu để thăng tiến!”

“Chí khí hay!” Mông Vũ vỗ án khen ngợi, lập tức cất cao giọng gọi trung quân ti mã đến phân phó: “Chiểu pháp đăng ký quân tịch cho Doanh Hề, ẩn đi thân phận vương tộc, phân phát về dưới quyền tướng quân Hàm Cốc quan, lập tức tiến hành!”

“Rõ!” Trung quân ti mã đứng thẳng người đáp lời, quay đầu cất giọng hùng dũng: “Tên trong quân của công tử là, Tần Hề! Nếu không có việc gì khác, lập tức theo ta đến mạc phủ tướng quân Hàm Cốc quan!”

“Rõ!” Doanh Hề đáp lời một tiếng hùng dũng rồi quay người sải bước ra khỏi trướng.

“Khoan đã!” Doanh Trụ ra hiệu đứng dậy đi đến cửa trướng, cởi chiếc áo choàng thêu kim tuyến màu đen thầm lặng khoác lên vai con trai, lại gỡ thanh đoản kiếm dắt bên hông nhét vào tay con trai. Doanh Hề cảm nhận được đôi bàn tay của cha đang run rẩy nhẹ nhàng, hai mai tóc điểm sương trong khoảnh khắc đã già đi rất nhiều, trong lòng không khỏi nảy lên một cái thật mạnh! Doảng chốc do dự, Doanh Hề cắn chặt hàm răng lấy lại tinh thần cười nói: “Cha ơi, vật thế này không hợp với tốt lính.” Lại thắt lại áo choàng, mang gọn đoản kiếm cho cha, đoạn cúi đầu thật sâu: “Quân phụ già rồi! Xin hãy tự trân trọng!” Chợt quay người sải bước đi thẳng.

“...” Doanh Trụ lảo đảo một bước, nhưng đã được Mông Vũ ở phía sau đỡ lấy một cách cực kỳ chuẩn xác.

“Nhắc đến chuyện vương tộc đưa con vào quân ngũ, vẫn phải kể đến Tiên vương Huệ Văn Vương mới là kẻ cứng cỏi!” Mông Vũ chỉ khái khái một câu rồi ngưng bặt.

Doanh Trụ thở dài thườn thượt: “Huynh Mông à, lòng ta khổ lắm! Chỉ là không biết bày tỏ cùng ai...”

Đêm đó, Mông Vũ cứ thế đồng hành cùng Doanh Trụ trò chuyện đến tận sáng bạch. Doanh Trụ từ trước đến nay vẫn luôn tin tưởng vị lão tướng quân cẩn mật trầm tĩnh này, năm xưa giao Doanh Dị Nhân cho phủ họ Mông cùng Mông Vũ đồng song cộng độc, mà nay lại giao Doanh Hề vào quân doanh của Mông Vũ để rèn luyện, ngẫm nghĩ cái hương vị trong đó, không khỏi cảm thán khôn nguôi. Mông Vũ khi đối mặt với trận mạc quân sự thì cẩn mật đa mưu, khi giao du với người đời thì hào sảng chân thành, nghe Doanh Trụ cảm thán thổ lộ thì cười lớn liên hồi, bảo rằng Doanh Trụ làm thái tử này là nhàn nhã nhất mà cũng vất vả nhất, nhàn nhã là vì có minh quân ở phía trước, vất vả là vì không nắm được tâm pháp! Doanh Trụ lần đầu tiên nghe Mông Vũ cảm thán việc nước, liền hỏi thế nào là không nắm được tâm pháp? Mông Vũ đáp, người nhìn xa thì sáng, không nắm được tâm pháp chính là kẻ bán mâu bán thuẫn, cứ do dự bàng hoàng tự dằn vặt bản thân; muốn có tâm pháp thì chỉ cần mười hai chữ, tự mình lo việc của mình, danh vị con cháu cứ thuận theo tự nhiên! Doanh Trụ từng nghe qua rất nhiều mưu chước khai đạo, thế nhưng kẻ khuyên hắn hãy thuận theo tự nhiên đối với con cháu, thì ngoài Mông Vũ ra, chưa có người thứ hai. Nhất thời hắn không khỏi vô cùng cảm thán, nỗi niềm đau xót khi đưa Doanh Hề vào quân ngũ cũng vơi bớt đi rất nhiều, liền hứng khởi hỏi Mông Vũ về những mưu tính tranh giành quân sự, liệu có phải sắp sửa tái chiến với sáu nước hay không? Mông Vũ lại trầm ngâm một hồi rồi phản vấn ngược lại, nếu An Quốc quân chấp chính, đại lược tranh giành quân sự sẽ sắp xếp ra sao? Doanh Trụ nhất thời ấp úng ngập ngừng, phụ vương đang lúc mặt trời giữa trưa, chuyện chấp chính hắn chưa từng nghĩ tới bao giờ. Mông Vũ thở dài một tiếng, cuối cùng vẫn không nhịn được mà thẳng thắn quở trách, đã là trữ quân của một nước, thì phải đường đường chính chính mưu tính việc nước, tiên vương dẫu có vạn tuế thì cuối cùng cũng có ngày tạ thế, nếu con cháu họ Doanh ai nấy cũng đều y như tâm trí của An Quốc quân, nước Tần chẳng phải sẽ đi xuống dốc hay sao! Doanh Trụ tự cảm thấy hổ thẹn, liền thành khẩn thỉnh giáo Mông Vũ. Mông Vũ nói rất thật tình, hiện tại hai quận Thục Ba đã trở thành vùng đất phú quý phồn thịnh, nước Tần đã hồi phục lại nguyên khí, hắn đang mưu tính trong vòng ba năm sẽ huấn luyện mới hai mươi vạn quân, trong năm năm lại huấn luyện thêm hai mươi vạn quân, khiến cho tổng binh lực nước Tần khôi phục lại sáu mươi vạn như trước đại chiến Trường Bình. Mông Vũ đập bộp bộp lên tấm mản quân dày cộm: “Tiên vương nghỉ binh, một là để chờ đợi bang quốc khôi phục nguyên khí, hai là để chờ đợi vị tân quân tuổi trẻ tài cao! Nếu không phải thế, đại quân đã thành thế rồi sao lại có chuyện án binh bất động? Không tranh mà trúng tranh, tê liệt mà lo liệu chuyện sau lưng, tiên vương thật là thánh minh!” Doanh Trụ vô cùng kinh ngạc: “Lão tướng quân là phụng chiếu mở rộng quân đội sao?” Mông Vũ ra vẻ thần bí lắc đầu cười: “Lão phu từng phụng chiếu mở rộng quân đội hồi nào? Ta đang nói là mưu tính, mưu tính đấy!” “Á à—” Doanh Trụ chợt vỡ lẽ cười lớn: “Hiểu rồi hiểu rồi, chỉ là mưu tính, chỉ là mưu tính mà thôi!”

Vừa trò chuyện vừa thong thả thì trời đã sáng, thừa lúc buổi sáng mát mẻ, Doanh Trụ cáo biệt Mông Vũ tóc bạc phơ. Thế nhưng vị Doanh Trụ hễ lên xe túc xá là ngủ vùi bất tỉnh nhân sự lần này dù thế nào đi nữa cũng chẳng tài nào chợp mắt nổi, suốt dọc đường ngắm nhìn đồng nguyên xanh ngắt cùng dòng người ngựa tấp nập trên quan đạo, Doanh Trụ thực tế ngửi thấy được sức sống bừng bừng đang dâng trào trên mảnh đất nước Tần, nỗi u uất đè nén bấy lâu nay lần đầu tiên được thư thái và sáng sủa hẳn lên.

Trăng sáng giữa trời, nước biếc trong hồ, một chiếc chiếu cỏ trên phiến đá, một làn khói xanh xua muỗi trong lò gạch. Lã Bất Vi đang ăn khuya ở hậu viên, bỗng nghe thấy một tiếng bước chân dồn dập, vừa từ chiếu cỏ ngồi dậy, tổng sự lão Tây Môn đã đến bên cạnh.

“Đông công, có tin tức của Mô Hô rồi!” Lão Tây Môn hơi run rẩy bước tới.

“Mô Hô! Tin tức gì?” Lã Bất Vi phắt dậy.

Tổng sự lão Tây Môn dồn dập nói: “Lúc chập tối có một con chó mực xông vào trang viên, thoăn thoắt hít ngửi khắp nơi. Bộc dịch vây quanh xua đuổi, thế mà con chó mực lại né tránh chạy trốn linh hoạt như vượn tinh. Lão hủ nghe báo liền đi ra, con chó mực không biết từ xó xỉnh nào xông ra vây quanh lão hủ hít ngửi tứ phía, ngửi một lát liền phục rạp trước mặt lão hủ ô ô gầm nhẹ, chân trước liên tục quào vào cổ. Lão hủ nhìn kỹ, trong lông cổ chó mực thấp thoáng có một sợi dây mảnh, liền gan lỳ vươn tay sờ, chó mực bất động tại chỗ. Lão hủ khua khoắng một trận trong chùm lông dài dưới cổ chó mực, liền sờ thấy một sợi dây da buộc một ống trúc dài chừng tấc, to bằng ngón tay út, tháo xuống mở ra xem, chỉ thấy có một dòng chữ nhỏ: Canh một theo Mặc Ngao đến cửa cốc Phong Kinh. Lão hủ cất tiếng gọi Mặc Ngao, chó mực lập tức đứng phắt dậy, liền biết là người đưa tin sai con linh ngao này đến dẫn đường. Lão hủ đoán không ra chuyện gì, quyết định đi thăm dò trước rồi mới bẩm báo Đông công. Sau khi trời tối, lão hủ dẫn theo một võ bộc chèo một chiếc thuyền nhỏ liền đi đến cửa khẩu Phong Kinh, ai ngờ chính là tiểu Mô Hô...”

“Nói trước xem người đang ở đâu?” Lã Bất Vi quạt chiếc quạt ba tiêu lớn có phần mất kiên nhẫn.

“Lão hủ không dám mạo muội đưa nàng về ngay, người vẫn đang ở cửa khẩu Phong Kinh.”

“Đi! Đón nó về.”

“Đông công, Hoa yết phu nhân đã bị hình sát, pháp luật nước Tần có tội liên ngồi, việc này... việc này ổn chứ?”

“Lúc ban đầu đưa Mô Hô đến chỗ Hoa Nguyệt phu nhân đã là sai, không đón về lại càng sai! Mô Hô đâu phải người tộc cũ họ Mị, luật Tần liên ngồi, chẳng lẽ còn trị tội cả bộc dịch? Lã Bất Vi ta mà đến một nghĩa bộc trở về còn không dám thu nhận, thì gánh vác nằm ở chỗ nào!” Lã Bất Vi vừa nói vừa bước đi, dứt lời vài câu thì đã đến cửa hậu viên.

“Đông công đừng đi lối đó, thuyền nhẹ đang ở bến đỗ trong hồ viên kìa.”

“Lại thành ra lú lẫn rồi.” Lã Bất Vi tự lẩm bẩm một câu, bèn theo tổng sự lão Tây Môn rảo bước.

Trang viên mới này được xây dựng dưới chân núi phía nam sông Vị, nhìn bề ngoài thì bình lặng không có gì lạ, nhưng thực chất lại chứa đựng huyền cơ lớn lao. Điểm kỳ lạ nhất chính là lối đi lại ra vào vô cùng kín đáo tiện lợi, người, xe, ngựa, thuyền đều có thể từ bất cứ ngóc ngách nào đi thẳng ra ngoài trang viên. Hồ nước ở hậu viên tuy chỉ rộng chừng hơn hai mươi mẫu, thế nhưng nước sâu tới ba trượng, thông thẳng ra sông Vị thông qua một đường hầm hang đá cực kỳ kín đáo. Thuyền nhẹ của Lã Bất Vi có bốn thủy thủ lực lưỡng, hang đá trong hồ viên dù không giương buồm thì tốc độ nhanh nhẹn cũng chẳng khác gì xe chạy trên cạn. Từ một vùng rừng cây lau sậy tiến ra sông Vị, thuyền nhẹ giương lên một lá buồm trắng, liền mượn sức gió ngược sóng ngược dòng tiến lên phía trên thượng nguồn. Khoảng nửa canh giờ thì tiến vào cửa khẩu thung lũng Phong Kinh, dưới ánh trăng, núi non rừng rậm trùng điệp, thung lũng u tịch, những ngọn đèn hiệu chuyên dùng để chỉ đường cho thuyền đêm ở ba mươi ngọn núi khi xưa nay đã hoàn toàn biến mất.

Tổng sự lão Tây Môn đứng ở mũi thuyền vỗ bốp bốp liền ba chưởng, gọi một tiếng Mặc Ngao. Trầm mặc giây lát, liền nghe trong rừng cây sườn núi có tiếng sột soạt nhè nhẹ, một đôi mắt xanh lè bỗng chốc lóe lên ở vách đá đen kịt bên bờ! Tổng sự lão Tây Môn phân phó cập bờ, chiếc thuyền nhỏ liền nhè nhẹ trôi dạt tới. Tổng sự lão Tây Môn dặn dò thủy thủ đứng đợi tại chỗ, rồi đi đầu dẫn Lã Bất Vi bước lên đường núi ven bờ. Con Mặc Ngao to lớn vạm vỡ đang ngẩng đầu phục rạp giữa đường, thấy hai người lên bờ liền ngoảnh đầu vọt đi mất hút. Tổng sự lão Tây Môn hạ giọng nói: “Mặc Ngao đi báo tin rồi, chỉ sợ chưa đi đến cửa ‘Vương đạo’ thì đã có người tới rồi.”

“Thung lũng Phong Kinh vẫn còn người ư?” Lã Bất Vi không khỏi có chút kinh ngạc.

“Vài bộc dịch tàn tật cùng với những hồ nữ mua về từ trước không có nơi nào để đi, Mô Hô dẫn bọn họ săn bắn hái lượm qua ngày.”

“Mô Hô vốn là hồ nữ, vậy mà cũng có gan gánh vác đấy chứ!”

Đang lúc nói chuyện, liền thấy cửa thành phế tích Vương đạo sừng sững uy nghiêm trước mắt dưới ánh trăng mờ ảo, Lã Bất Vi tự nhiên nhớ lại lần đầu tiên gặp gỡ Hoa Nguyệt phu nhân xinh đẹp kiều diễm ở nơi này, không khỏi thở dài một tiếng. Đúng lúc này, một bóng đen từ trong cửa thành phế tích bỗng nhiên lao vút ra, giữa lúc hai người còn đang kinh ngạc, bóng đen đã phục rạp dưới chân Lã Bất Vi, ánh sáng xanh lè kèm theo tiếng thở hổn hển, lại cứ như tượng đá đứng im bất động. Hai người chưa kịp mở miệng, từ trong cửa thành phế tích lại bất chợt bay vút ra một đoàn bóng đỏ nhào vào người Lã Bất Vi!

“Tiên sinh...”

“Mô Hô, nàng khổ quá rồi!” Lã Bất Vi nhẹ nhàng vỗ vỗ đôi bờ vai đang run bần bật trong ngực.

“Mô Hô lỡ việc, đáng chịu trừng phạt!” Bóng đỏ bỗng quỳ sụp xuống đất.

“Nói đi đâu thế?” Lã Bất Vi đỡ Mô Hô đứng dậy cười nói, “Hoa Nguyệt phu nhân tự chuốc họa vào thân vi phạm luật Tần, ai mà quản nổi nàng ta chứ?”

“Không.” Mô Hô liên tục lắc đầu, “Nếu em có ở đó, nhất định sẽ có thư gửi cho tiên sinh, sao lại có thể để sứ giả hồ đồ kia vào Hàm Đan mà tiên sinh vẫn không rõ đầu đuôi cơ chứ? Kinh Vân đại ca cùng các tráng sĩ mã đội sao lại có thể ra đi? Tiên sinh sao lại có thể cửu tử nhất sinh...”

“Thật vô lý hết sức!” Lã Bất Vi quát lớn một tiếng, “Kẻ hồ đồ làm hỏng việc, dẫu ta biết trước thì có thể tránh được họa chăng! Từ hôm nay trở đi không cho phép có suy nghĩ kiểu này! Phải nói có tội, thì Lã Bất Vi ta đứng đầu! Ta không mưu tính việc đời, thì Kinh Vân và các nghĩa sĩ mã đội sao lại phải chết thảm!”

“Tiên sinh đừng đau lòng, em sai rồi...” Mô Hô khóc không thành tiếng.

“Mô Hô à, em là nghĩa muội của Kinh Vân đại ca, từ nay về sau chính là thân muội muội của Lã Bất Vi này. Đi, cùng ta về nhà!”

Mô Hô lại chẳng hề nhúc nhích. Lã Bất Vi vỡ lẽ cười nói: “Tiểu thủ lĩnh là em đừng có lo, bộc dịch hồ nữ ở cửa khẩu Phong Kinh đều về hết, kẻ tàn tật thì nuôi dưỡng trọn đời, người khỏe mạnh thì làm việc, lão cha Tây Môn đang lo trang viên mới thiếu nhân thủ kìa!”

“Tiên sinh...” Mô Hô nghẹn ngào.

“Còn chuyện gì nữa không?” Lã Bất Vi âu yếm vuốt ve mái tóc xõa xượi của Mô Hô.

“Tiên sinh dung túng những huynh đệ tỷ muội kia, Mô Hô vô cùng cảm kích đại ân. Chỉ là, Mô Hô không thể về...”

“Mô Hô! Vì sao lại thế?” Lã Bất Vi vô cùng kinh ngạc.

“Tiên sinh!” Mô Hô ré lên một tiếng khóc, bỗng nhiên quay người chạy vụt đi như bay.

Tổng sự lão Tây Môn nhíu mày thật sâu: “Con bé Mô Hô này kỳ quái hết chỗ nói! Gặp lão hủ ở đây chốc lát rồi cũng bỏ đi ngay. Ấy! Con Mặc Ngao sao lại chưa đi?” Con chó mực đang phục rạp phát ra một tiếng ô ô trầm đục từ trong lồng ngực, đứng dậy ngoe nguẩy cái đuôi to nặng, lại cúi đầu liếm liếm mu bàn chân Lã Bất Vi. Lã Bất Vi không khỏi chấn động cõi lòng, nhẹ nhàng vỗ vỗ cái đầu to lớn của con chó mực: “Mặc Ngao, mi dẫn đường, chúng ta đi tìm cô nương Mô Hô.” Lời vừa dứt điểm, một đạo bóng đen trước mắt vừa vút ra vừa ngoảnh đầu nhìn lại, khúc khuỷu ngoằn ngoèo dẫn Lã Bất Vi và lão Tây Môn đến trước một hang động tối thui. “Gâu gâu gâu!” Ba tiếng sủa lớn, Mặc Ngao lao vút vào trong tựa như mũi tên rời cung.

Chỉ trong chớp mắt, một ngọn đèn lồng được treo lên cửa hang, bốn người phụ nữ khiêng hai chiếc rương da màu nâu lớn đi ra, người đi đầu cúi đầu thật sâu trước Lã Bất Vi: “Mô Hô tỷ tỷ nói, hai chiếc rương da lớn này giao cho tiên sinh, xin tiên sinh tha thứ cho tội không về cùng.”

“Dám hỏi tỷ tỷ, Mô Hô cô nương có dặn dò các tỷ tỷ đi theo ta không?”

“Có. Nhưng bọn em không thể ở lại nước Tần cùng tiên sinh.”

“Là vì cớ gì?”

“Mô Hô tỷ tỷ muốn về thảo nguyên Âm Sơn, bọn em quyết định hộ tống Mô Hô tỷ tỷ.”

“Khoan đã khoan đã.” Tổng sự lão Tây Môn xua xua tay, “Kiếm thuật và kỵ thuật của Mô Hô đều xuất sắc, còn cần người hộ tống nữa sao?”

Mấy người phụ nữ tức khắc câm lặng, nhìn nhau rồi chẳng biết nói gì hơn. Lã Bất Vi vô cùng nghi ngờ, vung tay dứt khoát nói: “Lão phu muốn gặp Mô Hô cô nương!” Dứt lời sải bước đi thẳng. Mấy người phụ nữ mặt đỏ bừng, vội vàng chồm lên chặn trước cửa hang sụp lạy xuống đất: “Tiên sinh không thể! Mô Hô tỷ tỷ có khổ tâm khó nói, xin tiên sinh thấu hiểu!” Lã Bất Vi tức giận nói: “Mô Hô là do ta đưa đi, có khổ tâm cũng là do ta mà ra, ta há có thể mặc kệ? Các cô tránh ra!” Đúng lúc này, một bóng đen từ trong hang đột ngột lao ra, Mặc Ngao sủa gâu gâu hai tiếng vào mặt mấy người phụ nữ, quay đầu cậm lấy vạt áo Lã Bất Vi rồi kéo. Lã Bất Vi hô lên một tiếng đi thôi, Mặc Ngao liền quay người vào trong hang cất cẳng chạy thẳng. Bốn người phụ nữ hết cách, đành cầm đèn lồng đi theo vào trong.

Hang động này rộng rãi sâu thẳm lại quanh co bất quy tắc, hai vách tường thỉnh thoảng lại có đủ loại hang động nhỏ khảm vào thân núi, rõ ràng là hang động tự nhiên nhưng đã được tu sửa nhân tạo. Dưới chân các góc trong hang có thể thấy rải rác đủ loại thùng gỗ mục nát, thoang thoảng lan tỏa ra một thứ hương thơm tựa rượu mà không phải rượu. Lã Bất Vi phán đoán, hang này rất có khả năng chính là hầm rượu của Vương thất Tây Chu năm xưa. Một hang động lớn nhỏ đan xen lặp đi lặp lại như thế này, nếu không có con Mặc Ngao linh dị hít ngửi dẫn đường, thì dẫu Lã Bất Vi có bước vào cũng đành chịu chết chứ chẳng biết xoay sở thế nào. Đi được chốc lát, Mặc Ngao ngoảnh đầu nhìn lại, vút một cái chui vào một hang nhỏ bên tay trái. Lã Bất Vi rảo bước đuổi theo, dưới ánh nến mập mờ có thể thấy lờ mờ một bóng đỏ trên chiếc chiếu cỏ ở góc hang, bước lại gần nhìn kỹ, Lã Bất Vi không khỏi vô cùng chấn động! Một người phụ nữ mặc váy đỏ cuộn tròn thành một cục run bẩy bẩy, trên mặt đeo một chiếc mặt nạ vỏ tre màu vàng nhạt, phần mang tai mai tóc xõa xượi lộ ra trắng bệch không chút sắc máu...

“Mô Hô!” Lã Bất Vi kinh hô một tiếng, cúi người bọc lấy người phụ nữ rồi quay người bước đi, tiếng nói ong ong liên tục vang vọng trong hang động, “Lão cha Tây Môn ở lại hậu sự, lập tức đưa những người còn sót lại ở cửa khẩu Phong Kinh về trang viên mới, nếu có chuyện gì chưa xong, thì phải xử lý cho thỏa đáng ngay. Ta đi thuyền nhẹ về trang viên trước để cứu chữa Mô Hô!”

Trong ánh hừng đông mờ ảo, thuyền nhẹ lướt bay vào đại hồ ở hậu viên trang viên mới. Lã Bất Vi bế Mô Hô vào trong viện của mình, dặn dò bộc dịch không được hé môi với bất cứ ai về chuyện đêm nay, rồi lập tức gọi Trần Huyên đang quét dọn sân nhà đến vội vã kể lại đầu đuôi. Trần Huyên ngắm nghía một lát rồi liền bảo: “Con bé này... thương tích cũ lâu ngày chưa khỏi lại ở nơi ẩm ướt, khí huyết lưỡng suy thần trí hôn mê. Ta trước tiên cho nó uống một bát canh linh chi rồi tắm rửa thay y phục, phu quân cứ việc mời danh y tới là được.”

Lã Bất Vi chỉ chỉ chiếc mặt nạ trên đầu Mô Hô nói: “Nếu phu nhân có nắm chắc, tốt nhất là đừng mời thái y.”

“Thiếp dẫu sao cũng từng học qua nữ y, đã nhìn ra được vài phần u huyền, chắc là không sai đâu.” Trần Huyên đỏ mặt cười, “Thế thì chàng cứ đi bận việc đi, chỉ cần phái một chấp sự hiểu về dược liệu đến nghe thiếp sai bảo là được, nếu không có gì bất thường, tối đến ắt sẽ có khởi sắc.”

Lã Bất Vi nơm nớp lo sợ rời đi, ngồi trong thư phòng mà tâm thần bất định. Trần Huyên xưa nay vốn trầm tĩnh khiêm tốn, nàng đã nói ba phần thì chính là có mười phần, không cần phải lo lắng gì nữa. Điều khiến cõi lòng Lã Bất Vi chấn động khó bình ổn, chính là cảnh ngộ của Mô Hô cùng vô vàn nhân sự bí ẩn chưa biết có thể dính líu đến nàng. Mô Hô là do Kinh Vân cử tiến đến bên cạnh hắn, Mô Hô nay đã biết chuyện bi tráng của đám người nghĩa sĩ Kinh Vân, vậy chiếc mặt nạ của nàng có liên quan gì đến những vị liệt sĩ của Kinh Vân hay không? Chợt nhớ tới Việt Kiếm Vô vốn dĩ có thể không chết nhưng lại không chút do dự mổ bụng tự sát, trong lòng Lã Bất Vi lại dâng lên một đợt run rẩy kịch liệt! Lão cha Tây Môn lúc trước từng nói, Mô Hô là nghĩa muội của Kinh Vân, thì khó mà bảo rằng không phải là người tình đem lòng yêu mến Kinh Vân, cũng khó mà bảo không phải là bào muội của một nghĩa sĩ nào đó trong đội mã đội của Kinh Vân, nếu như nàng cũng muốn đi theo Kinh Vân, thì Lã Bất Vi lấy gì để đối mặt với những vị hiệp khách liệt sĩ đã ẩn mình hủy dung và chết thảm toàn bộ đây? Không! Mô Hô tuyệt đối không thể chết!

Đến buổi trưa, tổng sự lão Tây Môn mồ hôi nhễ nhại đến bẩm báo: Tổng cộng có mười sáu tên bộc dịch sót lại ở thung lũng Phong Kinh, tất cả đều lên thuyền trở về trang viên mới; chỉ có con Mặc Ngao là cứ canh giữ ở nghĩa trang của Hoa Nguyệt phu nhân không chịu đi, ai khuyên nhủ thế nào cũng mặc; một hồ nữ nói, nếu Mô Hô ở đây, có lẽ có thể dẫn nó đi được, sau khi Hoa Nguyệt phu nhân chết, Mặc Ngao chỉ tuân theo hiệu lệnh của một mình Mô Hô.

“Lão cha Tây Môn, chuyện ở thung lũng Phong Kinh đừng hé môi với bất kỳ ai.”

“Lão hủ hiểu.”

“Kinh Vân từng nhắc gì về Mô Hô và hắn chưa?”

Lão Tây Môn lắc đầu: “Nghĩa sĩ Kinh Vân chỉ có một câu: Tiên sinh có được người này, đáng để trao gửi sinh tử.”

“Lão cha ngẫm xem, Mô Hô có nét mặt nào giống với vị nghĩa sĩ kia không?”

Lão Tây Môn trầm ngâm một lúc rồi lại lắc đầu: “Các nghĩa sĩ mã đội không ai có chân dung thật, quả thật nhìn không ra.”

“Hoa Nguyệt phu nhân mưu kế rất nhiều, lão cha vẫn nên dẫn vài người đến thung lũng Phong Kinh khảo sát thật kỹ một lượt.”

“Được! Đêm nay lão hủ sẽ đi.”

Chớp mắt bóng chiều bao phủ ánh hoàng hôn chiếu rọi qua cửa sổ, một tỳ nữ đến bẩm báo rằng phu nhân có lời mời. Lã Bất Vi đứng dậy bước đi, vội vã đến khu sinh hoạt, Trần Huyên đang đợi ở hành lang liền dẫn hắn vào một căn phòng nhỏ bốn bề che rèm trướng. Chiếc giường nằm treo màn sa trắng, lờ mờ có thể thấy thân hình mảnh mai đang an tĩnh nằm ngủ trong màn. Trần Huyên hạ giọng nói: “Người đã không còn đáng ngại gì nữa, chỉ sợ phải ngủ li bì một hai ngày.” Lã Bất Vi nói: “Che rèm bốn bề thế này, không sợ bị oi bức sinh ra bệnh mới sao?” Trần Huyên đỏ mặt cười: “Chàng biết cái gì chứ? Về phòng rồi nói.” Nói rồi kéo Lã Bất Vi đến tẩm thất của mình.

Trần Huyên bảo, cô nương Mô Hô này có thương tích cũ từ nửa năm trước, nhưng mối nguy hiểm hiện tại là bị băng huyết sau khi sinh, nếu không kịp thời đưa về, chỉ e lúc này đã bỏ mạng rồi; chiếc mặt nạ tre kia đã tháo ra rồi, trên mặt không có dấu hiệu bị tổn thương, chỉ phát hiện ở chỗ chân tóc mai có một vết sẹo lớn bằng đồng nửa lượng thời Tần, gốc đùi có hai vết chàm màu xanh nom giống chữ mà không phải chữ giống hình mà không phải hình, khiến người ta nhìn vào mà giật mình thon thót! Trần Huyên thở dài thườn thượt, bảo nàng nhớ các nước Sở và nước Tần có rất nhiều vương hầu quý tộc lớn thích dùng sắt nung in dấu và xăm mình lên nữ nô của mình, thế nhưng cô nương Mô Hô này là hồ nữ vùng Âm Sơn, cớ sao lại có vết ấn in trên thân thể thế này chứ?

“Phu nhân có còn nhớ hình thù của vết ấn đó không?” Sắc mặt Lã Bất Vi tái mét.

“Chỗ chân tóc thì không phân biệt được, còn ở gốc đùi thì nhớ.” Trần Huyên chấm nước trà vẽ lên trên án.

“Y Sĩ! Chữ cổ triện!”

“Y Sĩ? Là cự thương Y Đốn của nước Sở sao?”

“Đúng!” Lã Bất Vi nghiến răng nghiến lợi, “Bộ tộc này từ xưa có thói quen xấu ác độc, tuyệt đối không sai lệch đi đâu được!”

“Đó rõ ràng là nói, Mô Hô từng là nữ nô của bộ tộc Y Đốn.”

Lã Bất Vi trầm ngâm một lúc: “Nghĩa sĩ Kinh Vân từng làm lao dịch trong trại hình đồ nước Tề, liệu có phải đã kết giao với tù phạm Ngô Việt ở đó, sau khi trốn thoát thì được ủy thác cứu Mô Hô đi? Nói không chừng, vẫn phải đợi nàng tỉnh lại rồi từ từ hỏi tiếp.”

“Thiếp thấy, điều gấp rút lúc này là tìm cho ra đứa trẻ kia, nàng ấy vừa mới sinh con được hai ngày...”

“Ái chà! Hồ đồ rồi!” Lã Bất Vi giậm chân một cái quay đầu bước đi, ra đến bờ đại hồ thì thấy thuyền nhẹ đã đi mất, bèn phân phó lấy một chiếc thuyền nhỏ chuyên chở hàng hóa vào thành Hàm Dương ngày thường, nhảy top lên thuyền thốt lên hai tiếng Phong Kinh rồi hạ lệnh nhổ neo. Thuyền hàng nặng nề, ngược dòng nước ngược lên mất trọn một canh giờ mới đến cửa khẩu Phong Kinh. Vừa định bỏ thuyền lên bờ, thì nghe trên đường núi có tiếng bước chân dồn dập, tổng sự lão Tây Môn đang ôm một bọc đồ đi tới.

“Lão cha ôm vật gì thế?”

“Một đứa trẻ bị vứt bỏ! Vẫn còn sống, nóng hừng hực như cục than hồng! Ta đang định dùng thuyền nhẹ đưa về trang viên trước.”

“Quá tốt quá tốt! Ta bế về đây, lão cha khảo sát xong rồi hãy về sau.” Dứt lời nhận lấy bọc đồ nhảy lên thuyền nhẹ, bốn thủy thủ vung tám mái chèo, chiếc thuyền nhỏ liền lao đi vun vút xuôi dòng nước.

Trở về trang viên mới, Lã Bất Vi lập tức giao đứa trẻ cho Trần Huyên đang túc trực ngóng chờ. Trần Huyên vừa mừng vừa sợ, vội vàng châm cứu bón thuốc cho đứa trẻ môi đã thâm tím, thoáng chốc đứa trẻ oa lên một tiếng khóc ré, hai người lúc này mới mừng rỡ cười lớn, Trần Huyên lại tiến hành dọn dẹp chăm sóc, bận rộn đến mức vui không kể xiết! Nhìn người vợ tay chân luống cuống mà lại phấn khích cười khúc khích, trước mắt Lã Bất Vi tự nhiên hiện lên bóng dáng Trác Chiêu, nếu nàng là nàng ấy, thì cũng sẽ thế này chứ?

Đến nửa đêm, tổng sự lão Tây Môn trở về bẩm báo rằng, lục soát khắp các hang động phế tích và viện tử của Hoa Nguyệt phu nhân ở thung lũng Phong Kinh mà người có thể đi lại được, nhưng không phát hiện vật gì khả nghi, chỉ là thung lũng Phong Kinh này quá lớn, tốt nhất là đợi Mô Hô khỏi hẳn thương bệnh rồi hãy dẫn người đi tìm kiếm thật kỹ lưỡng, chứ cứ tìm kiếm mù quáng thế này thì e rằng có tìm một hai tháng cũng chẳng có manh mối nào. Lã Bất Vi cười xua tay liên mồm kêu trời! Bảo rằng tìm được đứa trẻ này rồi, còn những vật khác thì can gì đến ta, không cần phải nhọc lòng tốn sức, chỉ giục tổng sự lão Tây Môn kể lại chuyện tìm thấy đứa trẻ này ra sao.

Tổng sự lão Tây Môn kể, đứa trẻ này được tìm thấy quả là kỳ lạ! Hắn dẫn theo hai hồ nữ đang định đến một hang động tránh nóng mà Hoa Nguyệt phu nhân hay lui tới để tìm kiếm, thì thấy một bóng đen nhanh như chớp lướt vào hang hầm rượu đó. Có một hồ nữ cất tiếng gọi Mặc Ngao, hồ nữ kia thì bảo nàng nhìn thấy Mặc Ngao hình như đang ngậm một sinh vật sống! Lão Tây Môn trong lòng động đom đóm, bèn dẫn theo hai hồ nữ xách theo đèn lồng bước vào hang lớn. Hai hồ nữ vừa đi vừa gọi, Mặc Ngao Mặc Ngao, mi ở đâu rồi? Mau ra đây nào. Trong hang lại hoàn toàn tĩnh mịch. Lão Tây Môn chợt nhớ đến việc con Mặc Ngao thần dị này khi đưa thư tỏ ra vô cùng quen thuộc và tin tưởng khí vị của hắn, bèn đứng trong hang cất giọng lớn, Mặc Ngao ra đây, lão hủ là người do Mô Hô phái tới, vật mi canh giữ bọn ta sẽ không động vào đâu. Nói thế ba lần, một bóng đen bỗng từ trong hang nhỏ chui vụt ra, phục rạp dưới chân lão Tây Môn ô ô gầm nhẹ. Lão Tây Môn liền lấy từ trong túi da ra chiếc khăn tay mà Lã Bất Vi đã đánh rơi trên chiếc chiếu cỏ lúc bế Mô Hô đi khỏi hang, chiếc mũi đen sì to lớn của Mặc Ngao hếch lên ngửi ngửi, rồi đứng dậy ngoe nguẩy cái đuôi đi về phía sâu thẳm trong hang lớn. Lão Tây Môn đi theo vào một hang nhỏ, không khỏi vô cùng kinh ngạc! Nền hang nhỏ được trải một lớp cỏ tranh dày cộp, một đứa trẻ toàn thân lấm chấm đỏ tím trần truồng nằm trên một tấm chăn bông nhỏ dơ bẩn, bên cạnh nằm một con cừu rừng vú sưng phồng to tướng! Ở góc tường có một chiếc xe cổ trục xe đã biến thành hình dáng gỗ mục nhưng vẫn có thể lờ mờ nhận ra, trên thân xe đen sì còn vất vưởng những vết máu li ti văng lên! Nhất thời, cả ba người đều ngẩn ngơ.

“Mặc Ngao, đứa trẻ bị vứt bỏ vẫn còn sống! Mi đúng là nghĩa khuyển!” Tổng sự lão Tây Môn vô cùng cảm thán.

Cái đuôi to lớn của Mặc Ngao không động đậy chút nào, chỉ hờ hững liếc nhìn tổng sự lão Tây Môn một cái.

Một hồ nữ tỉ mỉ kêu lên: “Hai bầu vú cừu rừng sưng phồng, đứa trẻ vẫn chưa được bú sữa!”

“Mặc Ngao, sữa cừu rừng rốt cuộc khó mà nuôi nổi con người, lão hủ bế nó đi thế nào đây?”

Mặc Ngao bỗng giật mạnh chiếc khăn tay trong tay lão Tây Môn, sủa gâu gâu hai tiếng lớn. Trong lòng lão Tây Môn bỗng bừng sáng, lay lay chiếc khăn tay chỉ vào đứa trẻ: “Mặc Ngao, nó là đứa con của cô ấy phải không?” Mặc Ngao lại sủa gâu gâu hai tiếng. Khoảnh khắc ấy lão Tây Môn không khỏi tuôn rơi lệ già, ôm chặt lấy cái đầu to lớn: “Mặc Ngao ơi Mặc Ngao, lão hủ nhất định sẽ bế nó về giao cho cô ấy, nuôi nấng nó nên người! Mi, cũng cùng lão hủ đi về nào.” Cái đầu to lớn của Mặc Ngao cọ cọ ngực lão Tây Môn, trong đôi mắt to xanh lè ướt đẫm một mảnh, ngoe nguẩy cái đuôi rồi từ đó không phát ra tiếng kêu nào nữa.

Lão Tây Môn kể, Mặc Ngao cứ đi theo ông ta tận ra tới cửa khẩu, nghe thấy giọng nói của Lã Bất Vi thì mới quay người chạy vụt đi. Lúc rời đi không thấy Mặc Ngao đâu, họ bèn tìm đến nghĩa trang của Hoa Nguyệt phu nhân, Mặc Ngao quả nhiên cô độc cuộn tròn trước tấm bia mộ, đôi mắt to xanh lè đẫm lệ, mặc ai khuyên nhủ cũng không chịu đứng lên. Lã Bất Vi nghe xong vô cùng xúc động, trầm mặc hồi lâu không nói nên lời.

Ba ngày sau, Mô Hô cuối cùng cũng hoàn toàn tỉnh táo lại, gò má cũng đã ửng hồng trở lại. Buổi chiều ngày hôm đó, Lã Bất Vi dặn dò tổng sự lão Tây Môn túc trực ở cổng nội trang, bất kỳ ai đến viếng cũng chỉ bảo rằng mình đã vào thành Hàm Dương rồi, sau khi an đốn thỏa đáng liền cùng Trần Huyên đến căn phòng bệnh quạnh quẽ ở hậu viên. Mô Hô đang tựa lưng vào chiếc gối lớn trên giường nằm vừa nhìn thấy Lã Bất Vi thì nước mắt đã rưng rưng tròng mắt, cố gắng vùng dậy hành lễ. Lã Bất Vi vội vàng bước lên đè vai nàng lại cười nói: “Hôm nay chỉ nói chuyện phiếm thôi, cô nương mà đa lễ nữa thì ta chỉ đành đi thẳng đấy.” Trần Huyên cũng bước tới cười nói: “Cô nương cứ tựa người mà nói chuyện, mọi việc cứ có ta lo.” Nói đoạn vén màn mở cửa sổ đun một ấm trà đặc, lại bưng tới một hén thuốc thang để Mô Hô uống, lúc này mới mỉm cười nói: “Hai người cứ nói chuyện đi, ta gọi tiểu Nhân Nhi tới chăm sóc, thiếp còn có việc phải bận đây.” Dứt lời gọi một đồng nhi lanh lợi vào rồi vội vã rời đi. Thấy Mô Hô cứ rưng rưng nước mắt nghẹn ngào, Lã Bất Vi cười nói: “Mô Hô à, đừng áy náy nữa. Ta đã nói rồi, em chính là muội ruột của ta. Chị dâu chăm sóc giường bệnh của em chồng thì có gì là không được chứ?” Mô Hô nghẹn ngào nói: “Tiên sinh cao nghĩa đại đức, Mô Hô không xứng.” Lã Bất Vi thở dài thườn thượt: “Khó thay! Nếu cô nương có uẩn khúc riêng, bản thân ta tự nhiên không miễn cưỡng. Còn nói xứng hay không xứng, cô nương lại nói quá lời rồi. Trời sinh ra con người, vốn dĩ là bình đẳng, nếu không phải thế đạo bất công, hà cớ gì lại có chuyện cao sang hèn kém? Kinh Vân đại ca cùng các nghĩa sĩ mã đội ai mà không có những trải nghiệm phi nhân, thế nhưng bọn họ đều là tri kỷ sống chết của Lã Bất Vi, tình thâm cốt thịt, hà luận chuyện xứng hay không xứng?” Mô Hô trầm mặc một hồi, bỗng nhiên ngẩng đầu lên rồi kể lại trải nghiệm của mình sau khi bị tiên sinh đem tặng cho người khác.

Mô Hô kể, kể từ khi nàng đến thung lũng Phong Kinh, liền làm nội sự gia lão của Hoa Nguyệt phu nhân. Hoa Nguyệt phu nhân có một người tộc nhân làm thư lại trong vương thất thư phòng, chuyên trách sao chép khắc chiếu thư, vì thế Hoa Nguyệt phu nhân mới biết trước được mật chiếu lập đích của Doanh Dị Nhân. Đây là chuyện mà mãi về sau Mô Hô mới biết. Việc Hoa Nguyệt phu nhân bàn bạc mưu tính với Hoa Dương phu nhân, là do Hoa Nguyệt phu nhân cố ý cho Mô Hô biết, và bảo Mô Hô tìm cách thông báo cho Lã Bất Vi lo liệu trước. Còn việc phái tộc đệ của mình làm “sứ giả” vội vã chạy đến Hàm Đan, thì Hoa Nguyệt phu nhân lại giấu giếm Mô Hô. Khi Mô Hô chuẩn bị thả bồ câu đưa thư, thì lại vô tình nghe được chuyện “sứ giả” từ miệng của một tỳ nữ thân cận, trong lòng tức khắc sinh lòng nghi ngờ, đối với việc thực thực giả giả của Hoa Nguyệt phu nhân rất khó phân định, vô cùng sợ hãi việc báo tin nhầm lẫn làm hỏng đại sự, bèn quyết định tự mình đi về phía bắc nói cho ra ngô ra khoai.

Đúng lúc này, Hoa Nguyệt phu nhân lại phái Mô Hô mang theo sáu tên bộc dịch tinh nhuệ đi về phía nam vào mùa đông, để mùa xuân năm sau giải quyết ba việc lớn: Một là mua sắm xào nấu xuân trà Trạch Trạch ở Ngô Việt; hai là đi núi Kinh Sơn sắm sửa ngọc cụ châu báu kiểu nước Sở, lại dùng ngọc Kinh Sơn mài giũa ba bộ ngọc bội khắc chữ cho Tử Sở; việc quan trọng nhất chính là y theo bản vẽ của Hoa Dương phu nhân, mua sắm tơ lụa chính cống nước Sở, may đo cho Tử Sở sáu bộ bào phục quan đới bốn mùa chuẩn mực ở Dĩnh Đô. Hoa Nguyệt phu nhân dặn đi dặn lại, đây là phần thưởng đại lễ mà bà ta và Hoa Dương phu nhân chuẩn bị cho Tử Sở trở về Tần, đối với Lã công cũng là chuyện vẻ vang, nếu không phải Mô Hô thì không thể làm cho tốt được. Mô Hô khó lòng từ chối, liền lên đường vào cuối tháng Chạp. Thuyền nhẹ vừa xuất phát, Mô Hô liền ước định với các bộc dịch ngày rằm tháng Hai sẽ hội họp ở trà trường lớn nhất Trạch Trạch, rồi lập tức một ngựa phi nhanh đi gấp đến Hàm Đan. Lúc đó Lã Bất Vi và tổng sự lão Tây Môn vừa khéo không có mặt ở Thương Cốc Khê, hành trình cấp bách nên Mô Hô đành chạy đến doanh địa mã đội tìm Kinh Vân. Ở lại ba ngày, Thương Cốc Khê vẫn trống hoác vắng tanh, Mô Hô đành đem mọi chuyện kể hết cho Kinh Vân rồi vội vã đi về phía nam. Tháng Hai hội quân với các bộc dịch, đến cuối tháng Ba xuân trà được đóng thuyền vận chuyển về bắc, Mô Hô liền đi núi Kinh Sơn, đặt ngọc cụ châu báu xong lại đến Dĩnh Đô. Lo xong xuôi các việc đi về xuôi ngược, thì đã đến tháng Sáu trời hè oi bức, lúc về đến Hàm Dương đã là cuối tháng Bảy rồi. Cảnh tượng tiêu điều lạnh lẽo của thung lũng Phong Kinh khiến Mô Hô vô cùng chấn động, vốn định lập tức đi tìm Lã Bất Vi, nhưng tình trạng thảm hại của các tỷ tỷ bộc dịch lại khiến nàng không đành lòng bỏ đi đột ngột.

“Đại biến thế này, Mô Hô thật sự không thể ngờ tới...”

“Mô Hô à, chuyện cũ qua rồi! Không nhắc đến nữa thì hơn.” Lã Bất Vi thở dài dài một tiếng, “Ta chỉ muốn hỏi một chuyện, em nói được thì nói, không nói được thì thôi, chớ có làm khó mình. Em đang thời kỳ sinh nở, đứa trẻ kia, có phải là cốt nhục của Kinh Vân đại ca không?”

Bỗng chốc Mô Hô tựa như bị điện giật, cổ họng ực lên một tiếng rồi ngã phịch xuống giường nằm! Trần Huyên vừa khéo chạy tới, nhẹ nhàng thành thạo cấp cứu một trận, Mô Hô oa lên một tiếng khóc òa ra: “Tiên sinh! Con của em còn sống không?” Lã Bất Vi đưa mắt ra hiệu, Trần Huyên bước nhẹ lướt ra, chớp mắt liền bế tới một chiếc khăn bọc đỏ rực mỉm cười đi về phía giường nằm. Mô Hô run bẩy bẩy ôm lấy đứa trẻ, nhìn cái khuôn mặt nhỏ nhắn hồng hào đang say ngủ trong khăn bọc, phát cuồng như dại nâng niu bọc đồ vừa khóc vừa cười. Trần Huyên vừa dịu dàng khuyên giải, vừa nhận lấy khăn bọc cho đứa trẻ tè dầm cho uống thuốc, lúc này Mô Hô mới dần bình tĩnh lại.

Mô Hô kể, gia đình nàng đều là nô lệ do cự thương Y Đốn nước Sở mua về. Cha mẹ là phu phen lao dịch trên thuyền biển của thương xã Y Đốn, vào năm nàng tám tuổi đều bỏ mạng vì bão biển lật tàu. Nàng lúc nhỏ xíu đã lọt vào mắt xanh của một vị công tử nhà họ Y Đốn, muốn thu nhận nàng làm nữ thị tháp mang vết nung. Nàng nói, chỉ cần vị công tử mang thuyền ra biển vớt thi hài cha mẹ nàng về an táng, thì nàng sẽ chịu nung sắt in dấu vào làm nô tì trong phủ, nếu không thì thà chết chứ nhất quyết không làm nữ nô mang vết nung! Hai năm trôi qua, vị công tử kia chẳng thèm ra biển, trái lại thấy nàng đã lớn thành một thiếu nữ kiều diễm xinh đẹp, liền chuốc thuốc mê nàng vào một đêm tối trời, đóng dấu vết nữ nô lên người nàng. Đúng vào lúc nàng đau đớn muốn chết không ăn không uống chỉ muốn chết đói cho xong chuyện, cũng vào một đêm tối trời nọ, một hắc y che mặt võ nghệ thần thông đã phá cửa xông vào, chém liền ba tên kiếm sĩ canh gác đoạn đứt xích sắt cứu nàng ra ngoài. Vị hắc y nhân này đưa nàng đến một khu rừng rậm ở vùng ngoại ô Trần Thành, cho nàng xem cuộn trúc giản mà cha mẹ đã để lại cho một vị nghĩa thương trước khi ra biển, trên cuộn trúc giản đó vẽ một bé gái ngoại trừ nàng ra thì không thể là ai khác, bên cạnh vẽ một khoảng cỏ xanh và một con ngựa đen đang phi nước đại; lại dẫn nàng đến một hũng núi kín đáo xem một gò đất vàng hình thù kỳ dị, bảo rằng đây chính là nơi an táng cha mẹ nàng, chỉ vì chưa cứu được nàng ra ngoài, nên mới chôn cất sơ sài, chỉ đợi sau khi cứu được nàng ra thì nhận diện rồi an táng lại từ đầu. Tiết thanh minh mở lăng mộ mở nỗ quan mỏng tang ra, thi thể cha mẹ chẳng những không thối rữa, trái lại còn mở trừng trừng hai mắt y như người sống vậy! Mô Hô khóc lóc thảm thiết đòi nhảy xuống huyệt mộ để đi theo cha mẹ, nếu không nhờ vị hắc y nhân đó ôm chết lấy lại hết lòng cứu chữa, thì e rằng nàng lúc ấy dẫu không chết thì trở về cũng khóc cho kiệt sức mà chết rồi.

Một tháng sau, nàng được Kinh Vân đại ca đích thân đưa đến thảo nguyên Âm Sơn, phó thác cho một thủ lĩnh tộc Lâm Hồ, dặn thủ lĩnh ấy mời một vị sĩ tử Trung Nguyên dạy nàng nhận chữ đọc sách, hứa hẹn khi nàng lớn lên sẽ đến đón. Vị thủ lĩnh ấy gọi một đám con gái của mình tới, mặt lạnh tanh bảo với các con rằng, ông ta lại có thêm một con gái mới, ai dám bắt nạt nó thì sẽ giết kẻ đó! Kể từ đó, nàng bắt đầu cuộc sống cưỡi ngựa đọc sách chăn cừu trên thảo nguyên, trong niềm vui sướng tiêu diêu tự tại nhưng lúc nào cũng thấy trống vắng hụt hẫng. Năm năm sau, vị hắc y nhân đó quả nhiên đã tới, hỏi nàng có nguyện ý cùng hắn về Trung Nguyên không. Nàng không nói một lời nào mà nhào vào ngực hắc y nhân khóc nức nở. Sau đó, nàng mới biết hắc y nhân này tên là Kinh Vân, các kỵ sĩ trong đội mã đội rừng rậm đều gọi hắn là đại ca. Nàng tình nguyện giặt giũ nấu nướng cho bọn họ, lại theo các kỵ sĩ phiên ca trực trong phòng bếp luân phiên tu luyện kiếm thuật. Kinh Vân cũng mỗi tháng một lần vào phòng bếp nấu ăn một ngày, dần dà trở nên quen thân với nàng. Kinh Vân bảo nàng có linh khí, vùi dập ở phòng bếp thì thật uổng phí, kiên quyết bắt nàng ở lều riêng, chỉ dạy các kỵ sĩ nhận chữ đọc sách. Rất nhanh chóng, Mô Hô hiểu rõ đây là một đội mã đội hộ tống thương nhân, việc làm nhiều nhất chính là đi bốn phương thăm dò tin tức đường sá, việc lớn nhất chính là hộ tống thương đội không bị cướp bóc. Mô Hô không cam chịu cảnh suốt ngày ngồi trong lều đọc sách dạy học, bèn tìm đủ mọi cớ để đến lều của Kinh Vân giúp hắn lo liệu việc vặt, thực sự không có việc gì thì đi theo các kỵ sĩ thám báo ra ngoài dò đường. Nàng lanh lợi thông minh, chữ nghĩa ngôn ngữ các nước học qua là biết, thế giới biến thành tiểu “thông nhân” được mọi kỵ sĩ trong mã đội yêu mến.

Sau đó, nàng theo mã đội đến doanh địa rừng rậm ở vùng ngoại ô Hàm Đan. Có một lần, Kinh Vân hỏi nàng có nguyện ý làm nữ tì hầu cận cho một cao sĩ mà hắn kính trọng không? Mô Hô chỉ nói một câu: “Đại ca bảo em làm việc, đừng hỏi em có nguyện ý hay không.” Nửa tháng sau, nàng liền theo một cụ già tóc bạc phơ đến quán trọ người Hồ ở Hàm Đan... Rời khỏi Kinh Vân, Mô Hô lại đột nhiên cảm thấy bản thân mình lại đem lòng yêu mến sâu sắc vị đại ca Kinh Vân luôn che mặt ấy. Lúc đi từ thung lũng Phong Kinh về phía nam, tâm thần nàng bất định, luôn có một dự cảm chẳng lành, cảm thấy bản thân sẽ không bao giờ được gặp lại Kinh Vân đại ca nữa. Tâm tri trào dâng không sao kìm nén nổi, nàng cuối cùng cũng phi ngựa xông thẳng vào doanh địa rừng rậm từ Thương Cốc Khê trống hoác. Đêm hôm đó, nàng quấn quít uống rượu suốt đêm cùng Kinh Vân, hai người nói rất nhiều rất nhiều chuyện, vừa uống vừa nói, cuối cùng Kinh Vân cũng say. Nàng gần như không chút do dự thẹn thùng, thong thả cởi bỏ y phục của mình và Kinh Vân, ôm chặt lấy Kinh Vân chui vào chiếc chăn bông lớn...

“Ý trời! Nghĩa sĩ Kinh Vân đã có hậu nhân rồi!” Lã Bất Vi mừng đến phát khóc nhảy cất lên.

“Mô Hô à, con trai em nên có một cái tên thật hay chứ nhỉ!” Trần Huyên cũng cười khúc khích.

“Xin tiên sinh ban cho một cái tên ạ.” Mô Hô đỏ mặt cúi gằm đầu.

“Không không không! Mô Hô tự mình đặt! Cha mẹ đặt tên, thiện chí lớn lao biết bao!”

Mô Hô trầm ngâm một lúc hạ giọng nói: “Lúc em sinh nó, trong hang đó có một chiếc xe cổ trục xe, hay là gọi là Kinh Kha đi thế nào ạ?”

“Kinh Kha! Hay! Chính là Kinh Kha!” Lã Bất Vi đập án kêu lớn.

Đứa trẻ trong tã lót oa lên một tiếng khóc lớn, vang dội đến mức khiến căn phòng ong ong rung chuyển không dứt! Trần Huyên kinh ngạc cười nói: “Ối! Tiếng khóc của thằng nhóc này đanh thật đấy! Biết gì không, chắc chắn là một mầm mống cứng cỏi rồi!” Ba người liền cùng nhau cười vang lên sảng khoái.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.