Vào dịp tiết đạp thanh mùa xuân, đại doanh Lã Điền chợt bỗng sôi trào lên!
Mặc dù gặp phải sự phản đối bất ngờ trong triều hội, Mông Ngao lại trước sau không hề từ bỏ mưu hoạch dấy binh vào mùa xuân năm tới. Quân Tần thời Vũ An quân Bạch Khởi đánh đâu thắng đó, không trận nào không công phá được, một đám lão tướng bọn họ tự nhiên cũng trở thành những danh tướng lừng lẫy khiến sáu nước nghe tên là biến sắc. Thế nhưng sau khi Bạch Khởi chết, quân Tần lại liên tiếp đại bại ba lần, đành phải rút về ải Hàm Cụt áp dụng thế phòng thủ. Nỗi nhục nhã tột cùng này, không chỉ một đám lão tướng lửa giận ngút trời, mà Mông Ngao lại càng canh cánh trong lòng. Dẫu sao Mông Ngao cũng là Thượng tướng quân, bất kể theo truyền thống nước Tần, hay theo pháp độ nước Tần, vị tướng quân đại bại liên tiếp ba lần đều là tội không thể tha. Dù nói ba trận đại chiến đó đều là vương mệnh cưỡng chế xuất binh, sau khi bại trận không hạch tội bất kỳ vị đại tướng nào, mà Tần Chio Vương đã ban hành chiếu trách mình trước triều đình và thiên hạ để gánh chịu toàn bộ trách nhiệm bại trận, nhưng suy cho cùng trận bại thì các tướng quân tự mình đánh, trong lòng nào có thể yên tâm? Mông Ngao nhớ rất rõ, lúc Vũ An quân và Tần Chiêu Vương phát sinh bất đồng ý kiến, một đám đại tướng bọn họ đều đứng về phía Vũ An quân. Nhưng nói từ đáy lòng, lúc bấy giờ một đám lão tướng đang độ tráng niên trải trận mạc đều cho rằng Vũ An quân quá mức cẩn trọng. Vì thế, ông cùng Vương Ngật còn lén trở về Hàm Dương chuyên ý khuyên nhủ Vũ An quân một lần, chủ trương không nên đối kháng với vương mệnh, chỉ phụng mệnh xuất binh là được, với sự phân tán hoảng loạn của sáu nước lúc bấy giờ, giành chiến thắng ắt không còn nghi ngờ gì nữa. Vũ An quân lại lạnh lùng đáp lời: "Thời cơ chiến đấu ở tại thời chứ không ở tại thế. Thời cơ chiến đấu vừa qua, cho dù có thế mạnh cũng không có cơ hội thắng. Nước Triệu đã thành quân chịu tang, cả nước đồng lòng chỉ cầu ngọc đá cùng tan, kẻ làm tướng há có thể không xét!" Lúc đó cả hai đều không nói gì. Ra khỏi Hàm Dương, Vương Ngật lầm bầm vài câu: "Nói năng kiểu gì thế? Luận binh hay luận đạo? Xa rời chiến trận lâu quá rồi." Mông Ngao vốn nổi tiếng là người vững vàng chu đáo, lại là tri kỷ với vị mãnh tướng số một nước Tần này, lúc đó tuy không hưởng ứng Vương Ngật, nhưng trong lòng lại không hề cho rằng Vương Ngật có lỗi. Mông Ngao còn như thế, huống chi là một đám mãnh tướng tung hoành chém giết hướng đi vô địch? Còn như Tần Chiêu Vương thực sự xa rời chiến trận, lại càng cho rằng quân Tần bất cứ lúc nào cũng có thể thu gom cướp đoạt đối với sơn đông lục quốc!
Chính vì cái tâm khí kiêu ngạo nóng nảy không thể xua tan này của vua chúa miếu đường và đại tướng trận trước, lúc Vũ An quân cự tuyệt thống lĩnh binh mã xuất chiến, Tần Chiêu Vương lại nghe theo sự cử giới của Phạm Thư, phái Trịnh An Pháp khoác lác khoe khoang đem binh đánh Triệu, kết quả là ba vạn tinh nhuệ quân Tần tử chiến, Trịnh An Pháp dẫn theo hai vạn tàn quân đầu hàng nước Triệu. Tin tức truyền đến, cả nước xôn xao! Tướng sĩ quân Tần giận dữ mắng chửi tên chó má Trịnh An Pháp đã hại quân Tần, thề báo thù rửa nhục. Từ đó, Vương Lăng khái nhiên "bị ép" xuất chiến đánh nước Triệu lần nữa, kết quả lại là binh lính chết năm hiệu, gần như không thể rút quân về. Đại bại lần thứ hai, các tướng quân vẫn chưa tỉnh táo, trái lại tâm lý muốn đánh để báo thù lại càng mãnh liệt hơn. Vương Ngật lập tức "bị ép" thay thế Vương Lăng làm tướng, suất lĩnh đại vương hai mươi vạn lần thứ ba đánh Triệu, kết quả đụng phải liên quân cứu Triệu năm nước do Tín Lăng quân thống lĩnh, dẫn đến thất bại thảm hại chưa từng có trong lịch sử quân Tần. Tới đây, một đám lão tướng cảm thấy xấu hổ phẫn nộ khôn cùng, lại gào thét đòi làm trận chiến đẫm máu cuối cùng! Phải nói Tần Chiêu Vương có điểm hơn người, ba trận thất bại liền tỉnh táo lại, nghiêm lệnh quân Tần chỉ giữ thủ thế tuyệt đối không cho phép xuất chiến. Một đám đại tướng dần dần bình tĩnh lại sau nỗi đau đớn rút ra bài học xương máu, lúc này mới khâm phục sát đất sự nhạy bén nắm bắt thời cơ và tính cách bình tĩnh sáng suốt minh bạch của Vũ An quân, không còn tâm lý khinh suất nóng nảy nữa. Dẫu là vậy, tâm lý báo thù của tướng sĩ quân Tần vẫn luôn canh cánh từng phút từng giây.
Mông Ngao cùng một đám đại tướng bắt đầu suy xét kỹ lưỡng thế binh Sơn Đông, âm thầm mài đao rèn giũa, chờ đợi thời cơ cho đại chiến báo thù. Ba năm sau, cũng chính là một năm trước khi Tần Chiêu Vương bị bệnh bán thân bất toại, Mông Ngao mật dâng tẩu sớ xin tiến hành cuộc công phạt mang tính thăm dò đối với Sơn Đông. Mười ngày sau, Tần Chiêu Vương mật triệu kiến Mông Ngao, không nói một lời lắng nghe Mông Ngao trần thuật phương án dụng binh suốt một canh giờ. Tần Chiêu Vương cuối cùng chỉ nói ba câu: "Lâu ngày không dùng binh, sẽ làm nhụt chí khí tướng sĩ người diệt vong. Nhưng hiện tại không thích hợp đại chiến, chỉ dùng binh nhẹ bôn tập Châu và Tam Tấn là được. Nếu tự ý động đại quân, khỏi nói lão phu lại chém tướng." Mông Ngao khái nhiên nhận lời, Tần Chiêu Vương lúc này mới ban phát chiếu thư xuất chiến.
Trong liên tiếp năm năm, cuộc công phạt mang tính thăm dò đã đại thắng lợi. Để phòng ngừa các đại tướng nóng vội tiến lên, Mông Ngao nhất loạt áp dụng chiến pháp bôn tập: Mỗi trận tối đa xuất binh năm vạn, mang theo lương thảo nửa tháng theo quân, không bố trí đại doanh trọng pháo lương thảo, đánh một trận là về ngay ải Hàm Cụt. Trận thứ nhất, đại tướng Doanh Lịch thống lĩnh năm vạn kỵ binh thiết giáp bôn tập nước Hàn, công chiếm hai thành Dương Thành, Phụ Thử, tiêu diệt toàn bộ bốn vạn bộ kỵ quân Hàn. Trận thứ hai, Mông Ngao tự mình đem binh, lấy lực lượng chủ lực là hai cánh tinh nhuệ thiết giáp của Vương Ngật và Vương Lăng bôn tập đường dài nước Triệu, mười ngày hạ hai mươi ba tòa huyện thành, tiêu diệt chín vạn quân Triệu rồi nhanh chóng rút quân về. Vừa đúng lúc này, Tây Châu công do vương thất nhà Chu phong không biết lượng sức, lại lén lút câu kết hơn hai mươi tiểu chư hầu quốc còn sót lại, muốn hội binh ở Y Khuyết, cắt đứt con đường giữa ải Hàm Cụt và Dương Thành mới chiếm được. Mông Ngao nghe tin liền ra tay trước, phái Doanh Lịch lại thống lĩnh năm vạn binh mã bất ngờ tấn công Tây Châu! Binh lâm thành hạ vạn nỏ cùng bắn, vị Tây Châu công này vô cùng hoảng sợ, lập tức ra khỏi thành dập đầu đầu hàng, dâng lên ba mươi sáu tòa thành trì nhỏ cùng ba vạn người Chu. Đây là trận thứ ba, thuận lợi một cách khác thường. Điểm tiếc nuối duy nhất là ba vạn người Chu già vốn quen thói lỏng lẻo sau khi vào nước Tần không chịu nổi sự vất vả cày cấy chiến đấu, lại vào năm thứ hai đại đoàn trốn chạy quay về Đông Chu, nếu không phải Tần Chiêu Vương nghiêm lệnh không được ngăn cản đuổi bắt, Đông Chu này sao có thể tồn tại đến ngày nay? Trận thứ tư, lão tướng Hoàn Ngật bôn tập nước Ngụy, một trận chiếm lĩnh Ngô Thành, ngay lập tức quay binh về. Bốn trận như thế tuy trận nào cũng thắng, chấn động mạnh mẽ Tam Tấn, hai nước Hàn Ngụy xưng thần nạp cống với nước Tần, thiên hạ lần đầu tiên xuất hiện cảnh "Chư hầu nước Tần quy phục" hiếm thấy. Thế nhưng Mông Ngao và một đám lão tướng trong lòng đều vô cùng rõ ràng, những tiểu chiến thế này cho dù có thắng thêm một trăm lần, cũng không thể sánh bằng bất kỳ một trận chiến nào trong suốt cuộc đời của Vũ An quân Bạch Khởi! Nếu không đại cử xuất động hướng Đông, thế hệ lão tướng này sẽ vĩnh viễn không còn cơ hội báo thù lớn nữa. Nay Tần Chiêu Tương Vương vừa mới chết, tân quân vừa mới lên ngôi, nước Tần rất cần một trận đại chiến để tái lập uy nghiêm. Từ thực lực mà nói, chủ lực quân Tần cũng đã một lần nữa sung mãn đạt tới sáu mươi vạn, lúc này không xuất binh, còn đợi đến bao giờ!
Thế nhưng, một đám đại thần chủ chính đứng đầu là Cương Thành quân Sái Trạch lại phản đối.
Mông Ngao xưa nay vẫn quan tâm triều cục, thừa hiểu sự phản đối của các đại thần chủ chính có nguyên nhân vô cùng phức tạp. Điểm hàng đầu, chính là tân quân không có tài hùng lược, các đại thần vô cùng lo sợ đại chiến vừa mở ra tân quân không thể kích phát sức mạnh toàn dân, ngược lại sẽ sinh ra biến cục không thể dự liệu. Kế đến, chính là sự hoài nghi của các đại thần đối với tài năng dụng binh của một đám lão tướng trong đó có Mông Ngao, dù cho không ai dám công khai nói ra, nhưng mối nghi ngờ này thì ai trong lòng cũng rõ mồn một. Chính vì thế, lý do minh bạch của các đại thần chính là nước Tần cần củng cố quốc lực, hiện tại đại quân không thích hợp hành động thiếu suy nghĩ. Nói cho thực tế, một trận mưa dầm dề ở Xuyên Tần, cộng thêm động đất Lũng Tây, Tần vương băng hà, khiến nước Tần quả thực cũng có chút chật vật. Thế nhưng trong mắt Mông Ngao, điều này hoàn toàn không tổn hại đến nguyên khí nước Tần, cái gọi là hiện tượng hỗn loạn hoàn toàn là do các đại thần chủ chính ứng phó không có phương pháp gây ra! Giả sử Thương Quân, Trương Nghi, Trù Lý Tật, Ngụy Nhiễm, Phạm Thư bất kỳ ai trong số họ chủ chính, sao có thể để xảy ra tình trạng trở tay không kịp vào thời khắc Tần vương già lâm bệnh nặng? Ngươi Sái Trạch tuy không thực tế nhiếp chính thừa tướng nhưng tột cùng vẫn là đại thần lĩnh chính mang danh nghĩa tước vị cao nhất, rõ ràng là so đo việc mình mất đi quyền thừa tướng mà canh cánh trong lòng không thèm trù tính việc nước, đến cuối cùng lại lấy lý do "đại tai chưa qua, quốc tang chưa cử hành" để phản đối xuất binh, thật sự là quá vô lý! Lão phu rõ ràng nói là xuân sang xuất binh, thì có dính líu gì đến đại tai với quốc tang? Chẳng lẽ lão Tần vương phải gác lại một năm không hạ táng sao? Chẳng lẽ trong vòng một năm các ngươi một đám đại thần chủ chính ngay cả một trận thiên tai mưa dầm cũng không xử lý nổi sao? Thật là chuyện lạ đời! Chính vì những suy nghĩ đại loại như vậy, lão Mông Ngao mới phẫn nộ chỉ trích Sái Trạch tại triều hội của tân quân. Nếu không phải tân quân đột ngột phát bệnh, lão Mông Ngao nhất định đã tuyệt giao tướng thần với Sái Trạch rồi.
Bước ngoặt của sự việc, là lúc Lã Bất Vi phụng chiếu đi khảo sát phủ khố quân tư.
Lã Bất Vi không tham gia lo liệu đại lễ quốc tang hiển hách, ngay ngày hôm sau triều hội đã chuyên trình đến bái kiến Thượng tướng quân phủ. Mông Ngao đang định đi tới đại doanh Lã Điền để thông báo tình hình triều hội cho các tướng, liên tục nói không gặp không gặp. Đúng lúc này Mông Vũ trở về phủ, chặn phụ thân lại nhỏ giọng nói: "Vị thái tử phó mới này không tầm thường, phụ thân không nên lạnh nhạt." Mông Ngao lạnh lùng nói: "Tầm thường hay không thì can gì đến ta! Lão phu không chịu nổi đám văn thần này!" Mông Vũ vội vàng kéo phụ thân sang một bên vẻ gấp gáp nói: "Khảo sát phủ khố là việc tất yếu, các đại thần không một ai dám đến đâu phỏng? Lã Bất Vi không đi góp vui quốc tang, chuyên đến làm cái sai sự gai góc này, phụ thân nếu cứ hành xử theo ý mình mà đi, há chẳng phải lại làm tăng thêm lực cản xuất binh sao?" Mông Ngao chợt hiểu gật đầu, lập tức phân phó trưởng sử hoãn chuyến đi Lã Điền lại, quay người liền ra cửa phủ nghênh đón Lã Bất Vi vào chính sảnh.
“Việc công phép tắc thôi, sẽ không làm lỡ hành trình của Thượng tướng quân.” Lã Bất Vi không ngồi xuống, rõ ràng là chuẩn bị nói xong việc là đi ngay.
“Nói đi đâu vậy? Thái tử phó mời ngồi. Dâng trà!” Mông Ngao một khi đã thông suốt thì vô cùng hào sảng.
“Lã Bất Vi phụng chiếu khảo sát phủ khố quân tư, một là thông báo, hai là đặc biệt đến xin Thượng tướng quân một đạo lệnh tiễn.”
“Việc công dễ nói! Nào, trước uống chén trà Thục này của lão phu!”
“Trà ngon!” Lã Bất Vi nâng chén trà thô to nhấp một ngụm, không khỏi ngạc nhiên tán thán, “Nước trà đậm đà mà không mất đi vẻ thanh thuần, màu sắc và hương thơm đuổi thẳng theo trà Ngô. Vất Thục có phẩm chất tuyệt hảo thế này, Lã Bất Vi chưa từng nghe qua!”
“Trà Ngô thấm thía vào đâu!” Mông Ngao vốn coi thường đồ vật nước Sở đập mạnh một cái lên án kỷ, “Gặp một trận gió là nhẹ bẫng, lên lò nấu một chặp là mất hết vị. Trà Thục vào lò, ba năm lượt lực đạo vẫn y nguyên!”
“Ồ? Lại là vì nguyên nhân gì?”
“Non nước khác nhau thôi, há có nguyên nhân nào khác!” Mông Ngao khái nhiên đập bàn, “Non Thục hùng vĩ tú lệ, mây mù kết tụ, sông Thục cuồn cuộn, chấn động địa khí! Căn bản hơn nữa, đất Thục quy Tần, Lý Băng trị thủy, cây trà sao lại không cứng cáp!”
Lã Bất Vi không khỏi mỉm cười: “Cây trà bởi quy Tần mà cứng cáp, luận điểm thật diệu kỳ của Thượng tướng quân!”
“Ngươi lại không cảm thấy thế sao?” Mông Ngao vô cùng kinh ngạc, “Lúc nước Ngô chưa bị diệt, lực đạo trà Chấn Trạch mãnh liệt cỡ nào? Nước Ngô vừa diệt Chấn Trạch quy Sở, hừ hừ, cái thứ trà Chấn Trạch mềm nhẹ ấy, nhét đầy lò trà nấu cũng chẳng thể nuốt nổi!”
“Thì ra là thế!” Lã Bất Vi cười ha hả, “Trà mãnh Chấn Trạch mà Thượng tướng quân nói, là cọng trà già thô, tự nhiên là chịu nấu rồi! Mềm nhẹ, đó mới là thượng phẩm trà xuân Chấn Trạch, phải cần mở lò, lửa nhỏ, nấu nhẹ, thần vận của nó nằm ở chỗ thanh và hương, làm sao có thể chịu nổi một bụng thịt dê thịt bò của tráng sĩ chứ!”
“Phải đấy! Có sức chịu đựng mới là trà ngon, cần cái thứ thần vận quái quỷ đó để làm gì chứ?”
“Thượng tướng quân thích trà mạnh chịu nấu, không bằng mỗi năm ta cung cấp cho ngài một xe thế nào?”
“Quân tử nhất ngôn!”
“Tứ mã nan truy!”
Hai người cười vang một trận, Mông Ngao vẫy tay một cái, trưởng sử đứng nghiêm bên tấm bình phong lớn liền bưng tới một đạo lệnh tiễn bằng thanh đồng. Mông Ngao cười nói: “Mười sáu doanh khố quân tư nước Tần, Thái tử phó cứ tùy ý khảo sát là được.” Lã Bất Vi tiếp lấy lệnh tiễn nặng trịch liền nghiêm nghị vái chào: “Quốc khố quân khố tổng cộng ba mươi ba nơi, khảo sát không phải là công việc trong một ngày, Thượng tướng quân cho rằng nên khảo sát nơi nào trước thì tốt?” Mông Ngao cười nói: “Đây là việc công của Thái tử phó và Quốc úy, lão phu chỉ bảo đảm kho quân không gây cản trở là được.” “Vậy tại hạ xin cáo từ.” Lã Bất Vi đang định đứng dậy rời khỏi bàn, Mông Ngao lại xua tay nói: “Tiên sinh hãy khoan.” Thấy Lã Bất Vi ngẩn người khó hiểu, Mông Ngao thấp giọng nói, “Quân Tần xuất hay không xuất hướng Đông, nguyên nhân của đám chính thần Cương Thành quân quả thực là do thiên tai mưa dầm, do thực lực tài vật sao?” Lã Bất Vi buông lỏng gật đầu: “Thượng tướng quân cho rằng không phải vì thiên tai và thực lực ư?” Mông Ngao thở dài một tiếng: “Làm tướng mà không thể lấy được lòng tin của các đại thần, thật hổ thẹn thay!” Lã Bất Vi trầm mặc chốc lát nhạt nhẽo cười: “Nếu Lã Bất Vi suy đoán không sai, Thượng tướng quân cho rằng Cương Thành quân v.v.. hoài nghi tài năng chiến trường của đám đại tướng. Quả thật như vậy, xin tha thứ cho không uy nói thẳng, Thượng tướng quân lại sai rồi.” Thấy mắt tròn của Mông Ngao trợn ngược, Lã Bất Vi thản nhiên chân thành nói, “Lã Bất Vi không cần giấu giếm, trước triều hội Cương Thành quân đã dâng tấu, chủ trương quân Tần hoãn lại việc xuất Đông, lý do chính là nguyên khí nước Tần chưa được sung túc; một khi quốc lực hùng mạnh, ‘Sái Trạch nguyện vì Thượng tướng quân đốc vận lương thảo quân tư, tấm lòng thành kính này, mong Đại vương chuẩn thuận!’”
“Tấu sớ này lão phu biết, trì hoãn binh mã mà thôi, há có nguyên nhân nào khác đâu!”
“Không phải vậy. Cương Thành quân không nổi tiếng là người rộng lượng, nếu hoài nghi tài năng của Thượng tướng quân, có thể tự xin hiệu lực trước quân doanh?”
Trầm mặc chốc lát, Mông Ngao nhạt cười một tiếng: “Đường dài hay ngắn, đúng sai tự khắc hiện rõ, không tranh cãi nữa.”
“Thượng tướng quân không cần hoài nghi, quân tư chỉ cần cho phép xuất binh, chung quy không thể ngăn cản được!” Lã Bất Vi khái nhiên nói một câu rồi cáo từ rời đi.
Từ đó suốt cả mùa đông, Mông Ngao hầu như cứ cách ba hai ngày lại nhận được quân báo gần xa, nói Lã Bất Vi từng người một đi khảo sát doanh trọng pháo lương thảo đóng quân, còn thạo việc binh khí lương mạ hơn cả phủ thừa Quốc úy đi khảo sát chung, thế mà liên tiếp phát hiện ra sáu doanh trọng pháo có binh khí thất tu, lương mạ áo giáp bảo quản không đúng cách! Mông Ngao tức thì bất an, hỏa tốc phái mấy tên quân lại tinh gọn bôn ba đến các doanh quan ải ải đốc thúc sửa chữa, kết quả vẫn bị Lã Bất Vi liên tục phát hiện sơ hở. Mông Ngao vô cùng chán nản, cảm thấy vị tân quan gai góc phái tới một người cứ khăng khăng muốn đốt ba ngọn lửa này rõ ràng là muốn bới lông tìm vết để hoãn binh. Cho đến tận những ngày cuối chạp, Lã Bất Vi bất chấp gió tuyết vội vã đến đại doanh Lã Điền để khảo sát lần cuối, Mông Ngao và các đại tướng hoàn toàn không còn tâm trí đâu để tiếp đãi vị tân quý này nữa, thế mà chỉ phái một tên trưởng sử đi theo để qua loa cho xong chuyện. Trải qua tháng giêng, vị Lã Bất Vi này cũng chẳng thèm ăn tết, thế mà một hơi khảo sát xong hơn mười quan khố ở Quan Trung, vẫn là khố nào cũng có sơ hở, Mông Ngao cười không được khóc không xong, tức giận đành dọn hẳn đến đại doanh Lã Điền không thèm về Hàm Dương nữa.
Cuối tháng hai băng sông tan chảy, một cuộn chiếu thư khẩn cấp triệu hồi Mông Ngao gấp rút về Hàm Dương.
Mông Ngao vạn vạn không ngờ tới, tân Tần vương lại hạ chiếu thư ngay tại chỗ — đại quân chỉnh bị, trong vòng ba tháng tùy cơ phát binh! Tần vương dựa vào chiếc gối lớn thở hồng hộc đẩy một cuộn thẻ tre về phía ngài: “Lão tướng quân, nếu không phải khảo sát tỉ mỉ, ta còn thật sự không biết phủ khố nước Tần lại phong phú nhường này. Không đánh trận, cũng là uổng phí đồ vật. Thế nhưng, vật chứa trong các quân khố sơ hở quá nhiều, tổn thất quá lớn, khiến người ta đau lòng thay. Đây là sổ thanh sách, lão tướng quânvụ tất phải chỉnh đốn lại quân doanh phủ khố trước khi phát binh.” Tim Mông Ngao đập thình thịch, tiếp lấy sổ thanh sách liền vô cùng hào hứng: “Đại vương chớ lo! Lão thần nhất định sẽ chỉnh đốn ra một quân khố thật tốt!”
Trở về phủ đìa lật cuốn thẻ tre ra, Mông Ngao xem xong giật mình thót tim! Thóc lúa mục nát mười ba vạn hộc, binh khí nỏ bị hỏng hơn sáu vạn chiếc, lều bạt mốc meo một vạn sáu nghìn tấm, xe gãy trục hơn ba nghìn chiếc, thùng xe hư hỏng hơn sáu nghìn chiếc, thuyền quân bị dột mười ba chiếc, dây da yên cương chiến mã đứt gãy hơn ba vạn bộ... Tổng cộng liệt kê mười ba khoản, khoản nào cũng có số lượng, có địa điểm phủ khố, có ấn tín của tướng quân trọng pháo, cuối cùng chính là hai phương ấn triện chữ nổi của Thái tử phó Lã Bất Vi và Quốc úy Tư Mã Ngạnh.
Không cần kiểm chứng, Mông Ngao cũng tin vào tính chân thực của cuốn sổ thanh sách.
Pháp độ nước Tần: Kho tàng phủ khố chia làm ba loại, một loại là phủ khố vương thất, chỉ chứa đựng đồ vật lương thực của vương cung vương thất; một loại là phủ khố bang quốc, chia làm hai cấp quốc khố và quận huyện khố, chứa đựng các loại tài vật dân dụng; một loại là quân khố, chuyên chứa đựng đồ vật lương mạ quân dụng. Chỉ nói riêng về đồ vật quân dụng, lại chia làm "Úy khố" và "Doanh khố". Úy khố là kho chuyên dụng của phủ Quốc úy trù tính quản lý toàn bộ vật tư quân dụng; Doanh khố là kho quân doanh trực thuộc tướng lĩnh đem binh. Hàng năm vào cuối năm, tất cả doanh khố đều phải báo cáo tổng mức tiêu hao và nhu cầu năm tới cho phủ Quốc úy, rồi do phủ Quốc úy báo cáo lên Thái khố lệnh của quốc phủ, Thái khố lệnh cuối cùng căn cứ vào chiếu thư của quốc quân, cùng phủ Quốc úy hạch định tổng số lượng toàn bộ đồ vật quân dụng cho năm tới, sau đó phân kỳ cấp phát. Thời đại Chiến Quốc đại chiến xảy ra nhiều và bất ngờ, để tránh việc không cứu kịp thời khi khẩn cấp, vật tư tiền tài mà phủ Quốc úy cấp phát cho doanh khố đại quân trước nay đều dư ra ba tháng, nếu gặp phải đại chiến Trường Bình kéo dài liên miên ác liệt, trên thực tế chính là Úy khố và doanh khố trực hợp làm một. Ngay cả trong tình thế bình thường, phủ khố quân doanh cũng có ít nhất kho tàng dư ra một tháng. Cứ như thế, phủ khố quân doanh phần lớn là đầy kho, trái lại Úy khố thường là nửa kho hoặc trống không. Nói cách khác, việc cất giữ đồ vật quân dụng trên thực tế phần lớn ở kho quân doanh thường xuyên, chứ không phải ở phủ khố Quốc úy. Thế nhưng, phủ khố đại quân đều do doanh trọng pháo lương thảo quản lý, tổng quản doanh trọng pháo không ngoại lệ đều là những tướng lĩnh vừa vững vàng vừa không kém phần dũng mãnh, trọng tâm quân vụ của họ trước hết là bảo đảm thông suốt tuyến đường lương thảo, chứ không phải bảo đảm kho tàng còn nguyên vẹn. Ngay cả khi trong doanh khố có một số ít quân lại thông thạo về việc bảo quản kho tàng, cũng không thể khiến tướng quân doanh khố coi việc bảo quản kho tàng là việc lớn để làm. Phần lớn thời gian, lương thảo binh khí của doanh khố đều chất đống ngoài trời, ngoại trừ những ngày mưa tuyết dùng rơm mạch hoặc lều bạt che phủ một chút, hầu như không còn bất kỳ phép tắc nào khác. Mông Ngao cũng từng làm tướng quân trọng pháo ba tháng, nhớ rõ ràng mỗi lần quân lại phủ Quốc úy đến hạch tra lương mạ đồ vật đều nhíu mày thở dài thườn thượt, mà cuối cùng đều là lắc đầu lặng lẽ bỏ đi. Bây giờ nghĩ lại, năm xưa quả thật là nhìn quen thành nhàm. Vị Lã Bất Vi này cũng thật khó lường, chỉ trong vògn ba tháng ngắn ngủi đã khảo sát phủ khố cả nước tỉ mỉ đến mức không sót một chi tiết nào, đặc biệt là đối với doanh khố đại quân, hầu như đã chải chuốt kỹ lưỡng một lượt, quả thực khiến người ta không thể không khâm phục.
Mông Ngao không nói hai lời, phi ngựa chạy thẳng tới phủ Quốc úy, mở miệng liền đòi sáu mươi quân lại quản lý kho tàng.
“Lão huynh đệ nói lời hồ đồ rồi!” Tư Mã Ngạnh tóc tai bạc trắng giống hệt cười ha hả.
“Lão ca ngươi chỉ nói có hay không? Cho hay không?”
“Đừng nói là sáu mươi, chỉ sợ sáu người cũng không có.”
“Đường đường phủ Quốc úy, mà sáu mươi lại viên quản lý kho tàng cũng không có!”
“Lão huynh đệ, lại viên quản lý kho tàng không phải thợ thủ công, là đi tuần tra chế ngự hiệu lệnh chỉ huy, ngươi nói có bao nhiêu?”
Mông Ngao chợt hiểu cười vang: “Ý của lão ca là, một lại viên quản lý kho tàng có thể quản lý nhiều bãi kho?”
“Vẫn chưa lú lẫn lắm.” Tư Mã Ngạnh lầm bầm một câu.
“Hay hay hay! Cho ba người là được!”
“Ba người? Ta tổng cộng chỉ có hai người thôi!”
“Hay hay hay! Mỗi nhà một người!”
“Lão huynh đệ thật là!” Tư Mã Ngạnh khóc không ra nước mắt, “Hơn hai mươi tòa phủ khố của ta tản mát khắp các quận huyện như sao trên trời, một người chạy nổi không? Lúc khẩn cấp còn bị Thái khố, Đại nội kéo đi giúp kho. Lại đi một người nữa, lão phu còn làm hậu thuẫn cho đại quân nữa không?”
“Mẹ kiếp!” Mông Ngao không khỏi nhíu chặt mày, “Nói như vậy, chính là Lã Bất Vi này đang làm khó lão phu rồi!”
“Lã Bất Vi ư?” Tư Mã Ngạnh chợt hiểu cười lên, “Lão huynh đệ cứ tìm hắn ấy, tuyệt đối không sai sót gì đâu!”
“Lão ca còn không có, một vị Thái tử phó lại có ư? Phép tắc của ngươi kém quá!”
“Ngươi biết cái gì chứ? Kho tàng binh khí của Lã Bất Vi, chỉ sợ ta phải bái hắn làm thầy rồi.”
Thấy vị lão Tư Mã vốn cẩn trọng trong lời nói lại đề cao Lã Bất Vi như vậy, trong lòng Mông Ngao lại giật thót một cái, vái chào một cái rồi sải bước ra cửa lên ngựa ra khỏi thành, qua cầu Bạch Thạch sông Vị Thủy liền hướng về trang viên nhà họ Lã mà đến. Mông Ngao từng nghe Mông Vũ nói, Lã Bất Vi này tuy làm Thái tử phó, nhưng lại đứng ngoài triều cục, trừ khi phụng chiếu, bình thường tổng ở tại trang viên của gia đình ở phía nam thành, phủ đìa trong thành trái lại mười phần thì có tới tám chín phần là trống không. Đến cửa trang viên cột kỹ chiến mã mã, Mông Ngao cũng không báo hiệu mà xách roi ngựa thẳng bước vào cửa. Đợi cho gia nhân ở sảnh cửa muốn ngăn cản mà không dám, liền phi nhanh vượt qua Mông Ngao đi vào trong trang để thông báo.
“Lão hủ bái kiến. Xin hỏi có phải Thượng tướng quân không?” Một vị lão nhân tóc bạc trắng vái chào ngay đầu hành lang ở chính sảnh.
“Các hạ quen biết lão phu ư?” Mông Ngao có chút kinh ngạc.
“Lão hủ từng gặp tướng quân Mông Vũ. Tiên sinh nhà ta vào phủ Thái tử chưa về. Thượng tướng quân mời.”
Mông Ngao vốn định cáo từ, nhưng trong lòng chợt động tâm thế là không kìm được bước vào trong. Sảnh đường bốn gian rộng rãi giản dị, dưới chân một màu gạch vuông lớn, trước vài chiếc bàn lớn cũng chỉ có một tấm chiếu cỏ, không có thảm lông, không có các vật phẩm lễ khí quý hiếm như đỉnh thanh đồng lớn, ngay cả tấm bình phong lớn ở chính giữa cũng là màu gỗ cực kỳ bình thường. Mông Ngao đảo mắt nhìn quanh một lượt không khỏi cười nói: “Người ta đồn nhà họ Lã giàu ngang nước, không ngờ lại giản dị thế này.” Tổng sự lão Tây Môn đứng nghiêm ở một bên đáp lại: “Nghĩa không tụ tài. Tiên sinh nhà ta lại vốn ghét sự xa hoa, lúc tài lực hùng hậu cũng là như thế.” Mông Ngao gật đầu một tiếng hay, liền đứng phắt dậy cười nói: “Làm phiền gia lão thông báo với tiên sinh: Hắn giao cho lão phu một nan đề, lão phu muốn đòi ở hắn một người thông thạo việc quản lý kho tàng. Trà nước không có thời gian thưởng thức đâu, cáo từ.” Nói xong vái chào một cái rồi hiên ngang sải bước rời đi.
Điều mà Mông Ngao không ngờ tới là, vào canh hai đêm đó, vị gia lão kia mang theo một phong thư giản của Lã Bất Vi cùng ba người trung niên đã đến phủ đìa Thượng tướng quân. Thư giản của Lã Bất Vi chỉ có hai câu: “Tuân theo lời dặn dò của Thượng tướng quân, phái tới ba tên chấp sự quản lý kho tàng, Thượng tướng quân cứ coi họ như quân lại mà đối đãi là được. Bọn họ nếu lập được chút công lao, cũng là con đường lập thân, Lã Bất Vi ta yên tâm rồi!” Tổng sự lão Tây Môn nói, ba vị chấp sự này đều là cán bộ kỳ cựu của thương xã nhà họ Lã năm xưa, chuyên tâm quản lý đại khố Trầm Thành, mười mấy năm nay chưa từng xảy ra bất kỳ sai sót nào. Mông Ngao hỏi thăm vài câu, thấy ba người này người nào cũng tinh gọn, trong lòng vô cùng an lòng, lập tức hạ lệnh cho trưởng sử đưa ba người vào danh sách định chức, trước tiên giữ lại ở trung quân đại doanh để chờ sử dụng.
Sáng sớm hôm sau, Mông Ngao dẫn theo toàn bộ quân lại thời chiến phóng ngựa như bay ra khỏi Hàm Dương.
Trong vòng một tháng, đại doanh Lã Điền trước sau vẫn chưa từng ngừng bận rộn, ban đêm đèn quân sáng trưng, ban ngày tù và liên hồi, ngoại trừ tiếng hô gầm chém giết ra thì âm thanh gì cũng có. Sửa chữa binh khí trọng pháo, xử lý áo giáp mốc meo, loại bỏ thương binh già yếu, chỉnh đốn tướng sĩ trọng pháo, chỉnh đốn trang thiết bị cỡ lớn, điều chỉnh bộ kỵ quan ải, xác định phương án tiến hành... quân Tần lâu ngày không đánh trận sau một tháng bận rộn căng thẳng, ba mươi vạn đại quân tinh nhuệ cuối cùng cũng tập kết xong xuôi tại đại doanh Lã Điền và ải Hàm Cụt.
Sáng sớm ngày mười sáu tháng tư giờ Mão, Mông Ngao lên soái trướng phát lệnh. Lá lệnh tiễn thứ nhất vừa giơ lên, chợt nghe ngoài trướng tiếng móng ngựa dồn dập như mưa lao tới, các đại tướng đầy trướng đang hoang mang, Tư Mã Ngạnh tóc tai bạc trắng đã lảo đảo xông vào trong trướng, hướng về Mông Ngao lắc tay một cái rồi ngã gục xuống giữa hai hàng đôn tướng. Mông Ngao một bước lao xuống soái án đỡ lấy lão Quốc úy, tay phải liền bấm vào huyệt nhân trung.
“Mật chiếu... mau...” Tư Mã Ngạnh thở như sợi chỉ, mềm nhũn ngã rạp trong vòng tay Mông Ngao.
“Đưa vào hậu trướng cứu chữa! Mau!” Mông Ngao vừa tháo túi thắt lưng của Tư Mã Ngạnh vừa quát lớn.
Chiếu thư ào ào mở ra, Mông Ngao vừa liếc mắt nhìn một cái liền phát ra một tiếng rên trầm, một ngụm máu tươi chợt phun ra, thân hình vạm vỡ mang đầy giáp trụ đổ sầm xuống soái án như núi! Mông Vũ hàng ghế đầu bước lên một bước, ôm lấy phụ thân rồi đi vào hậu trướng. Lão tướng Vương Ngật vô cùng kinh ngạc, phẫn nộ tiến lên nhặt chiếu thư lên, vừa mới liếc mắt một cái cũng ngã lăn xuống đất, chiếu thư ào ào rơi xuống mở ra, hai hàng chữ lớn đâm vào mắt đau nhói như dùi — Tần vương đột ngột qua đời! Xuất Đông dừng binh! Vương Lăng Mông Vũ ở lại trấn thủ Lã Điền, Mông Ngao Vương Ngật tức khắc quay về kinh đô!
Soái trướng tĩnh lặng như thung lũng u minh, từng tiếng thở dốc tựa như bầy sói bị thương bất thình lình. Chợt giữa lúc đó tia chớp lóe lên tiếng sấm nổ vang, mưa to trút xuống xối xả, màn mưa vô tận bao trùm lấy trời đất non sông. Trước trung quân đại trướng từ từ kéo lên một dải bạch phán khổng lồ, đại doanh Lã Điền rộng lớn hơn ba mươi dặm đã chìm nghỉm trong biển nước mênh mông.