Khi tôi trở lại nhà bà tôi Josefina. Tôi gần như không thể đứng vững. Bà phải lôi tôi lên những bậc thang. Bà thì già và nhỏ con, còn tôi thì khá là to lớn, nhưng Fina lại rất mạnh. Bà mạnh đến khó tin. Cứ như thể bà đã vác tôi lên hết các bậc thang vào trong phòng rồi đặt tôi lên trên giường. Tôi thì nóng và lạnh ghê người, cơn đau nhức xâu xé làm xương tôi như bị siết chặt hoặc là khô lại hoặc giả như có ai đang giẫm đạp lên vậy.}
“Chắc là bị cúm đấy.” - Bà già nhận xét, làm như tôi hỏi bà nghĩ xem chuyện quái gì đang xảy ra với mình.
“Thì sao?” - Tôi vặc lại.
“Bà không rõ liệu bố cháu đã kể cho cháu về mấy lời nguyền hay chưa...” - Bà già đi đến bên giường và đặt tay lên trán tôi để kiểm tra nhiệt độ.
“Ông ấy dạy cháu mọi thứ đấy.”
“Không tính mấy từ chửi thề[1]. Chửi thề thì như đấm thẳng vào mặt người khác, còn những lời nguyền thì như một viên đạn được bắn từ khoảng cách xa.” Bà đứng bên cạnh gấp một chiếc khăn ướt và đặt nó lên trán tôi: “Nếu người nào đó nhắm bắn cháu với một viên đạn từ khoảng cách xa, đa số sẽ không trúng đích và ngay cả khi nó trúng đích, nó thường không đủ giết cháu. Tất cả phụ thuộc vào mục đích của xạ thủ. Cháu nghĩ rằng chú của cháu chưa bao giờ cho cháu bất cứ thứ gì, và cháu cũng chưa bao giờ lấy gì từ ông ta, phải không?”
“Chưa bao giờ.” - Tôi đáp.
“Giờ chưa biết chắc được đâu.” - Bà bảo.
Bà ra ngoài rồi trở lại với một cái bát và một hộp sữa. Josefina đổ sữa vào bát, sau đó đặt chiếc bát dưới gầm giường của tôi. Bà đứng dậy, đi đến chỗ cất mấy cây nến ở phía bên kia căn phòng. Khi thắp nến, bà quay lại với ánh mắt như muốn nói tôi không được phép nhìn, rằng tôi nên nhắm mắt lại. Fina có ánh mắt sắc lẹm. Chúng màu xanh lục gần giống màu mắt của tôi, nhưng đậm hơn một chút — màu xanh của vảy cá sấu. Tôi nhìn lên trần nhà. Bà cầm một ly nước trở lại chỗ tôi.
“Uống đi.” - Bà nói: “Cụ nội đã nguyền rủa bà khi bà mười tám tuổi. Một lời nguyền Indian cổ xưa mà cụ bà tưởng rằng không có thật. Bà ấy nói thế. Bà ấy biết đủ nhiều để nói rằng nó là của người Indian, dù không có thật, nhưng chẳng thể làm gì hơn thế.” - Fina cười khẽ.
Tôi đưa lại cái cốc cho bà, nhưng bà đẩy nó về phía tôi: “Uống hết đi.”
“Lúc ấy bà cứ nghĩ mình đang yêu.” - Fina kể: “Bà đã có thai, đã đính hôn. Nhưng ông ta bỏ đi. Ban đầu, bà đã cố giấu bố mẹ. Nhưng một đêm nọ, cụ ông đến gặp bà để hỏi liệu bà có muốn đặt tên cho cháu trai của ông ấy hay không - cụ ông chắc chắn đó sẽ là một bé trai nếu bà đặt tên cho đứa bé theo tên của cụ. Sau đó, bà lấy hết can đảm để thú nhận là mình sẽ không kết hôn, dù mình đang mang thai và bởi người bố của đứa bé đã bỏ đi nên sẽ không có đứa trẻ nào được sinh ra cả. Cụ ông đã đuổi đánh bà bằng cái muỗng to mà thỉnh thoảng cụ vẫn dùng để doạ bà - cụ đã mài sắc cán cầm để khiến bà sợ, và lần này cụ đã thật sự đánh bà bằng cái đầu sắc. Cụ bà đã cố ngăn cụ ông lại. Ông ấy không nể mặt ai hay thứ gì, ngoài cụ bà ra. Sáng hôm sau, lúc xỏ chân vào giày, bà tìm thấy một nhúm tóc của cụ ông dưới giường. Khi bà xuống câu thang, cụ bà nói bà phải ra đi...” - Fina bước tới cửa sổ và mở nó ra: “Cần phải có chỗ cho không khí lưu thông. Căn phòng này cần thoáng hơn. Bà sẽ lấy thêm chăn nếu cháu bị lạnh.”
“Cháu ổn.” - Tôi nói, nhưng đó không phải là sự thật. Một cơn gió ùa vào và tôi có cảm giác như cái lạnh đang cào vào cánh tay và lưng. Tôi kéo chăn lên đến tận cằm: “Chuyện xảy ra ở New Mexico ạ?”
“Las Cruces...” - Bà nói: “Cụ bà đưa bà lên một chiếc xe buýt chạy đến Oakland, nơi chú của bà làm chủ một nhà hàng. Khi đến đây, bà mới phá thai và ốm nặng. Vật vã trong suốt khoảng một năm. Tệ hơn cháu bây giờ nhiều, nhưng cũng kiểu này, kiểu bệnh tật đánh gục và không cho phép ta đứng lên. Bà đã viết thư cho cụ bà để cầu xin sự giúp đỡ. Bà ấy gửi cho bà một chùm lông, bảo bà chôn nó ở góc tây một chậu cây xương rồng.”
“Một chùm lông?”
“Ngần này này.” - Bà nắm tay lại rồi giờ nó lên cho tôi xem.
“Cách đó có hiệu quả không?”
“Không phải ngay lập tức. Dẫu đến cuối cùng, bà cũng thực sự hết bệnh.”
“Thế có đúng là lời nguyền làm bà bị bệnh?”
“Bà đã tưởng thế, nhưng giờ đây, sau tất cả những chuyện đã xảy ra...” Có tiếng chuông điện thoại vang lên dưới tầng, bà ngừng nói và quay đầu nhìn về phía cánh cửa.
“Bà đi nghe điện đây, ngủ sớm đi.” - Bà tôi nói rồi rời đi.
Tôi duỗi người và một cơn rùng mình ập đến. Tôi kéo chăn qua đầu. Đôi khi những cơn sốt nghiêm trọng làm ta lạnh đến mức phải đổ mồ hôi để chống chọi lại nó. Nóng và lạnh, với những giọt mồ hôi đầm đìa chảy dọc cơ thể, tôi nghĩ về thứ bóng đêm đã xuyên qua cửa sổ và tường nhà để đưa tôi trở về với chiếc giường ấm êm.
❀ ❀ ❀
[1] Trong bản gốc tiếng anh, từ nguyên gốc "curse" mà tác giả dùng vừa có nghĩa làm "chửi thề", vừa có nghĩa là "lời nguyền"(ND).
Tôi và bố vừa mới di chuyển từ chiếc ghế dài trong phòng khách vào bàn trong bếp để ăn tối thì cơn mưa đạn tạt ngang căn nhà. Nó giống như một bức tường của âm thanh, sức nóng và tốc độ ập đến. Căn nhà rung chuyển. Chuyện xảy ra đột ngột, nhưng không quá bất ngờ. Anh trai tôi, Junior và ông chú Sixto đã lấy cắp cần với một lượng lớn từ tầng hầm của ai đó. Họ đã về nhà với hai cái bọc đen ngòm. Ngu không thể chịu được. Cứ làm như chỗ cần ấy từ trên trời rơi xuống và không kéo theo một đống rắc rối. Tôi đã phải bò từ phòng khách để vào bếp, xem tivi với cái bụng dán chặt lên sàn.
Đêm đó, bất cứ kẻ nào đã mất số cần vào tay thằng anh và ông chú ngu độn của tôi, đã ghé thăm và xả hết ổ đạn vào nhà, vào cuộc sống mà chúng tôi từng biết - cuộc sống mà mẹ và bố dành nhiều năm vun đắp. Bố tôi là người duy nhất bị trúng đạn. Lúc đó mẹ đang ở trong nhà vệ sinh, Junior ở trong phòng của gã, phía sau nhà. Chỉ có bố là ở đó, che chắn cho tôi khỏi những viên đạn bằng cơ thể chính mình.
Nằm trên giường chờ giấc ngủ đến, tâm trí tôi không kìm được mà dạt về phía Six. Đó là cách tôi thường gọi ông ấy, chú tôi, Sixto. Ông ta thì gọi tôi là Eight. Hồi còn nhỏ, tôi không biết nhiều về chú mình, nhưng kể từ sau khi bố qua đời, ông ấy bắt đầu đến nhà tôi vài ngày mỗi tuần. Cũng chẳng phải chúng tôi chuyện trò với nhau nhiều nhặn gì. Ông ta ghé qua và bật tivi, hút cần, uống rượu. Lão dạy tôi uống, chuyển điếu cần cho tôi. Tôi chưa bao giờ thích cảm giác phê pha. Cái thứ cứt ấy chỉ khiến tôi lo lắng, băn khoăn về tốc độ của nhịp tim mình. Tim tôi đập quá chậm, liệu có bao giờ nó bỗng dưng dừng lại? Hay là tim tôi đập quá nhanh, nó sẽ khiến tôi lên một cơn nhồi máu? Dù vậy, tôi thích uống.
Từ sau vụ nổ súng, Junior ra ngoài nhiều hơn hẳn, thề rằng anh ta sẽ cho những kẻ đó ăn đủ, rằng đây là một cuộc chiến, nhưng Junio chỉ nói mồm vậy thôi.
Thỉnh thoảng tôi và Six ngồi xem tivi lúc chiều muộn và mặt trời xuyên qua một trong những lỗ đạn nằm trên tường. Tôi có thể thấy rõ ràng lớp bụi lơ lửng sáng lên trong dải nắng hình lỗ đạn. Mẹ đã thay cửa sổ và cửa chính, nhưng bà không bận tâm đến những cái lỗ hổng trên tường. Không buồn bận tâm hoặc không muốn bận tâm.
Sau vài tháng, Sixto thôi không tạt qua và Fina bảo tôi dành nhiều thời gian hơn với hai đứa em họ Manny và Daniel. Mẹ chúng nó đã gọi cho Fina để nhờ giúp đỡ. Điều đó khiến tôi băn khoăn liệu mẹ tôi cũng đã gọi cho Fina để nhờ giúp đỡ sau khi bố qua đời, và đó có phải là lý do khiến Six thường ghé qua hay không? Fina nhúng tay vào tất cả mọi thứ. Bà là người duy nhất cố gắng giữ chúng tôi lại với nhau, không rơi vào những lỗ hổng mà cuộc sống mở ra từ hư không - như những viên đạn đã xé toạc nhà tôi đêm đó.
Kể từ khi mất việc, bố của Manny và Daniel uống rượu nhiều hơn hẳn. Lúc đầu tôi chỉ ghé sang đó vì Fina muốn vậy và không dám trái lời, nhưng sau đó tôi lại thân với Manny và Daniel. Chúng tôi không nói chuyện mấy, chủ yếu chỉ ngồi chơi điện tử dưới tầng hầm. Chúng tôi đã dành gần như toàn bộ thời gian rảnh rỗi cùng nhau khi không phải ở trường, và hoá ra người mà ta dành thời gian ở bên là bởi họ quan trọng hơn bất kể việc gì ta có thể làm trong thời gian đó.
Một ngày nọ, chúng tôi đang ở dưới tầng hầm thì nghe thấy tiếng ồn ào trên lầu. Manny và Daniel nhìn nhau như thể họ biết chuyện gì xảy ra và họ không muốn thế. Manny vụt dậy từ cái ghế dài. Tôi chạy theo sau cậu. Khi lên đến lầu, điều đầu tiên chúng tôi thấy là bố họ đang đẩy mẹ họ ngã vào tường, sau đó, từng tay ông tát bà lần lượt. Bà cố đẩy ông ra, nhưng ông ta chỉ cười. Tôi sẽ không bao giờ quên nổi tiếng cười đó. Và rồi bằng cách nào đó, Manny tiến đến, bóp nghẹt tràng cười khỏi bố mình. Cậu đứng ở phía sau và kéo giật cổ ông ta như thể cậu đang cố xé toạc từng hơi thở mà người đàn ông từng thở. Manny to lớn hơn bố mình, và cậu đã dùng hết sức. Họ giằng co và trượt vào phòng khách.
Nghe thấy Daniel đi lên cầu thang, tôi mở cửa, đưa tay lên như muốn nói: Ở lại đó. Rồi tiếng kính vỡ vang lên. Manny và bố cậu đã vấp phải cái bàn kính giữa phòng khách. Trong lúc vật lộn, Manny đã xoay sở để ngã xuống trên người bố mình và cả hai đè lên mặt kính. Cậu chỉ bị cắt một vết ở cánh tay còn ông bố thì bị thương khá nặng, cộng thêm những cú đấm trời giáng từ Many, tôi cứ sợ ông ta chết mẹ nó mất.
“Giúp tôi đưa ông ta lên xe!” - Manny nói với tôi. Thế là tôi vòng tay nhấc phần vai và đầu của bố cậu lên. Trên đường ra cửa trước, khi gần đến cửa, với Manny ở đầu kia đang giữ hai chân ông ta, tôi thấy Daniel và dì Sylvia nhìn chúng tôi khiêng người đàn ông ra khỏi nhà. Điều gì trong cách họ nhìn chúng tôi, cách họ bật khóc vì ước được thoát khỏi người đàn ông đó, nhưng cũng khóc vì ước ông trở lại như trước đây, gần như giết chết tôi. Chúng tôi bỏ người đàn ông ngay trên mặt đất ở trước khu Highland, nơi xe cứu thương đến, bấm còi một hồi thật dài, rồi lái đi.
Sau chuyện đó tôi dành nhiều thời gian với họ hơn. Chúng tôi thậm chí còn chẳng biết liệu ông ta có chết hay không cho đến một tuần sau, chuông cửa reo và như thể Manny biết, như thể cảm nhận được điều đó. Cậu gõ nhẹ vào đầu gối tôi hai lần và đứng lên. Chúng tôi đứng đó, ngay trước cửa hồi lâu, chẳng buồn nói một lời. Chúng tôi đứng đó đầy thách thức như muốn nói: Gì? Ông muốn cái đéo gì ở đây? Đi đi. Toàn khuôn mặt ông ta bị băng bó. Người đàn ông trông giống như một xác ướp chết tiệt. Tôi đã cảm thấy buồn cho ông ta. Sylvia xuất hiện từ phía sau chúng tôi với một cái túi rác màu đen chứa đầy quần áo của ông ta, miệng hét lên: “Tránh ra!”
Vì vậy, chúng tôi dạt sang hai bên, và dì ấy ném cái túi về phía người đàn ông. Manny đóng cửa lại. Chỉ vậy thôi.
Đó là khoảng thời gian mà tôi và Manny lần đầu đánh cắp một cái xe. Chúng tôi đã bắt xe điện đến trung tâm thành phố Oakland. Có một số khu phố đủ dư giả để mọi người sở hữu những chiếc xe đẹp nhưng cũng đủ bát nháo để những người như tôi và Manny có thể lượn lờ mà không gặp rắc rối với cảnh sát ngay lập tức. Manny muốn một chiếc Lexus. Xịn vừa phải. Không gây chú ý. Chúng tôi tìm thấy một cái màu đen dán đầy chữ nhũ vàng trên cửa kính màu. Tôi không biết Manny đã làm chuyện đạo chích xe cộ này trong bao lâu, nhưng cậu ấy tỏ ra rất thạo nghề với một cái móc áo, tuốc - nơ - vít và bật lửa. Bên trong chiếc xe có mùi như thuốc lá và da thuộc.
Chúng tôi lái xe xuống đường 14 phía Đông, nơi đã từng là phố Quốc tế, nhưng nó đã trở nên tồi tệ đến nỗi họ phải đổi tên nó thành một cái gì đó để rũ sạch quá khứ. Tôi lục lọi hộp đựng găng tay và tìm thấy một bao Newports[1]. Cả hai đều nghĩ rằng thật lạ bởi chúng tôi đoán chủ nhân chiếc xe là người da trắng mà lại hút Newports. Chúng tôi không có thói quen hút thuốc lá nhưng đã rít sạch cái bao, mở nhạc thật to và không nói một lời nào với nhau trong suốt chuyến đi. Phải nói rằng cảm giác thật thích thú khi được lái xe. Giống như ta có thể trở thành người khác, sống trong nhà họ, lái xe, hút thuốc của họ, ngay cả khi mọi chuyện chỉ xảy ra trong một hai giờ. Chỉ cần lái xe vào sâu khu Đông là chúng tôi sẽ ổn. Chúng tôi đậu xe ở bãi đậu của trạm Coliseum BART và trở về nhà Manny, say sưa trong vui sướng vì mọi chuyện thật dễ dàng. Chính quyền làm bạn sợ và nghĩ rằng mình phải tuân theo các quy tắc, nhưng chúng tôi đã học được rằng điều đó thật vớ vẩn. Ta có thể làm những gì ta muốn miễn là không để bị bắt quả tang. Vậy đó.
❀ ❀ ❀
[1] Là một thương hiệu thuốc lá bạc hà của Mỹ. có một giai đoạn dài, thương hiệu này hướng mục tiêu thị trường là người Mỹ gốc Phi (không phải người da trắng).
Một hôm tôi đang ở nhà Manny, bỗng Sylvia bước vào tầng hầm và nói với tôi rằng Fina đang chờ điện thoại. Bà chưa bao giờ gọi điện khi biết tôi ở đó. Daniel cầm lấy cái tay điều khiển của tôi trước khi tôi đi lên.
“Thằng đó đã giết họ!” - Fina nói.
Tôi thậm chí còn không thể hiểu ý bà.
“Chú của con, Sixto...” - Bà tiếp lời: “Nó đã gặp tai nạn khi đang chở cả hai người họ. Họ đã chết.”
Tôi chạy ra cửa trước, trèo lên xe đạp, và vội vã về nhà. Trái tim tôi dường như rơi hụt xuống, điên cuồng cầu xin rằng chuyện này không thể xảy ra. Trước khi về đến chỗ Fina, tôi đã nghĩ, vậy thì tốt nhất là Six cũng chết con mẹ lão đi.
Fina đứng ở ngay cổng. Tôi nhảy xuống xe và chạy vào trong nhà như thể tôi sẽ tìm thấy những người khác ở đó. Mẹ và anh trai. Six. Tôi phải tin rằng đó là một trò đùa khốn kiếp thay vì những gì nét mặt của Fina đã cố nói với tôi.
“Ông ta ở đâu?”
“Họ đã đưa nó vào nhà giam. Trung tâm thành phố.”
“Chuyện quái quỷ gì thế này?” - Đầu gối tôi mềm oặt, hai chân khuỵu xuống, tôi không khóc, nhưng cùng không thể di chuyển. Tôi đã cảm thấy buồn khủng khiếp trong một phút, nhưng ngay sau đó, cảm giác ấy xoay chuyển một trăm tám mươi độ, tôi đã gào hét. Fina lặng im bất động khi tôi trở lại với cái xe đạp và rời đi. Tôi không thể nhớ mình đã làm gì hoặc ở đâu vào tối hôm đó. Đôi khi ta chỉ cần rời đi, và rồi ta biến mất.
Sau đám tang, tôi chuyển đến ở cùng với Fina. Bà ấy nói với tôi rằng Sixto đã ra tù. Họ kết tội lão ta lái xe khi sử dụng cồn và tước đi bằng lái. Rồi họ thả lão ta. Fina bảo tôi đừng tìm gặp lão. Đừng bao giờ tìm gặp lão, hãy để mọi chuyện ngủ yên. Tôi không biết mình có thể làm gì nếu gặp lão, tôi chỉ biết là Fina sẽ chẳng ngăn cản nổi mình.
Trên đường đến nhà Six, tôi dừng xe ở bãi đậu một cửa hàng rượu mà tôi biết là họ chẳng bao giờ buôn kiểm tra ID xem khách hàng đã đủ tuổi vị thành niên hay chưa. Tôi bước vào, mua một chai rượu mạnh 750ml hiệu E&J. Đó là thứ Six hay uống. Tôi còn không biết mình có ý định làm gì ở đó. Trong tâm trí, tôi muốn khiến lão say xỉn và đánh lòi họng lão. Thậm chí là giết chết lão. Nhưng tôi biết mọi chuyện sẽ không diễn ra như thế. Six giỏi đánh đấm. Không phải là tôi không đủ điên để làm thế, chỉ là tôi không hình dung nổi cách việc đó xảy ra. Trên đường ra khỏi cửa hàng, tôi nghe thấy tiếng bồ câu gáy đâu đó ngay gần. Âm thanh ấy khiến tôi nổi da gà, không phải là kiểu lạnh sống lưng, nhưng cũng không phải là kiểu dễ chịu.
Dưới mái hiên sân sau nhà tôi đã luôn có những con bồ câu gáy. Một lần, khi cả hai đang cố sửa cái xe đạp của tôi ở sân sau, bố đã nói: “Âm thanh của chúng buồn quá, ta gần như muốn giết chúng để kết thúc nó.”
Sau khi bố mất, tôi cứ nghĩ mình nghe thấy nhiều tiếng bồ câu gáy hơn, có lẽ chỉ là do chúng gợi tôi nhớ về ông và thái độ của ông trước những kiểu nỗi buồn khác nhau. Tôi không muốn cảm thấy buồn. Nhưng tiếng của những con chim chết tiệt nghe thống thiết quá thể. Vì vậy, tôi đã đi vào sân sau với khẩu súng BB được tặng vào Giáng sinh hồi mười tuổi. Một trong số chúng đậu đối diện với bức tường, kiểu như nó thực sự đang hát cho tôi. Tôi bắn một lần vào sau đầu và hai lần vào lưng nó. Con chim bay lên ngay lập tức, lông của nó dựng lên rồi chầm chậm rơi xuống khi nó vỗ cánh. Con chim không bay được được bao xa, nó lảo đảo xoắn vòng rồi đáp xuống sân nhà hàng xóm kế bên. Tôi chờ đợi xem nó còn động đậy được không. Tôi nghĩ về việc nó cảm thấy như thế nào. Đau nhói trên đầu và trên lưng, ngay khi vừa cất cánh. Tôi thậm chí còn chẳng cảm thấy thương tiếc dù chỉ là một chút cho con chim, vì nó làm tôi cảm thấy buồn quá, kể từ khi bố tôi bị bắn và tôi nhìn xuống, thấy đôi mắt ông chớp chớp như không thể tin được. Rồi bố nhìn lên tôi giống như ông ấy mới là người có lỗi vì đã để tôi phải thấy ông ra đi theo cách này, hoàn toàn bất lực trước những khả năng bất ngờ ập đến trong cuộc sống.
Tôi gõ cửa nhà Sixto.
“Này, Sixto, này!” - Tôi gọi.
Tôi lùi xa khỏi căn nhà, nhìn vào cửa sổ trên lầu. Tôi nghe thấy tiếng bước chân. To và chậm. Khi Six mở cửa, lão ta thậm chí còn chẳng nhìn hoặc đợi tôi nói hay làm bất cứ điều gì, lão ta cứ thế quay gót vào nhà.
Tôi đi theo lão đến phòng ngủ, tìm chỗ ngồi trên một chiếc ghế cũ mà lão ta để trong góc phòng. Tôi đã rất ngạc nhiên vì thấy nó sạch sẽ trong khi phần còn lại của căn phòng thì bừa bộn không tả nổi, quần áo, chai lọ, rác rưởi, một ít thuốc lá, cần sa và bụi phủ khắp mọi thứ. Lão ta có vẻ buồn chết dẫm. Và tôi ghét khi thực tế rằng tôi đã muốn nói điều gì đó để lão cảm thấy khá hơn. Đó là lần đầu tiên tôi nhìn mọi thứ khác đi. Kiểu như tôi đồng cảm với lão, lão hẳn phải cảm thấy sầu muộn vô cùng về những gì mình đã gây ra.
“Tôi đã mua một chai.” - Tôi nói: “Hãy ra sân sau.”
Tôi nghe tiếng lão ta đứng dậy và đi theo khi tôi bước ra khỏi phòng.
Có vài chiếc ghế được đặt giữa một cây cam và một cây chanh trụi lá - tôi nhớ chúng từng sai trĩu quả - trong cái sân cỏ mọc um tùm, bao quanh bởi một hàng rào nham nhở. Chúng tôi uống trong im lặng. Tôi nhìn lão hút cần. Tôi cứ mong chờ lão ta bắt đầu cuộc trò chuyện, nói vài điều về những gì đã xảy ra với mẹ và anh trai, nhưng lão chẳng hé răng nửa lời. Six châm một điếu thuốc lá.
“Khi bọn chú còn bé…” Cuối cùng Sixto cũng lên tiếng: “Chú và bố cháu thường lẻn trốn vào tủ quần áo của bà nội cháu. Có một cái bàn thờ được đặt trong đó, với đủ các loại đồ thờ điên rồ. Ví như, bà cháu có một cái đầu lâu. Đó là hộp sọ của tộc người nhỏ bé. Bà kể với bọn chú rằng những người nhỏ bé đã đánh cắp trẻ sơ sinh và trẻ em. Bà còn có đủ chai lọ chứa đầy bột, các loại thảo mộc và các loại đá khác nhau. Một lần bà bắt gặp bọn chú ở đó. Bà bảo bố cháu ra ngoài. Anh ấy bèn bỏ chạy như điên. Thi thoảng bà nội có ánh mắt rất điên loạn, con ngươi biến thành màu đen như thể bà đã bí mật cất giữ một đôi mắt khác đằng sau đôi mắt màu xanh lá cây thường ngày. Chú nâng cái hộp sọ nhỏ đó trên tay. Bà bảo chú đặt nó xuống. Bà nói với chú rằng có một thứ gì đó trong chú, chú sẽ không thể trốn thoát được, nhưng chú có thể đối mặt với nó như một người đàn ông. Chết cùng nó. Nhưng chú có thể truyền nó lại trong gia đình. Chú có thể cho nó đi khi thời điểm tới. Ngay cả với người lạ. Đó là một thứ đen tối cũ xưa còn sót lại trong gia đình của chúng ta. Cũng như có người mắc bệnh di truyền, có người sinh ra với mái tóc đỏ, đôi mắt xanh. Còn chúng ta thì có thứ cổ xưa này, khiến ta phải hứng chịu nỗi đau đến tận xương tuỷ, khiến chúng ta trở nên xấu xa. Đó là những gì ta có. Đó là những gì ông nội cháu đã có trong người. Hãy là một người đàn ông, bà nói với chú. Giữ nó cho riêng mình.”
Sixto nhặt cái chai, ngửa cổ tu một hơi dài. Tôi nhìn Six thật sâu để đoán xem liệu lão ta có mong tôi nói gì không. Rồi lão thả cái chai xuống cỏ và đứng dậy. Tôi không thể tin rằng lão ta chẳng hề đề cập đến mẹ và anh trai tôi. Phải chăng lão ta đang cố tìm cách nói đến chuyện đó? Rằng đây chỉ là một lời giải thích dài dòng cho lý do tại sao tất cả mọi thứ cứt đái này lại xảy ra với gia đình tôi.
“Đi thôi.” - Lão nói với tôi như thể chúng tôi vừa bàn về việc đi đâu đó. Lão ta đưa tôi xuống tầng hầm. Lão rút ra một hộp gỗ trông giống hộp đựng dụng cụ sửa chữa, nói rằng đó là hộp tâm linh của mình.
“Chú cần cháu giúp.” - Giọng lè nhè, lão lấy ra một nhánh cây khô với sợi dây đỏ buộc quanh. Six châm nến đốt nó. Khói bốc lên dày đặc. Nó có mùi giống xạ hương, đất và Fina. Tôi không biết gì về những nghi lễ thổ dân cổ xưa - bất cứ điều gì chú tôi đang làm - nhưng tôi biết chúng tôi không nên say nó.
“Việc này bắt đầu từ lâu về trước...” - Six nói và đổ một ít bột vào tay lão ta. Rồi lão ra hiệu cho tôi cúi đầu lại gần, như để nhìn rõ hơn. Rồi Six hít một hơi thật dài và thổi nó vào mặt tôi. Làn hơi dày bụi cát lùa vào miệng, mũi tôi. Tôi sặc và xì mũi như một con chó.
“Chúng ta mang dòng máu bị nguyền rủa.” - Sixto nói: “Những vết thương này truyền lại từ đời này sang đời khác. Như một món nợ. Màu da của chúng ta đáng ra phải nâu. Cháu có thấy sắc trắng trên làn da của ta? Chúng ta phải trả giá cho những gì chúng ta đã làm với chính đồng bào mình.” - Đôi mắt của Six nhắm nghiền, đầu cúi xuống.
“Mẹ kiếp, chết tiệt, Six!” - Tôi chửi thề qua một tiếng ho rồi đứng dậy.
“Ngồi xuống!” - Six nói, bằng giọng điệu mà lão chưa bao giờ sử dụng với tôi trước đây: “Không phải tất cả đều là xấu. Sức mạnh của nó cũng vậy.”
Tôi ngồi xuống rồi lại đứng ngay dậy: “Tôi sẽ biến khỏi đây!”
“Chú bảo cháu ngồi xuống!” - Six thổi vào cái cây khô lần nữa, khói bốc lên dày đặc. Tôi cảm thấy nôn nao ngay lập tức. Nôn nao, yếu đuối. Tôi loạng choạng đi ra phía trước căn nhà, trèo lên xe đạp và đến chỗ Fina.
Khi tôi thức dậy vào ngày hôm sau, Fina bước vào phòng và lắc chùm chìa khóa xe trước mặt tôi: “Hãy đứng dậy, đi thôi.”
Tôi vẫn còn khá mệt, nhưng cơn sốt đã qua. Tôi cứ nghĩ chúng tôi sẽ đến cửa hàng tạp hóa hay gì đó tương tự. Nhưng khi chiếc xe chạy qua Thung lũng Castro, tôi biết đích đến không phải là cửa hàng tạp hóa. Chúng tôi cứ thế tiếp tục lái xe qua những ngọn đồi đầy cối xay gió. Tôi ngủ thiếp đi khi nhìn vào cái cối xay trông giống một đồng xu từ trò chơi điện tử Mario Brothers.
Khi thức dậy, chúng tôi đang ở trong một cánh đồng với hai hàng táo bên cạnh. Fina đứng trước mui xe, nhìn xuống thứ gì đó. Tôi định mở cửa bước xuống thì bị bà ra hiệu ngăn lại, nên tôi ngồi xuống mà không đóng cửa. Qua lớp kính, tôi thấy bà tôi quỳ xuống và kéo thứ gì đó bằng một sợi chỉ mảnh như cước câu cá, một thứ tôi không thể nhìn thấy, cho đến khi sinh vật ấy trèo lên kính chắn gió.
“Bứt lông nó, bứt một ít lông của nó!” - Fina hét lên. Nhưng tôi không thể cử động. Tôi chỉ nhìn chằm chằm vào nó. Cái quái gì vậy? Một con gấu mèo? Không, không phải. Và rồi Fina đè nghiến nó xuống. Nó có màu đen với một dải trắng chạy từ mũi đến sau gáy. Thứ đó đang cố cắn và cào bà, nhưng bà đã giữ được lưng nó, và nó không thể với lấy cái mui xe bằng kim loại. Khi nó có vẻ bình tĩnh lại, bà tóm cổ nâng con vật lên.
“Bước tới, lấy một ít lông của nó.” - Bà nội nói.
“Làm thế nào..- Tôi ngập ngừng.
“Bứt một nhúm lông chết tiệt của của nó bằng hai tay của cháu!” - Fina bảo.
Mệnh lệnh đủ rõ. Tôi ra khỏi xe và cố tiếp cận con vật từ phía lưng, nhưng nó xoay người nhìn tôi cảnh giác. Tôi đã vuốt lông nó hai lần nhưng không dám hành động vì sợ bị cắn. Sau đó, vào lần thử thứ ba, tôi đã bứt một nhúm lông từ phía sườn con vật.
“Bây giờ về lại trong xe!” - Fina nói và đứng dậy. Bà để thứ đó xuống đất. Bà dắt nó đi về phía cánh đồng, khuất vào sau hàng táo dày.
Khi bà trở lại xe, tôi đang ngồi đó với bàn tay nắm chặt một nhúm lông. Fina lôi ra một chiếc túi da có đính hạt và trang trí tua rua, mở nó rồi ra hiệu cho tôi đặt chỗ lông vào trong.
“Con vật đó là thứ gì vậy?” - Tôi hỏi khi chiếc xe đã lăn bánh được một lúc.
“Con lửng[1].”
“Tại sao ạ?”
“Chúng ta sẽ làm một hộp tâm linh cho cháu.”
“Ồ.” - Tôi đã đáp, như thể đồng ý đó là toàn bộ lời giải thích mà tôi cần.
Chúng tôi lái xe một lúc trong im lặng, rồi Fina nhìn tôi: “Từ lâu về trước, khi mặt trời còn chưa được đặt tên...” - Bà nội chỉ lên mặt trời đang nằm ngay trước mặt chúng tôi: “Họ không thể quyết định xem đó là đàn ông, đàn bà hay cái gì khác. Tất cả loài vật đều tranh cãi về chuyện này, và rồi một con lửng chui ra từ hang sâu dưới lòng đất và gọi một cái tên, sau đó nó lập tức chạy trốn. Những con vật khác đuổi theo con lửng. Nó bèn chui xuống đất và ở lại đó. Nó sợ muôn loài sẽ trừng phạt mình vì đã dám đặt tên cho mặt trời.”
Fina bật đèn nháy và chuyển làn đường để vượt qua một chiếc xe tải chạy chậm rì phía bên phải: “Một số người luôn cảm giác có cái gì đó bị mắc kẹt bên trong chính mình, như thể chúng ta đã làm gì sai. Như thể bản thân chúng ta là tội lỗi. Bản chất của chúng ta, của thứ mà chúng ta muốn đặt tên nhưng lại không thể, ta sợ bị trừng phạt nếu làm thế. Vậy nên chúng ta chạy trốn. Chúng ta uống rượu vì cảm giác được là chính mình, không còn sợ hãi. Nhưng chúng ta cũng trừng phạt chính mình bằng rượu. Thứ chúng ta không bao giờ muốn vướng vào lại tìm được đường lơ lửng ngay ở đó. Phép màu từ con lửng là thứ duy nhất có thể giúp đỡ. Cháu phải học cách ở lại dưới đó. Sâu trong bản thân cháu, không sợ hãi.”
Tôi quay đầu lại. Nhìn xuống vệt xám của con đường. Những gì bà nội nói đánh trúng tôi ngay giữa ngực. Tất cả những gì bà nói đều là sự thật. Chúng chồng chéo lên nhau, trên thân thể tôi, như một nút thắt.
“Chú Six cũng có một cái hộp tâm linh?”
“Cháu biết là nó có?”
“Bà cũng giúp chú ấy hả?”
“Thằng đó chẳng bao giờ để bà giúp làm bất cứ điều gì.” - Bà đáp, giọng nói vỡ òa. Bà tôi dụi mắt: “Nó tưởng nó có thể tự mình làm tất cả, nhưng hãy nhìn xem điều đó dẫn đến đâu.”
“Cháu muốn nói với bà một việc. Cháu đã đến gặp chú ấy.”
“Nó thế nào?” - Fina lập tức hỏi, như thể bà đã đợi tôi để cập đến chuyện này.
“Chú Six có vẻ ổn. Nhưng chúng cháu đã uống một chút. Sau đó chú ấy đưa cháu xuống tầng hầm, lảm nhảm về việc cho cháu thứ cứt gì đó rồi đốt một cái cây khô và thổi bột vào mặt cháu.”
“Cháu cảm thấy thế nào?”
“Kiểu như cháu muốn giết chết ông ta. Thật đấy.”
“Tại sao?”
“Ý bà là tại sao cái gì?”
“Nó không hề cố tình làm mọi chuyện, nó đã lạc lối.”
“Chú ấy đã tự biến cuộc đời mình thành một đống cứt.”
“Anh trai cháu cũng thế.”
“Six cũng phải chịu trách nhiệm cho điều ấy.”
“Thì sao? Tất cả chúng ta đều phải trải qua khó khăn. Quan trọng là làm thế nào để trở lại với cuộc sống từ vũng lầy.”
“Thế bà bảo cháu phải làm gì bây giờ? Anh cháu không thể trở về, gia đình cháu không thể trở về. Cháu không hiểu tại sao mọi chuyện lại như thế này.”
“Cháu không cần hiểu.” - Bà nội nói, kéo cửa kính xuống.
Trời đang nóng. Tôi cũng kéo cửa xe gần chỗ mình ngồi xuống.
“Thế giới có trật tự riêng của nó.” - Fina bảo: “Cháu không bao giờ có thể biết hết, hiểu toàn bộ cách mọi chuyện xảy ra. Đó là lý do tại sao thế giới lại vận hành như thế này. Chúng ta không thể biết. Vì vậy mà chúng ta tiếp tục sống.”
Tôi muốn nói điều gì đó nhưng không thể. Tôi không biết phải nói gì. Nó có vẻ vừa đúng mà cũng vừa chết tiệt sai. Tôi im lặng suốt phần còn lại của chuyến đi và nhiều tuần sau đó. Bà đã kệ tôi với khoảng không riêng của chính mình.
❀ ❀ ❀
[1] Một loài động vật chân ngắn, ăn tạp trong họ Chồn. Lửng mật là một trong những loài động vật hiếm hoi không sợ từ rắn hổ mang đến rắn châu Phi nhờ khả năng tự kháng độc.