Không Nhà

Lượt đọc: 103 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tony Loneman

❊ ❊ ❊

Lần đầu tiên tôi bắt gặp Drome[1] xuất hiện trong gương là khi sáu tuổi. Sớm ngày hôm đó, thằng nhóc Mario đang cùng tôi vui đùa gần chuồng khỉ ở công viên cát, nó đã hỏi tôi: “Tại sao khuôn mặt mày lại trông như thế?”

Tôi không nhớ mình đã đáp lại thế nào. Cho đến tận bây giờ vẫn không nhớ. Tôi chỉ nhớ vết máu trên thanh chắn và vị của kim loại trong miệng. Tôi nhớ cả việc bà ngoại Maxine lắc mạnh vai tôi trong sảnh bên ngoài văn phòng hiệu trưởng, tôi nhắm mắt lại, bà ngoại suỵt suỵt yêu cầu im lặng như bà vẫn làm mỗi khi tôi cố gắng tự giải thích. Bà chưa từng kéo tay tôi mạnh đến thế, rồi lặng lẽ lái xe về nhà.

Trở về nhà, trước khi kịp bật tivi lên, tôi thấy khuôn mặt mình phản chiếu trên tấm màn hình đen bóng. Đó là lần đầu tiên tôi thấy nó. Khuôn mặt của tôi, từ điểm nhìn của những người khác. Khi tôi hỏi, bà ngoại Maxine nói rằng mẹ đã uống rượu khi tôi còn ở trong bụng, và rằng - bà cố nói thật chậm để một đứa trẻ có thể hiểu - tôi mắc hội chứng FAS[2] từ khi mới lọt lòng. Tất cả những gì tôi nghe được chỉ là một từ “Drome” duy nhất, và rồi tôi quay lại với màn hình tivi đang tắt, nhìn chằm chằm vào nó. Khuôn mặt tôi ngay đó. Drome. Bất kể cố gắng ra sao, kể từ ấy, tôi không bao giờ cảm thấy nó là của chính mình nữa.

❀ ❀ ❀

[1] Drome: Âm cuối của chứng FAS - Fetal Alcohol Syndrome - ND.

[2] FAS: Fetal Alcohol Syndrome, một hội chứng xuất hiện ở trẻ em bởi sự lạm dụng rượu bia trong quá trình mang thai của người mẹ. FAS có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển trí tuệ, thể chất, hành vi của đứa trẻ - ND.

Hầu hết mọi người không phải nghĩ ngợi về ý nghĩa khuôn mặt của họ như tôi. Một khuôn mặt trong gương đang nhìn thẳng vào chính mình, hầu hết mọi người chỉ biết nó như vậy thôi. Thứ nằm ngay trên đầu mà ta sẽ không bao giờ tự nhìn được, cũng như ta sẽ không bao giờ thấy nhãn cầu của chính mình một cách trực tiếp, hay như ta không bao giờ ngửi rõ mùi hương mình toả ra. Nhưng tôi thì luôn biết khuôn mặt này trông như thế nào. Tôi biết nó có nghĩa là gì. Mắt tôi rủ xuống như đang say mềm, như đang mơ màng và miệng lúc nào cũng mở to. Có quá nhiều khoảng trống giữa những phần trên gương mặt tôi, mắt, mũi, miệng, tất cả tứ tán như một gã say đã tự tát vào mình trong khi với lấy một cốc rượu khác. Mọi người nhìn tôi rồi vội quay mặt đi khi chạm phải ánh mắt. Cũng vì Drome. Sức mạnh và lời nguyền của tôi. Drome là mẹ tôi và là lý do tại sao bà lại uống, là cách quá khứ nhào nặn một gương mặt, và cũng là cách tôi giữ mình đi tiếp dù nó đã huỷ hoại tôi kể từ ngày tôi bắt gặp nó phản chiếu trên màn hình tivi, nhìn chằm chằm vào mình như một nhân vật phản diện chó chết.

Giờ tôi đã hai mươi mốt tuổi, có nghĩa là tôi có thể uống rượu nếu muốn. Mặc dù vậy, tôi không. Tôi biết rằng mình đã uống đủ khi còn là một đứa bé trong bụng mẹ. Say sưa trong đó, một đứa bé khốn kiếp say xỉn, thậm chí còn chẳng phải là một đứa bé, mà là thứ nòng nọc chết tiệt nhỏ xíu, nối với một sợi dây, uốn éo trong tử cung.

Họ bảo tôi ngu ngốc. Họ không nói thẳng vậy, nhưng về cơ bản thì tôi đã trượt bài kiểm tra trí thông minh. Với điểm số thấp nhất có thể. Mức dưới cùng. Karen nói với tôi rằng con người có đủ loại trí thông minh. Cô ấy là người cố vấn tôi vẫn gặp mỗi tuần tại Trung tâm văn hoá người Indian, tôi đã bị yêu cầu đến đây để nhận hỗ trợ tinh thần từ sau vụ xô xát với Mario ở trường tiểu học. Karen nói rằng tôi không phải bận tâm với những gì họ cố áp đặt về trí thông minh. Cô ấy cũng nói những người mắc chứng FAS có trí tuệ đặc biệt, với nhiều kiểu tài năng khác nhau, rằng bài kiểm tra kia là vớ vẩn, và rằng tôi có một trực giác mạnh mẽ cộng với sự lanh lợi, rằng tôi thông minh lúc cần thiết, như tôi đã biết. Cảm giác thật tuyệt khi được nghe cô ấy nói, như thể trước đó tôi vẫn ngu ngơ và Karen đã cho tôi thấy những sắc màu mới.

Tôi thông minh. Tôi biết những gì mọi người thường nghĩ, những gì họ thực sự nghĩ ngay cả khi họ nói điều hoàn toàn ngược lại. Drome đã dạy tôi cách đọc thấu cái nhìn đầu tiên mọi người chiếu lên mình, và tìm ra sự thật nằm sau đó. Ta chỉ cần chờ đợi thêm một giây, ta sẽ bắt được nó, sẽ thấy những điều họ nghĩ trong đầu. Tôi biết mọi người đang bàn tán chuyện gì xung quanh. Tôi biết Oakland. Tôi biết họ cảm nhận ra sao về mình, rõ ràng như biết được lúc nào nên băng qua đường phố, lúc nào thì có thể nhìn xuống đất và tiếp tục bước đi. Tôi biết làm thế nào để phát hiện khi một người đang sợ hãi. Cái này thì dễ. Họ trưng ra điều ấy như một hình xăm trên tay, dấu hiệu van nài: Xin đừng đến gần. Họ nhìn tôi như thể tôi đã làm những trò khốn nạn, vì vậy có lẽ tôi sẽ thực sự cư xử khốn nạn như họ nghĩ.

Maxine nói rằng tôi là kiểu người duy tâm. Bà nói những người như tôi không nhiều, và khi chúng tôi xuất hiện, mọi người hiểu rằng chúng tôi trông khác biệt vì chúng tôi là khác biệt. Đó là sự tôn trọng. Tôi chưa bao giờ nhận được sự tôn trọng từ bất cứ ai, ngoại trừ bà tôi. Bà ngoại cũng nói chúng tôi là người Cheyenne, những người Indian vẫn hướng về cội nguồn dân tộc, về những gì đã từng là của mình. Tất cả điều này. Chó chết. Hẳn là hồi đó họ không được khôn lỏi cho lắm. Hãy cứ để những người đàn ông da trắng đến đây và chiếm lấy mọi thứ từ ta như thế. Buồn thay, người da đỏ có lẽ đã luôn biết vậy nhưng lại chẳng thể làm bất cứ điều gì để thay đổi. Họ đã không có súng mà chỉ có bệnh tật. Đó là những gì Maxine kể. Họ giết chúng ta với những thứ bẩn thỉu và bệnh tật của người da trắng, đưa chúng ta ra khỏi vùng đất tổ tiên để đến một vùng đất khốn kiếp chẳng trông nổi thứ chó gì. Tôi sẽ phẫn nộ nếu bị bứng ra khỏi Oakland, bởi vì tôi hiểu nơi này rất rõ, từ Tây sang tận chóp Đông và ngược lại, trên xe đạp, xe buýt hay xe thô. Đây là ngôi nhà duy nhất của tôi. Tôi sẽ không thể sống được ở bất cứ nơi nào khác.

Thỉnh thoảng, tôi đạp xe khắp thành phố Oakland chỉ để ngắm nhìn nó, những người đi đường với những chiếc mũ trùm đầu khác nhau. Đeo tai nghe phát nhạc MF Doom[1], tôi có thể đạp xe cả ngày. MF là viết tắt của Metal Face - Mặt Sắt. Anh ấy là rapper yêu thích của tôi. Doom đeo mặt nạ kim loại và tự gọi mình là Kẻ phản diện. Trước Doom, tôi không biết gì ngoài thứ âm nhạc xuất hiện trên radio. Rồi ai đó để quên chiếc iPod của họ ở ghế trước trên xe buýt. Những bài hát của Doom là thứ âm nhạc duy nhất trong đó. Tôi biết tôi thích anh từ khi nghe đến đoạn lời: “Hồn tôi dạt dào hơn một cái tất thủng”. Tôi thích vì hiểu trọn vẹn ý nghĩa của nó ngay lập tức, ngay lập tức. Việc ví linh hồn ta với một cái tất rách mang lại tính cách cho cái tất, có nghĩa là nó đã bị mòn, nhờ thế mà nó có linh hồn, giống như gan bàn chân bạn chính là phần đáy của bàn chân bạn. Đó là một điều nhỏ nhặt, nhưng lại khiến tôi cảm thấy mình không ngu ngốc. Không chậm. Không nằm dưới đáy. Và nó giúp ích bởi vì Drome là thứ mang lại linh hồn cho tôi. Và Drome cũng chính là một khuôn mặt bị bào mòn.

❀ ❀ ❀

[1] MF Doom: Tên thật là Daniel Dumile, sinh năm 1971, là một rapper, nhà sản xuất âm nhạc sinh ra ờ Anh, sau hoạt động chủ yếu ở Mỹ - ND.

Mẹ tôi đang ở trong tù. Thỉnh thoảng chúng tôi trò chuyện qua điện thoại, nhưng bà luôn nói vài thứ khiến tôi chỉ muốn cúp máy. Mẹ bảo bố ở đâu đó New Mexico[1]. Rằng thậm chí ông còn chẳng biết là tôi tồn tại trên đời.

“Vậy thì hãy nói với thằng cha đó về con!” - Tôi bảo.

“Tony, chuyện không đơn giản như thế!” - Bà đáp.

“Đừng nói với con thế nào là không đơn giản. Mẹ kiếp, đừng nói thế với tôi. Chính bà đã mang tôi đến cuộc đời chó chết này.”

❀ ❀ ❀

[1] Một tiểu bang vùng Tây Nam Hoa Kỳ, thành lập năm 1912.

Thi thoảng tôi lại phát điên. Điều gì đó vẫn xảy ra trong bộ não của tôi. Ở tất cả các ngôi trường bà Maxine đã chuyển tôi tới, tôi luôn bị đình chỉ vì đánh nhau, luôn là thế. Tôi sẽ phát điên và không còn ý thức được chuyện gì đang xảy ra. Mặt tôi nóng lên và cứng lại như được làm từ kim loại, sau đó tôi biến mất. Tôi là một thằng to xác. Và khoẻ như vâm. Quá khoẻ, Maxine nói. Theo một cách nào đó, ông trời cho tôi cơ thể to lớn để bù đắp một khuôn mặt thảm hại. Và việc trông như một con quái vật không còn quá tuyệt vọng nữa. Drome. Mỗi khi tôi đứng thẳng, khi tôi đứng thẳng và tỏ ra to lớn nhất có thể, không ai muốn dây vào. Mọi người chạy đi như thể họ nhìn thấy một con quái vật. Có lẽ tôi thực sự là một con quái vật. Có lẽ Maxine thậm chí còn không biết tôi là ai. Có lẽ tôi hoàn toàn trái ngược với kiểu người duy tâm như bà nghĩ. Có lẽ một ngày kia, tôi sẽ làm gì đó mà mọi người phải chú ý. Có lẽ đó là khi tôi thực sự được sống. Và mọi người có thể sẽ nhìn thẳng vào tôi, bởi vì họ buộc phải.

Người ta sẽ nghĩ vấn đề là ở chỗ tiền bạc. Cũng phải thôi, ai chẳng muốn cái thứ tiền bạc khốn kiếp? Họ nghĩ về lý do ta lại muốn có tiền, làm thế nào để có được nó, rồi tiêu xài ra sao. Tiền chẳng bao giờ làm cho ai thảm hại. Người ta vẫn nghĩ thế đấy. Tôi đã bán cần từ khi mới mười ba tuổi. Gặp khách hàng bằng cách suốt ngày lang thang quanh những khu nhà tập thể. Họ hẳn phải đồ rằng tôi đã luôn sống như thế, loanh quanh ngõ ngách và đủ thứ cứt đái. Mà cũng có thể không. Bởi nếu họ biết tôi bán cần, có lẽ họ đã đá đít tôi từ lâu rồi. Có khi họ còn cảm thấy thương tôi. Quần áo thì nhếch nhác, mặt mũi lại kì quặc. Tôi đưa hầu hết số tiền kiếm được từ việc bán cỏ cho Maxine. Tôi cố gắng giúp bà bằng mọi cách có thể bởi vì bà để tôi sống ở nhà mình, một ngôi nhà nằm phía Tây Oakland, cuối đường 14, ngôi nhà bà đã mua từ hồi còn làm y tá ở San Francisco. Giờ thì bà tôi cần một người y tá để chăm sóc mình, nhưng lại chẳng chi trả nổi với số tiền nhận được từ tổ chức An sinh xã hội. Bà cần tôi giúp làm tất cả các loại việc vặt chó chết. Đi siêu thị. Đi cùng xe buýt để được tích điểm. Giờ tôi còn phải dìu bà đi xuống cầu thang nữa. Thật khó để tin rằng một bộ xương có thể già đến mức cứ chực chờ mủn ra, vỡ thành những mảnh nhỏ trong thân thể như thủy tinh. Sau khi bà bị gãy xương hông, tôi bắt đầu trở nên hiếu thuận hơn.

Maxine thích được nghe mấy trang sách trước khi ngủ. Tôi thì chẳng lấy làm thích thú gì vì tôi mắc chứng đọc chậm. Các chữ cái thi thoảng lại bò lộn xộn giống như những con bọ. Bất cứ khi nào muốn, chúng sẽ đổi chỗ cho nhau. Nhưng cũng có lúc từ ngữ bất động. Khi chúng đứng yên như vậy, tôi phải chờ đợi để chắc chắn rằng chúng sẽ không di chuyển, vì vậy tôi lại càng mất nhiều thời gian hơn để đọc so với lúc chúng nghịch ngợm chán chê. Maxine đòi tôi đọc những thứ về người Indian mà nhiều lúc tôi chẳng hiểu nổi. Thú vị là, một khi hiểu được, tôi sẽ thấy loại cảm giác đau đớn, nhưng tốt đẹp hơn, một thứ cảm giác ta không thể đoán ước trước khi đọc, và nó khiến ta bớt cô đơn, như thể sẽ không còn buồn đau nữa. Một lần, Maxine đã dùng từ tàn khốc sau khi nghe một đoạn văn của tác giả bà yêu thích, Louise Erdrich[1], viết lan man về cách cuộc sống quật ngã ta. Về lý do chúng ta ở đây, ngồi bên cây táo đợi cho những quả chín già rụng xuống và chất đống xung quanh, rồi ta lãng phí sự ngọt ngào đó. Tôi không hiểu ý nghĩa của đoạn văn ấy, bà cũng biết là tôi không hiểu. Maxine chẳng buồn giải thích. Nhưng chúng tôi đọc lại đoạn văn thêm một lần nữa, rồi đọc toàn bộ cuốn sách, và tôi đã hiểu.

Maxine luôn hiểu và nhìn thấu tôi theo cái cách mà không ai có thể. Thậm chí, bà hiểu rõ tôi hơn cả chính bản thân tôi - Ngay cả khi tôi không ý thức được điều mình đang thể hiện trước người khác. Cả khi tôi cảm thấy mọi thứ xung quanh mình và cách mọi người nhìn nhận hay đối xử với tôi thay đổi quá nhanh, cả việc tôi sẽ mất bao nhiêu thời gian để chờ đợi và sắp xếp lại mọi thứ.

❀ ❀ ❀

[1] Louise Erdrich: Tên khai sinh Karen Louise Erdrich, sinh năm 1954, là một nhà văn người Mỹ với nhiều thể loại sáng tác như tiểu thuyết, thơ, truyện thiếu nhi - ND.

Làm thế nào mà tất cả những chuyện này lại có thể xảy ra, tất cả những rắc rối tôi vướng vào, phải chăng nó bắt đầu từ giây phút những thằng nhóc da trắng từ khu đồi đến gặp tôi ở bãi đậu xe ngoài cửa hàng rượu phía Tây Oakland, đứng thẳng như chúng nó chẳng hề sợ tôi. Nhưng tôi biết chúng nó sợ. Sợ khu phố đó chứ không phải tôi, bởi mấy thằng nhóc cứ ngó nghiêng liên tục. Kiểu như chúng cho rằng, tôi sẽ chẳng là cái thá gì với vẻ ngoài này. Rằng trông tôi quá chậm để đánh đấm.

“Mày có tuyết không?” - Cái thằng đội mũ tai bèo cao ngang ngửa tôi hỏi. Tôi suýt thì cười vào mặt nó. Đúng kiểu mấy thằng hề da trắng khi gọi coke[1] là tuyết.

“Tao có thể lấy cho mày một ít.” - Tôi đáp, ngay cả khi không chắc rằng có thể: “Quay lại đây sau một tuần, vẫn giờ này.”

Tôi sẽ hỏi Carlos.

Carlos là một thằng buôn thuốc cấm. Vào cái đêm đáng ra nó phải mang hàng về, nó gọi cho tôi bảo rằng nó không làm được, và tôi phải tự mình đến chỗ của Octavio.

Tôi đạp xe từ ga BART, Coliseum. Nhà của Octavio ở mãi tận phía Đông Oakland, đường 73, đối diện nơi từng là Trung tâm mua sắm Eastmont Mall trước khi tình hình kinh doanh trở nên bết bát đến nỗi người ta phải biến nó thành đồn cảnh sát.

Khi tôi đến nơi, đám đông đang đổ ra đường từ căn nhà như thể vừa có một vụ ẩu đả dữ dội. Tôi ngồi yên trên chiếc xe đạp của mình cách đó một toà nhà, nhìn những người say rượu lang thang dưới đèn đường, trông ngu ngốc như những con thiêu thân say sưa vì ánh sáng.

Khi tôi tìm được Octavio, thằng cha đã nát lắm rồi. Tôi luôn liên tưởng đến mẹ khi nhìn thấy vậy. Tôi tự hỏi bà đã say xỉn đến độ nào khi trong bụng đã có tôi. Bà đã thấy vui sướng? Cũng như, tôi thắc mắc khi còn là thai nhi, liệu mình đã thích cảm giác ấy?

Đầu óc Octavio vẫn khá minh mẫn ngay cả khi những chữ gã nhả ra cứ ríu vào nhau. Gã vòng tay ôm tôi và dẫn tôi ra sân sau, nơi có một cái ghế dài dưới gốc cây. Tôi dừng xem gã làm bộ nâng tạ với cái thanh đòn một lúc. Có vẻ như tự gã chẳng buồn quan tâm rằng cái thanh đòn ấy không có bánh tạ. Tôi đợi xem khi nào thì gã tò mò hỏi về khuôn mặt của mình. Nhưng gã đã không. Tôi nghe Octavio huyên thuyên về bà mình, về cách bà già cứu mạng gã sau khi gia đình tan vỡ. Gã kể rằng bà ta đã nguyền rủa Octavio với cái khăn lông chồn, và rằng bà ta gọi bất cứ ai không phải người Mexico hoặc người Indian là gachupins - một căn bệnh đã theo chân người Tây Ban Nha đến vùng thuộc địa, bà ta vẫn tin rằng chính người Tây Ban Nha là thứ dịch bệnh ấy. Gã kế gã chẳng bao giờ nghĩ mình sẽ trở thành kiểu người như hiện tại. Tôi cũng không biết ý Octavio là gì, một thằng say rượu, một thằng buôn bán ma túy, hoặc cả hai, hay là cái gì khác?

“Tao dám móc cả tim gan mình ra vì bà cụ.” - Octavio nói.

Tim gan nóng hổi. Đó cũng là cách mà tôi cảm thấy với Maxine. Gã nói với tôi rằng gã không định tỏ ra sến sẩm và sướt mướt, chỉ là chưa từng có ai khác lắng nghe gã. Tôi biết thực ra bởi vì Octavio đã say khướt rồi. Và có lẽ gã sẽ chẳng nhớ về mấy lời tâm sự ẻo lả này. Lúc ấy tôi chẳng ngờ rằng về sau mình cũng sẽ tìm đến Octavio để kể lể tất cả mọi thứ.

Hóa ra những thằng nhóc da trắng dớ dẩm ở khu Đồi có kha khá bạn bè.

Chúng tôi kiếm được một mẻ lớn trong mùa hè. Rồi một hôm, khi đang lấy hàng, Octavio rủ tôi vào nhà và bảo tôi ngồi xuống.

“Mày có phải là người bản địa không?” - Gã hỏi.

“Phải!’ - Tôi đáp, tự hỏi làm thế nào mà gã biết - “Người Cheyenne!”

“Thế powwow là cái gì?” - Gã lại hỏi.

“Mày hỏi làm gì?”

“Cứ trả lời đi.”

Maxine đã đưa tôi đến những powwow rải rác quanh vịnh từ khi còn nhỏ. Giờ không còn nữa, nhưng tôi cũng từng thích mấy trò nhảy nhót.

“Bọn tao mặc trang phục người da đỏ, với đủ loại lông và hạt trang trí trông nhảm cứt. Bọn tao nhảy. Hát và đánh trống, rồi mua bán mấy thứ đồ Indian như trang sức hay quần áo hay đồ thủ công.” - Tôi kể.

“Ờ, nhưng chúng mày làm thế để làm gì?”

“Tiền!” - Tôi nói.

“Không! Hỏi thật đấy, tại sao bọn mày lại làm mấy chuyện đó?”

“Tao không biết!”

“Ý mày là sao? Sao lại không biết?”

“Thì để kiếm tiền chứ sao, thằng điên!” - Tôi nói.

Octavio nhìn tôi chằm chằm thách thức, như nhắc nhở: Hãy nhớ mày đang nói chuyện với ai.

“Tao với mày cũng sẽ đến cái chỗ powwow đấy.” - Octavio bảo.

“Cái người ta đang tổ chức ở quảng trường á?”

“Ờ.”

“Để kiếm tiền?”

Octavio gật đầu, rồi gã quay người để cầm lên một thứ mà lúc đầu tôi đã không thể nhận ra rằng đó là một khẩu súng. Nó nhỏ và trắng.

“Cái quái gì vậy?” - Tôi tò mò.

“Nhựa thôi!” - Octavio đáp.

“Nó có được việc thật không?”

“Đây là mô hình in ấn 3-D. Mày muốn xem không?”

“Xem?” - Tôi hỏi.

Ra ngoài sân sau, tôi dùng cả hai tay nhắm khẩu súng vào lon Pepsi buộc trên một sợi dây, lè lưỡi và nhắm một mắt lại.

“Mày đã bao giờ thử bắn súng chưa?”

“Chưa!” - Tôi đáp.

“Cái thứ cứt này sẽ khiến mày ong tai đấy.”

“Tao thử nhé!” - Tôi nói.

Trước khi đợi được câu trả lời, tôi cảm thấy ngón tay mình siết cò và ngay lập tức rung chấn lan qua toàn thân. Có một khoảnh khắc tôi không ý thức được chuyện gì đang xảy ra. Tiếng nổ đi kèm cái siết cò, cơ thể tôi như vỡ tan ra và rơi hụt. Tôi vô thức ngồi sụp xuống. Tiếng chuông vang lên, ở cả trong lẫn ngoài, một thanh âm vọng rất xa, rất sâu. Tôi nhìn lên Octavio và thấy gã nói gì đó, bèn hỏi lại Gì cơ, nhưng thậm chí còn không thể nghe tiếng của chính mình.

“Tao với mày sẽ dùng nó để cướp powwow.” - Cuối cùng thì tôi cũng nghe được những lời Octavio nói.

Tôi nhớ có máy dò kim loại ở lối vào lễ hội. Cái gậy chống của Maxine, bà già phải dùng nó từ sau khi bị gãy xương hông, đã khiến cái máy kêu ngậu. Chúng tôi đã đến đó vào tối thứ Tư, đêm Đô-la, để xem đội A[2] chơi bóng chày, đó là đội mà Maxine và những người sống ở Oklahoma ủng hộ suốt bao năm qua vì Oklahoma không có đội chơi của riêng họ.

Trên đường ra, Octavio dúi vào tay tôi một tờ rơi về powwow, liệt kê tiền thưởng cho mỗi thể loại khiêu vũ. Bốn suất thưởng trị giá năm ngàn và ba suất thưởng trị giá mười ngàn

“Đấy là số tiền lớn.” - Tôi nói.

“Tao chẳng bao giờ muốn làm mấy chuyện này, nhưng tao đang dính vào nợ nần.” - Octavio nói.

“Mày nợ ai?”

“Không phải việc của mày.”

“Tao với mày vẫn ổn chứ?” - Tôi hỏi.

Về đi.” Octavtio đáp.

❀ ❀ ❀

[1] Coke: Tiếng lóng của giới trẻ Mỹ, chỉ cocaine và các chất gây nghiện khác - ND.

[2] Đội A - tức là Oakland A's (viết tắt của Oakland Athletics), là đội bóng chày chuyên nghiệp người Mỹ, có trụ sở tại Oakland, California, chơi ở Liên đoàn Mỹ (AL). Đây là đội đã giành được 9 chức vô địch World Series và 15 cờ hiệu AL.

Đêm trước lễ powwow, Octavio gọi cho tôi và nói rằng tôi sẽ là người phải giấu đạn.

“Ở trong bụi rậm, thật hả?” - Tôi nói.

“Ờ.”

“Tao sẽ phải ném túi đạn vào bụi rậm ở ngay lối vào?”

“Nhét đạn vào một cái tất ấy.”

“Nhét đạn vào cái tất và ném nó vào bụi rậm?”

“Đúng đấy?”

“Nhưng mà...”

“Gì?”

“Không có gì.”

“Mày hiểu chưa?”

“Tao kiếm đâu ra đạn, loại nào?

“Ở Walmart, cỡ .22s.”

“Mày không thể tự in cả đạn à?”

“Không. Chưa thể.”

“Thôi được.”

“Còn một điều nữa...” - Octavia nói.

“Ờ?”

“Mày vẫn còn giữ mấy thứ da đỏ nhảm cứt để mặc chứ?” “Ý mày là sao? Mấy thứ da đỏ nhảm cứt là gì?”

“Tao không biết, mấy thứ trang phục gắn lông nhảm cứt ấy.”

“À, biết rồi.”

“Mày phải mặc nó.”

“Nhưng giờ nó không còn vừa nữa.”

“Làm cho nó vừa.”

“Ờ.”

“Mặc nó đến powwow.”

“Được rồi!” - Tôi nói và cúp máy. Tôi lấy bộ regalia[1] của mình ra và mặc vào. Tôi đi ra phòng khách, đứng trước tivi. Đó là nơi duy nhất trong nhà mà tôi có thể nhìn thấy toàn bộ cơ thể mình. Tôi lắc người và nhấc một chân lên, nhìn những chiếc lông vũ tung bay trong màn hình. Tôi đưa tay ra và nhún vai, rồi tôi bước đến gần cái tivi. Tôi siết chặt quai đeo cằm, nhìn vào khuôn mặt mình. Drome. Nó không còn ở đó. Tôi chỉ thấy một người Indian. Một vũ công.

❀ ❀ ❀

[1] Regalia: Trang phục truyền thống được mặc trong những dịp đặc biệt của người thổ dân da đỏ - ND.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.