Không Nhà

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Opal Victoria Viola Bear Shield

❊ ❊ ❊

Tôi và chị gái, Jacquie, đang làm bài tập trong phòng khách với cái tivi bật to đúng lúc mẹ trở về và mang theo tin tức rằng chúng tôi sẽ chuyển đến Alcatraz.

“Đóng gói đồ đạc đi. Chúng ta sẽ chuyển tới đó. Ngay hôm nay!” - Mẹ nói. Và chúng tôi hiểu điều này nghĩa là gì. Chúng tôi sẽ tránh lễ Tạ ơn ở đó.

Hồi đó, cả gia đình sống ở phía Đông Oakland, chúng tôi có một ngôi nhà màu vàng. Đó là ngôi nhà sáng nhất nhưng nhỏ nhất trong khu phố. Một phòng ngủ hai giường với căn bếp bé đến nỗi không kê vừa một cái bàn. Tôi không thích sống ở chỗ ấy, thảm lót sàn thì mỏng và có mùi như bụi đất. Chúng tôi không có lấy một chiếc ghế dài hay tivi, nhưng nó còn tốt chán so với những nơi trước đây.

Một buổi sáng, mẹ vội vàng đánh thức chúng tôi, mặt bà tím bầm. Bà mặc chiếc áo khoác da màu nâu quá khổ cứ chực tuột xuống khỏi vai. Hai bờ môi bà sưng lên. Đôi môi lớn bất thường khiến tôi bối rối. Mẹ không nói được rõ ràng, cố gắng bảo hai chị em gói ghém đồ đạc.

Họ của Jacquie là Red Feather, còn của tôi thì là Bear Shield. Cả hai người cha đã bỏ mẹ mà đi. Trong buổi sáng mẹ về nhà với khuôn mặt bị đánh đập, chúng tôi bắt xe buýt đến một ngôi nhà mới, ngôi nhà màu vàng. Tôi không biết làm thế nào mà bà kiếm được một ngôi nhà. Trên xe buýt, tôi tiến lại gần mẹ, ủ tay vào túi áo khoác.

“Tại sao mình lại có những cái tên như thế này ạ?”

“Chúng đến từ những danh pháp trong tiếng người bản địa cổ. Chúng ta đã có cách đặt tên riêng trước khi những người da trắng xuất hiện và lan rộng tên họ mới để nắm quyền ảnh hưởng lên thổ dân.”

Tôi đã không hiểu lời giải thích về các dòng họ. Và tôi đã băn khoăn liệu Bear Shield (Khiên Gấu) có nghĩa là những chiếc khiên mà loài gấu dùng để tự bảo vệ mình, hay là những chiếc khiên mà con người dùng khi đối diện loài gấu, hay nó chính là những chiếc khiên được làm ra từ những con gấu? Bất kể thế nào, thật khó để giải thích điều đó ở trường, làm thế nào mà tôi lại là Khiên Gấu, và đó thậm chí còn chẳng phải là phần tồi tệ nhất. Phần tệ nhất là tên tôi, hai chữ: Opal Viola. Tôi có tên Opal Viola Victoria Bear Shield. Victoria là tên mẹ, mặc dù bình thường người ta vẫn gọi bà là Vicky, và phần Opal Viola đến từ bà ngoại, người mà chúng tôi chưa bao giờ gặp. Mẹ nói rằng bà ngoại là một phụ nữ duy tâm và là ca sĩ hát những bài hát tâm linh, vì vậy tôi nên mang theo cái tên dài dòng cổ lỗ đó đi khắp nơi với lòng tự hào. Những đứa trẻ khác đã không phải bịa thêm vần điệu hay lái chữ để khiến cái tên trở nên buồn cười hơn. Chúng nó chỉ việc đọc to toàn bộ tên tôi và cười nắc nẻ.

Chúng tôi lên xe buýt vào một buổi sáng xám xịt lạnh lẽo cuối tháng Giêng, năm 1970. Tôi và Jacquie đeo những chiếc túi màu đỏ cũ kỹ có gắn bánh xe giống nhau, chẳng đựng được bao nhiêu đồ. Dù sao thì chúng tôi cũng không có nhiều mà gói ghém. Tôi đã mang theo hai bộ đồ và ôm chú gấu bông bạn thân, Two Shoes (Hai Chiếc Giày), trên tay. Cái tên Two Shoes đến từ chị Jacquie, bởi vì chú gấu bông thời thơ ấu của chị chỉ có một chiếc giày. Nó không phải tên là One Shoe (Một Chiếc Giày), nhưng có lẽ tôi nên thấy mình may mắn khi có được chú gấu với đầy đủ hai chiếc giày. Nhưng sau đó, họ sản xuất những chú gấu chân trần, vì thế có khi tôi cũng chẳng may mắn lắm.

Ra đến vỉa hè, mẹ quay mặt về hướng ngôi nhà: “Hãy nói lời tạm biệt với nó, các con.”

Tôi có thói quen kiểm tra cửa trước để chắc chắn rằng không có cái thông báo trục xuất nào dán trên đó. Nếu có một cái thì nó sẽ luôn ở đó. Mẹ giữ chúng được dán nguyên vẹn trên cửa rồi bao biện rằng bà chưa bao giờ nhìn thấy chúng, và có thêm một chút thời gian.

Tôi và Jacquie nhìn ngôi nhà. Nó ổn, ngôi nhà màu vàng. So với những chỗ ở trước. Nơi đầu tiên chúng tôi sống mà không có bóng dáng một trong hai người cha, vì vậy, nó yên tĩnh và ngọt ngào, giống như chiếc bánh kem chuối mà mẹ đã làm trong đêm đầu tiên chúng tôi ở đó, khi bình gas vẫn hoạt động còn điện thì chưa có, chúng tôi đã đứng ăn trong bếp, dưới ánh nến.

Hai chị em vẫn mải suy nghĩ xem phải tạm biệt căn nhà thế nào thì mẹ hét lên “Bus!” và chúng tôi phải đi theo sau bà, kéo những chiếc túi màu đỏ có bánh lăn giống hệt nhau.

Lúc đó là giữa trưa, trên xe vắng tanh. Jacquie ngồi cách vài hàng ghế như thể chị ấy không quen biết chúng tôi, như thể chị ấy đang đi một mình. Tôi muốn hỏi nhiều hơn về hòn đảo, nhưng tôi biết mẹ không thích nói chuyện trên xe buýt. Mẹ cũng giống như Jacquie. Làm bộ rằng tất cả chúng tôi không quen biết nhau.

“Tại sao chúng ta lại nói về việc riêng của mình xung quanh những người xa lạ?” - Mẹ bảo.

Sau một lúc, tôi không thể chịu nổi thêm nữa. “Mẹ ơi!” - Tôi nói: “Chúng ta đang làm gì thế?”

“Chúng ta đang đi thăm họ hàng. Những người Indian. Chúng ta sẽ đi đến nơi có cái nhà tù cũ. Bắt đầu từ bên trong phòng giam, nơi hiện tại chúng ta ở, những người Indian, nơi mà họ đã đưa chúng ta đến, mặc dù họ cố làm như họ không ép chúng ta phải ở đó. Chúng ta sẽ tìm cách vượt ra từ bên trong bằng một cái muỗng. Đây, con nhìn này.”

Mẹ đưa cho tôi một xấp thẻ có kích thước giống như những lá bài từ trong ví. Bạn có thể nhìn thấy hình ảnh đó ở khắp mọi nơi, bóng của một người Indian cưỡi ngựa, phía mặt còn lại in dòng chữ Lời tiên tri Ngựa điên. Tôi đọc nó:

Vượt xa khỏi nỗi khổ; Quốc gia Đỏ sẽ sống lại và trở thành phước lành cho một thế giới mục ruỗng. Một thế giới đầy những lời thất hứa, sự ích kỉ và chia ly. Một thế giới khao khát ánh sáng. Tôi thấy thời đại của bảy thế hệ, khi con người với mọi màu da tập hợp dưới Cây Sự Sống thiêng liêng và chu kì Trái Đất sẽ lại tái diễn.

Tôi không hiểu mẹ đã cố giải thích gì với tấm thẻ đó, hay với cái muỗng. Nhưng đấy là kiểu của mẹ. Nói chuyện bằng một ngôn ngữ riêng. Tôi hỏi mẹ xem liệu nơi ấy có loài khỉ hay không. Chẳng rõ làm sao mà lúc nào tôi cũng nghĩ trên một hòn đảo thì phải có khỉ. Mẹ không đáp, bà chỉ mỉm cười và đôi mắt ngắm nhìn những con đường dài màu xám phía bên kia cửa sổ xe buýt, chăm chú như thể đó là bộ phim yêu thích cũ xưa mà mẹ đã xem quá nhiều lần.

Một chiếc xuồng đưa chúng tôi đến hòn đảo. Tôi dụi đầu vào lòng mẹ suốt quãng thời gian. Những người đưa chúng tôi đến nơi mặc đồng phục quân đội. Tôi đã không hiểu mình đang dấn thân vào chuyện gì.

Chúng tôi ăn món thịt bò hầm từ những chiếc bát xốp, giữa một đám đàn ông trẻ tuổi trông có vẻ to lớn và nóng nực trong áo khoác màu gỗ sồi. Mẹ ngồi hút thuốc lá đằng xa với hai người phụ nữ da đỏ lớn tuổi ồn ào. Có một chồng bánh mì, bơ và những nồi thịt hầm trên bàn. Khi lò sưởi trở nên quá nóng, chúng tôi dịch ra xa và ngồi xuống.

“Em không biết chị thì thế nào...” - Tôi nói với Jacquie, miệng đây bánh mì và bơ: “...nhưng em thích sống thế này.”

Chúng tôi cười lớn và Jacquie dựa lên tôi, vô tình cộc đầu vào nhau, khiến chúng tôi còn cười to hơn. Rồi trời trở khuya, tôi đã ngủ gật khi mẹ quay lại.

“Mọi người ngủ trong phòng giam. Nó ấm hơn!” - Bà nói với chúng tôi. Tôi và Jacquie ngủ trong phòng giam đối diện với mẹ. Bà luôn có vẻ điên rồ, nhảy việc liên tục, đưa chúng tôi đi khắp thành phố Oakland, gặp gỡ rồi lại chia tay với những người cha, chuyển trường học,... Nhưng lần này có gì đó khác, chúng tôi đã luôn kết thúc trong một ngôi nhà, một căn phòng, hay ít nhất là trên giường. Tôi và Jacquie ngủ cạnh nhau, với tấm chăn Indian, trong phòng giam cũ đối diện mẹ.

Tất cả mọi thứ khiến âm thanh trong các phòng giam vọng rất lâu. Mẹ hát bài hát ru Cheyenne mà bà từng hát để đưa chúng tôi vào giấc ngủ. Tôi đã không nghe thấy nó trong một thời gian dài, tôi đã gần như quên lãng nó, và ngay cả khi điên cuồng vang vọng qua những bức tường, nó vẫn là thanh âm giọng hát của mẹ. Chúng tôi ngủ thiếp đi nhanh chóng và yên bình.

Jacquie hoà nhập nhanh hơn tôi nhiều. Chị ấy kết bạn với một nhóm thanh thiếu niên quanh đảo. Người lớn rất bận rộn nên không để tâm nhiều đến họ. Tôi thì lẵng nhẵng theo mẹ. Chúng tôi nói chuyện với mọi người, tham dự các cuộc hội họp nhằm quyết định những việc cần làm, những gì cần hỏi, những yêu cầu cần đưa ra. Những người Idian nắm quyền có vẻ dễ nổi điên hơn. Đó là những người đàn ông. Và những người phụ nữ thì có vẻ không nghe lời nhiều như họ muốn. Chỉ mới mấy ngày trôi qua mà đằng đẵng như hàng tuần. Cảm giác chúng tôi sẽ ở ngoài đó mãi mãi, chờ họ xây dựng trường học, cơ sở y tế, trung tâm văn hóa.

Mẹ bảo tôi ra ngoài tìm xem Jacquie đang làm gì. Tôi không muốn lang thang một mình. Nhưng sự chán chường cuối cùng cũng cho tôi đủ can đảm để ra ngoài tìm kiếm. Tôi mang theo Two Shoes. Tôi biết mình đã quá lớn để chơi với gấu bông. Tôi gần mười hai tuổi. Nhưng tôi vẫn mang nó theo cùng đi xuống phía bên kia ngọn hải đăng, nơi có vẻ không nên tới.

Tôi tìm thấy họ bên bờ biển gần Cổng Vàng. Họ ngồi trên các tảng đá, chỉ vào nhau và cười đùa theo cách ồn ào, suông sã đúng kiểu thanh thiếu niên. Tôi nói với Two Shoes rằng đây không phải là một ý tưởng hay và rằng chúng tôi nên quay lại.

“Chị ơi, đừng lo lắng. Tất cả những người này, ngay cả những người trẻ tuổi, đều là họ hàng của ta. Vì vậy, đừng sợ hãi. Hơn nữa, nếu có ai xua đuổi chị, em sẽ nhảy xuống và cắn vào mắt cá chân họ, họ không ngờ được điều đó. Em sẽ sử dụng năng lực gấu thần của mình, em sẽ đưa họ vào giấc ngủ. Kiểu như một giấc ngủ đông ngay lập tức. Em sẽ làm như thế, chị ơi, vì thế đừng lo lắng. Đấng sáng tạo tạo ra em mạnh mẽ để bảo vệ chị!” - Two Shoes nói.

Tôi bảo Two Shoes ngừng nói chuyện như một người da đỏ.

“Em không hiểu ý của chị. Nói chuyện như một người da đỏ là sao?” - Gấu đáp.

“Em không phải là người Indian, TS[1]. Em là một con gấu bông.”

“Chị biết thừa là chúng ta không khác nhau bao nhiêu. Cả hai chúng ta đều được đặt tên theo những người đàn-ông-óc-lợn.”

“Óc-lợn?”

“Đàn ông với bộ óc của những con lợn.”

“Nghĩa là sao?”

“Columbus gọi chị là người Indian, còn với em, đó là lỗi của Teddy Roosevelt[2].”

“Sao lại thế?”

“Ông ta từng săn gấu, rồi một lần ông ta tìm thấy một con gấu đói già lông xù, và đã quyết định không bắn nó. Sau đó, trên các tờ báo xuất hiện truyện tranh về câu chuyện săn bắn, làm cho ông Roosevelt trông có vẻ như là một người nhân hậu, một người yêu tự nhiên thực sự, điều đó thật tuyệt. Rồi người ta làm những con gấu nhồi bông nhỏ và đặt tên chúng là Teddy. Gấu Teddy đã trở thành gấu bông. Điều họ không kể ra là ông ta đã cắt cổ con gấu già đó. Ấy là loại lòng nhân hậu mà không ai muốn cho bạn biết.”

“Làm sao em lại biết được chuyện này?”

“Ta phải biết về lịch sử của dân tộc mình. Tất cả những gì họ đã làm khiến ta ở đây ngày hôm nay. Loài gấu bọn em, hay người Indian như chị, chúng ta đã trải qua rất nhiều. Họ đã cố giết chúng ta. Nhưng sau đó khi họ kể lại lịch sử, họ lèo lái để nó giống như một cuộc phiêu lưu anh hùng xuyên qua khu rừng vắng. Những chú gấu và người da đỏ ở khắp mọi nơi. Chị ơi, họ cắt họng tất cả chúng ta.”

“Tại sao chị lại cảm thấy như mẹ đã nói với mình về chuyện này rồi?”

“Roosevelt nói: Tôi không tiêu cực đến mức nghĩ rằng chỉ những người da đỏ đã chết mới tốt, nhưng tôi tin rằng cứ mười người thì phải có đến chín kẻ ngốc, và tôi không muốn tiếp xúc đủ nhiều để gặp được người thứ mười.”

“Ôi, TS! Điều đó thật sai lầm! Chị chỉ mới nghe câu chuyện về cây gậy lớn[3].”

“Chuyện cây gậy lớn chỉ là lời dối trá về lòng thương xót. Trò chuyện dịu dàng nhưng lại luôn kè sẵn một cây gậy lớn, người ta nói về cách quản trị của người ngoại quốc thế đấy. Đó là những gì áp dụng trên chúng ta, cả loài gấu và người Indian. Người nước ngoài trên mảnh đất của ta. Và với những cây gậy lớn của mình, họ đã xua chúng ta đến tận xa phía tây, chúng ta gần như bị xoá sổ.”

Rồi Two Shoes lặng đi. Đó là gấu. Cậu ấy chỉ lên tiếng khi có điều gì muốn nói hoặc cậu ấy sẽ hoàn toàn im lặng. Tôi có thể biết được khi nhìn vào ánh sáng trong con ngươi đôi mắt của Two Shoes. Tôi đặt Two Shoes ngồi đằng sau một tảng đá và đi xuống chỗ chị gái.

❀ ❀ ❀

[1] Cách gọi thân mật tên Two Shoes - Tên của gấu bông.

[2] Teddy Roosevelt: chính là Theodore Roosevelt (1858-1919), Tổng thống thứ 26 của Hoa Kỳ.

[3] Từ câu nói nổi tiếng của Tổng thống Teddy Roosevelt trong quan điểm đối ngoại: "Hãy nói nhẹ nhàng và mang theo một cây gậy lớn, bạn sẽ đi xa."

Mọi người tụ tập trên một bãi cát nhỏ ẩm ướt rải đầy đá sỏi, hoàn toàn bị nhấn chìm nơi nước sâu hơn. Càng đến gần họ, tôi càng nhận thấy rõ hơn rằng Jacquie đang hành động kỳ quặc, mọi cử chỉ đều có vẻ phô diễn và méo mó. Chị ấy tốt với tôi. Quá tốt. Chị ấy gọi tôi lại gần, ôm tôi thật chặt, rồi giới thiệu với mọi người rằng tôi là em gái bằng giọng nói quá to. Tôi đã nói dối và bảo mình mười hai tuổi, nhưng họ thậm chí còn chẳng quan tâm. Tôi thấy rằng họ đang chuyền tay nhau một cái chai lớn. Nó đến chỗ Jacquie. Chị uống một ngụm dài.

“Đây là Harvey!” - Jacquie nói với tôi khi chị ấy chuyển cái chai đến tay anh chàng. Harvey cầm lấy và dường như không để ý đến những lời của Jacquie. Tôi rời khỏi chỗ họ và thấy một thằng bé đang đứng cách xa mọi người, một thằng bé trông trạc tuổi tôi. Cậu ta đang ném những hòn đá về phía mặt biển. Tôi hỏi cậu đang làm gì.

“Cậu không có mắt nhìn à?” - Thằng nhóc đáp.

“Trông như cậu đang cố gắng thoát khỏi hòn đảo bằng cách ném đi từng hòn đá một.” - Tôi nói.

“Tớ ước mình có thể ném hòn đảo ngu ngốc này vào đại dương.”

“Nó vốn đang ở giữa đại dương rồi.”

“Ý tớ là ném nó chìm xuống tận đáy.” - Cậu nói.

“Sao lại thế?” - Tôi hỏi.

“Bởi vì bố bắt tớ và anh trai ở đây...” - Cậu ấy nói: “Kéo chúng tớ ra khỏi trường học để đến nơi này. Không có tivi, không có thức ăn ngon, mọi người chạy xung quanh, uống rượu, nói về việc mọi thứ sẽ thay đổi. Mọi thứ vốn đã thay đổi rồi mà. Tớ thích được ở nhà hơn.”

“Cậu không nghĩ việc đứng lên đấu tranh vì điều gì đó là tốt à? Cố gắng sửa mọi sai lầm mà họ đã mang đến và áp đặt lên chúng ta trong suốt hàng trăm năm qua, kể từ khi họ xuất hiện?”

“Phải rồi, bố tớ suốt ngày chỉ nói đến mấy việc đó. Những gì họ đã làm với chúng ta. Chính phủ Hoa Kỳ. Tớ chẳng hiểu gì về mấy thứ ấy, tớ chỉ muốn về nhà thôi.”

“Tớ không nghĩ rằng bọn mình còn nhà đâu.”

“Tại sao mọi người lại muốn chiếm lấy một nơi ngu ngốc mà chẳng ai muốn ở, một nơi mà mọi người luôn tìm cách trốn thoát nếu phải ở trong đó?”

“Tớ không biết. Nơi này có thể có ích. Mình chẳng bao giờ biết được đâu.”

“Phải rồi!” - Thằng nhóc nói, sau đó cậu ném một hòn đá khá lớn qua chỗ đám thanh niên. Nó văng đến và họ hét lên những lời chửi rủa xa lạ.

“Tên cậu là gì?” - Tôi hỏi.

“Rocky.” - Cậu đáp.

“Vậy, Rocky thì ném đá[1] hả?

“Đừng trêu tớ. Thế tên cậu là gì?”

Tôi hối hận vì đã nói chuyện tên tuổi và cố gắng nghĩ đến điều gì khác để hỏi, nhưng đầu óc trống rỗng.

“Opal Viola Victoria Bear Shield!” - Tôi trả lời nhanh nhất có thể. Rocky vừa ném một hòn đá khác. Tôi không rõ liệu cậu ấy chẳng để tâm lắng nghe hay liệu cậu ấy không thấy nó buồn cười như hầu hết những đứa trẻ khác. Đằng nào thì ngay sau đó, một chiếc thuyền đột ngột xuất hiện. Mấy đứa trẻ lớn hơn đã đánh cắp nó từ nơi nào đó trên đảo. Mọi người đi về phía chiếc thuyền khi nó đến gần. Tôi và Rocky theo sau.

“Bạn sẽ lên thuyền à?” - Tôi hỏi Rocky.

“Ừ, chắc là tôi sẽ đi.” - Cậu nói.

Tôi đến chỗ Jacquie để hỏi chị ấy có theo họ không.

“Tất nhiên rồi, chết tiệt!” - Chị đáp, hoàn toàn say rượu, đó là khi tôi biết mình cũng phải đi.

Nước bị đục ngay lập tức. Rocky hỏi xem cậu có thể nắm tay tôi không. Câu hỏi khiến tim tôi đập nhanh hơn dù nó đã vốn dĩ đập nhanh vì được ngồi trên một chiếc thuyền đang rẽ sóng lao đi, cùng với tất cả những đứa trẻ lớn hơn, những đứa hẳn là chưa từng lái thuyền trong cả cuộc đời. Tôi nắm lấy bàn tay của Rocky khi con thuyền vượt lên khỏi đỉnh sóng và chúng tôi giữ hai tay như thế cho đến khi thấy một chiếc thuyền khác tiến về phía mình. Chúng tôi vội buông ra như thể cái nắm tay là lý do chiếc thuyền kia xuất hiện. Lúc đầu tôi tưởng đó là cảnh sát, nhưng sau thì nhận ra đó chỉ là một vài người đàn ông lớn tuổi chạy thuyền qua lại giữa đảo và đại lục để mua nhu yếu phẩm. Họ đang hét lên về điều gì đó với chúng tôi. Những người đàn ông buộc neo con thuyền ở mặt trước hòn đảo.

Chỉ đến khi cập cảng, tôi mới thực sự nghe được tiếng la hét. Chúng tôi đã bị mắng. Tất cả những đứa trẻ lớn hơn đều say rượu. Jacquie và Harvey đã bỏ chạy, khiến cho những người khác cũng chạy theo. Tôi và Rocky ở lại trên thuyền, nhìn những người đàn ông lớn tuổi bối rối trước đám thanh niên chạy loạng choạng, ngã xuống và cười một cách say sưa ngu ngốc. Khi hai người đàn ông nhận ra họ không bắt được ai và không ai chịu nghe, họ bỏ đi. Họ đã bỏ cuộc hoặc tìm thêm người đến trừng trị chúng tôi. Mặt trời đang lặn và một cơn gió lạnh ùa đến. Rocky bước xuống thuyền và cột neo. Tôi tự hỏi cậu ấy học cách làm vậy ở đâu. Tôi cũng bước xuống và cảm thấy cái thuyền bồng bềnh khi tôi rời khỏi nó. Sương mù đang xuống, chậm đến mức rón rén, ngang đến đầu gối chúng tôi. Tôi quan sát sương mù trong vài phút, rồi đi đến phía sau Rocky và nắm lấy tay cậu. Cậu quay lưng về phía tôi, nhưng lại để tôi cứ nắm tay mình như thế.

“Tớ vẫn sợ bóng tối...” - Cậu nói. Cảm giác như cậu ấy đang cố cho tôi biết điều gì khác. Nhưng trước khi tôi có thể hiểu được nó là gì, tôi nghe thấy một tiếng hét. Jacquie! Tôi buông tay Rocky, và chạy về phía âm thanh vang lên. Những từ mẹ kiếp, chết tiệt lướt qua, tôi dừng lại và quay người nhìn Rocky, ý bảo: Cậu còn chờ gì nữa? Thế mà Rocky quay lưng trở lại thuyền.

Khi tôi tìm thấy họ, Jacquie đang bước xa ra khỏi Harvey, cứ vài bước lại nhặt lên một hòn đá rồi ném nó vào anh ta. Harvey nằm trên mặt đất với một cái chai rỗng trong lòng, đầu lắc lư nặng trĩu. Đó là khi tôi nhận ra nét tương đồng. Không hiểu sao tôi lại không thấy điều ấy từ trước, rằng Harvey là anh trai Rocky.

“Đi thôi!” - Jacquie nói với tôi - “Thằng giẻ rách!”

Chị nhổ một bãi nước bọt lên mặt đất hướng về phía Harvey. Chúng tôi men theo đường phụ dẫn đến cầu thang lối vào nhà tù.

“Chuyện gì đã xảy ra?” - Tôi hỏi.

“Chẳng gì cả.”

“Anh ấy đã làm gì?” - Tôi lại hỏi

“Chị đã nói không với thằng đó. Nhưng nó chẳng quan tâm. Chị đã bảo hắn dừng lại.” - Jacquie dụi mắt - “Chuyện này chẳng quan trọng, chết tiệt!” - Chị nói và bước nhanh hơn.

Để Jacquie đi trước, tôi dừng lại và giữ cái thang ở đầu cầu thang, cạnh ngọn hải đăng. Tôi nghĩ mình nên nhìn lại, để tìm Rocky, nhưng rồi tiếng chị vang lên giục tôi bắt kịp.

Khi hai chị em trở lại khu phòng giam, mẹ đang ngủ. Một điều gì đó không đúng về cách bà nằm. Mẹ đang nằm úp sấp mặc dù bà luôn ngủ ngửa. Giấc ngủ của mẹ dường như quá sâu. Trông như mẹ nằm đó và thiếp đi dù không có ý định đánh một giấc. Và mẹ đang ngáy. Jacquie ngủ trong phòng giam đối diện còn tôi thì rúc vào tấm chăn cùng với mẹ.

Gió rít bên ngoài. Tôi sợ và bối rối vì mọi thứ. Chúng tôi đang làm gì trên đảo? Nhưng rồi tôi chìm sâu vào an tĩnh ngay khi nhắm mắt lại.

❀ ❀ ❀

[1] Nguyên văn tiếng Anh: Rocky throwing rocks - cách chơi chữ khi tác giả để nhân vật nói đùa với Rocky - trong tiếng Anh, rock có nghĩa là hòn đá, đồng âm với Rocky - ND.

Tôi thức dậy với Jacquie nằm bên cạnh. Jacquie đã nằm vào chỗ của mẹ vào giữa đêm. Mặt trời chiếu lên hai chị em, in nghiêng bóng thanh chắn ngang khắp thân thể.

Những ngày sau, chúng tôi hầu như chẳng làm gì trừ việc tìm hiểu xem hôm đó sẽ được ăn gì, vào lúc nào. Chúng tôi ở lại trên đảo vì không còn lựa chọn nào khác. Không còn một căn nhà hay một cuộc sống để quay trở lại, không cả hy vọng rằng chúng tôi sẽ nhận được những gì mong đợi, rằng chính phủ sẽ thương xót, tha thứ cho chúng tôi bằng cách gửi thực phẩm và năng lượng, xây dựng nhà cửa, đầu tư vào nơi này. Ngày trôi qua ngày, không gì xảy ra. Những chiếc thuyền đến và đi với số nhu yếu phẩm ít dần. Rồi đến thời điểm tôi thấy mọi người kéo dây đồng ra khỏi tường của các tòa nhà và chuyển chúng xuống thuyền. Những người đàn ông trông mệt mỏi và say rượu thường xuyên hơn, ngày càng có ít phụ nữ, trẻ em xung quanh.

“Chúng ta sẽ rời khỏi đây. Hai con đừng lo lắng!” - Mẹ đã nói thế vào một đêm từ phòng giam bên kia. Nhưng tôi không còn tin tưởng bà nữa. Tôi không chắc mẹ đứng về phía ai. Có lẽ chẳng còn phía nào cả. Có lẽ chỉ còn một phía duy nhất giống như rìa đá ven bờ đảo.

Vào một trong những ngày cuối cùng trên đảo, tôi và mẹ trèo lên ngọn hải đăng. Mẹ nói với tôi rằng bà muốn nhìn về thành phố. Rằng bà có một thứ cần cho tôi biết. Mọi người đang nhốn nháo chạy xung quanh trong những ngày cuối cùng, như thể tận thế đang đến gần. Tôi và mẹ tôi ngồi đó trên bãi cỏ như không có gì xảy ra.

“Bé Opal Viola của mẹ!” - Mẹ nói, vuốt ve những lọn tóc sau tai tôi. Bà chưa từng, không một lần, gọi tôi là bé của mẹ.

“Con phải biết những gì đang xảy ra ở đây...” - Mẹ thì thầm: “Bây giờ con đã đủ lớn để biết, và mẹ xin lỗi vì đã không nói với con từ trước. Opal, con phải biết rằng chúng ta không bao giờ nên giữ kín những câu chuyện của mình và không ai là quá nhỏ để nghe. Tất cả chúng ta ở đây lúc này bởi vì một lời nói dối. Họ đã nói dối chúng ta kể từ khi ta xuất hiện. Và họ vẫn đang dối trá đến tận bây giờ!”

Cái cách mà bà nói “họ vẫn đang dối trá đến tận bây giờ” làm tôi sợ. Giống như nó có hai nghĩa khác nhau mà tôi chẳng thể hiểu được dù chỉ một. Tôi hỏi mẹ lời nói dối ấy là gì, nhưng mẹ chỉ nhìn chằm chằm về phía mặt trời, toàn bộ khuôn mặt trở nên méo mó. Tôi không biết phải làm gì ngoài việc ngồi đó và chờ đợi những lời tiếp theo. Một cơn gió lạnh táp vào khiến chúng tôi phải nhắm mắt trước nó. Với đôi mắt nhắm, tôi hỏi mẹ sẽ làm gì. Bà nói rằng chúng tôi chỉ có thể làm những gì chúng tôi có thể, và con quái vật cỗ máy chính phủ không có ý định dừng chân đủ lâu để nhìn lại xem điều gì đã thực sự xảy ra. Để sửa chữa mọi chuyện. Vì vậy, những gì chúng ta có thể làm chỉ là cố gắng hiểu được chúng ta đến từ đâu, những gì đã xảy ra với dân tộc của chính mình và tưởng nhớ họ bằng cách sống đoan chính, bằng cách kể lại những câu chuyện. Mẹ nói với tôi rằng thế giới được tạo nên từ những câu chuyện, chỉ những câu chuyện và những câu chuyện về những câu chuyện mà thôi. Và rồi, như thể tất cả những điều đó cần được suy ngẫm, mẹ tôi dừng lại một lúc lâu, nhìn về phía thành phố và nói với tôi rằng bà bị ung thư. Cả hòn đảo chợt biến mất. Mọi điều. Tôi đứng dậy và bước đi mà không biết mình đi đâu. Tôi nhớ ra rằng tôi đã bỏ lại Two Shoes ở tảng đá nào đó suốt thời gian dài.

Khi tôi tìm đến với Two Shoes, cậu ngồi lệch sang một bên và ở trong tình trạng xấu, như thể thứ gì đó đã nhai cậu, hoặc chỉ là gió và muối đã làm chú gấu bông bạc đi. Tôi bế cậu lên và nhìn thẳng vào khuôn mặt. Tôi không còn nhìn thấy ánh sáng trong mắt cậu ấy nữa. Tôi đặt Two Shoes xuống. Rồi cứ thế rời đi.

Khi trở lại đất liền, vào một ngày nắng sau hàng tháng trên đảo, chúng tôi lên xe buýt và quay trở lại gần nơi chúng tôi từng sống trước khi chuyển đến ngôi nhà màu vàng. Ngay bên ngoài trung tâm thành phố Oakland, trên phố Telegraph. Chúng tôi ở với người anh nuôi của mẹ, Ronald, người mà chúng tôi mới gặp lần đầu vào ngày chuyển đến cùng chung sống. Tôi và Jacquie chẳng thích ông ta một chút nào cả. Nhưng mẹ nói ông ta là một người đàn ông thực sự. Một người đàn ông duy tâm. Mẹ không muốn làm theo những gì các bác sĩ khuyên. Trong một thời gian, chúng tôi thường thăm thú phía bắc, nơi Ronald đổ mồ hôi như tắm. Ở đó quá nóng đối với tôi, nhưng Jacquie và mẹ thích nó. Tôi và Jacquie đều nói với mẹ rằng bà nên làm những gì mà các bác sĩ dặn dò. Bà đáp rằng bà không thể đi được, rằng mẹ chỉ có thể đi theo con đường mình sẽ đi. Đó cũng là cách mà mẹ đã ra đi. Dần dần lùi vào quá khứ như tất cả những điều thiêng liêng, đẹp đẽ khác và không bao giờ quay trở lại. Một ngày nọ, mẹ lọt thỏm trên chiếc ghế dài trong phòng khách của Ronald. Bà càng ngày càng gầy.

Sau chuyện Alcatraz[1], khi mẹ qua đời, tôi sống một cách trầm lặng. Tôi tập trung vào học hành. Mẹ đã luôn nói điều quan trọng nhất mà chúng tôi có thể làm là được giáo dục, nếu không thì chúng tôi sẽ mãi sống cuộc đời câm lặng. Hai chị em đã không ở lại với Ronald. Mọi thứ trở nên tồi tệ nhanh chóng. Nhưng đó là câu chuyện cho một thời điểm khác. Khi bà còn ở đó, và thậm chí sau khi bà chết, ông ta luôn bỏ mặc chúng tôi. Tôi và Jacquie dành trọn thời gian bên nhau khi ở trường. Chúng tôi đến thăm mộ mẹ thường xuyên nhất có thể. Một ngày nọ trên đường về nhà từ nghĩa trang, Jacquie dừng lại và quay sang tôi.

“Chúng mình đang làm gì thế?”

“Về nhà!” - Tôi nói.

“Nhà nào?” - Jacquie hỏi.

“Em không biết!” - Tôi trả lời.

“Chúng mình sẽ làm gì?”

“Em không biết.”

“Em trả lời thông minh ghê.”

“Em đoán là chúng mình nên cứ đi thôi...”

“Chị đang mang thai!” - Jacquie nói.

“Gì cơ?”

“Vì thằng chó Harvey, nhớ không?”

“Gì cơ?”

“Đây không phải là vấn đề. Chị có thể thoát khỏi nó.”

“Không! Chị không thể cứ thế thoát khỏi nó.”

“Chị biết một người, bạn của chị, Adriana biết ai đó ở Tây Oakland.”

“Jacquie, chị không thể...”

“Không thể, thế rồi sao? Chúng ta cùng nhau nuôi đứa bé, với Ronald? Không!” - Jacquie nói.

Rồi chị bắt đầu khóc. Giống như ngày chị khóc dấm dứt trong đám tang. Jacquie dừng lại, đặt tay lên đồng hồ tính phí đỗ xe, và dứt mắt khỏi tôi. Chị quệt tay ngang má đầy khó nhọc rồi tiếp tục bước đi. Chúng tôi cứ thế bước đi yên lặng, mặt trời sau lưng, bóng hai đứa nghiêng dài đổ trên nền đất.

“Một trong những điều cuối cùng mẹ nói với em khi bọn mình ở ngoài đảo là không nên giữ kín những câu chuyện của mình.” - Tôi nói.

“Việc đấy nghĩa là sao?”

“Nghĩa là chuyện chị có thai.”

“Nó không phải là một câu chuyện, Opal, nó có thật.”

“Nó có thể là cả hai.”

“Cuộc sống không giống như truyện cổ tích. Mẹ đã chết, bà ấy sẽ không quay trở lại, và chúng ta chỉ còn một mình, sống với người đàn ông chúng ta không quen biết. Câu chuyện kiểu chó gì lại như thế?”

“Phải, mẹ chết rồi, em biết. Chúng ta một mình, nhưng chúng ta không chết. Đây không phải là kết thúc. Chúng ta không thể cứ thế bỏ cuộc, Jacquie. Phải không chị?”

Jacquie lặng im hồi lâu. Chúng tôi tiếp tục đi bộ, ngang qua những cửa hàng trên đại lộ Piedmont. Chúng tôi lắng nghe âm thanh động cơ từ những chiếc ô tô đi lại trên phố, như là tiếng sóng vỗ những tảng đá bên bờ tương lai vô định. Ở Oakland mọi thứ luôn thay đổi, từ trước cả khi mẹ xuất hiện rồi ra đi như gió cuối mùa.

Chúng tôi đi đến ngã tư chờ đèn đỏ. Khi nó chuyển sang màu xanh, Jacquie nắm lấy tay tôi. Và khi chúng tôi sang bên kia đường, chị ấy chẳng hề buông ra.

❀ ❀ ❀

[1] Một hòn đảo nằm trong Vịnh San Francisco, cách đất liền 2,01km, nối tiếng là một pháo đài quân sự, một hải đăng và là nhà tù liên bang trong giai đoạn 1934 - 1963, với cuộc vượt ngục nổi tiếng táo bạo nhất lịch sử nước Mỹ của tù nhân Frank Lee Morris cùng anh em tù nhân Clarence và John Anglin bằng lưỡi khoan tay và muỗng ăn vào năm 1962. Alcatraz chính là nơi ba mẹ con Opal đã đến sau khi rời bỏ ngôi nhà màu vàng.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.