Mỗi lần ngồi vào trong chiếc xe tải chở thư tín, Opal lại đưa ánh mắt về phía gương chiếu hậu và thấy chính mình đăm đắm dõi theo bản thân suốt những năm qua. Cô ghét nhẩm đếm số năm làm việc vận chuyển thư từ cho USPS[1]. Không phải vì Opal không thích công việc này, mà vì thật khó để bỏ qua dấu hiệu thời gian in hằn trên khuôn mặt cô, những vết nhăn và dấu chân chim bao quanh mắt, xẻ nhánh như một tấm bê tông nứt nẻ. Nhưng ngay cả khi chán phải trông thấy chính mình, Opal không thể ngừng thói quen nhìn vào hình ảnh phản chiếu khi có một tấm gương ngay ở đó.
❀ ❀ ❀
[1] USPS: Viết tắt của cụm từ US Postal Service - Dịch vụ vận tải Mỹ (ND).
Vừa lái xe, Opal vừa nhớ lại quá trình bắt đầu nhận nuôi, chăm sóc những cậu bé Red Feather, đó là dịp cuối tuần, họ đã đến cửa hàng Mervyn ở Alameda để mua quần áo mới.
Opal nhìn Orvil trong gương, cậu bé đang mặc bộ quần áo cô vừa chọn cho.
“Cháu có thích không?” - Cô hỏi.
“Thích họ ấy ạ?” - Orvil nói, chỉ vào hình ảnh phản chiếu trong gương: “Làm thế nào để biết được họ không phải là thật và chúng ta không phải là bản sao?”
“Bởi vì, bà quyết định vẫy tay trước nó, ngay bây giờ.” - Opal đáp, vẫy tay với tấm gương tam bản bên ngoài phòng thay đồ, trong khi Loother và Lony trốn trong một giá treo quần áo gần đó.
“Có thể bà kia đã vẫy tay trước, sau đó bà mới bắt chước. Nhưng nhìn này...” - Cậu nói rồi nhảy một điệu hoang dã. Hai cánh tay thõng xuống, cậu bật lên và xoay tròn. Với Opal, trông cậu bé như đang nhảy điệu powwow.Nhưng điều đó sao có thể! Cậu chỉ cố gắng hành động điên rồ trước gương để chứng minh là chính Orvil, chứ không phải những người bên kia mặt kính đang kiểm soát mọi thứ.
Opal rảo bước trên con đường quen thuộc. Cô chú ý từng bước chân để không dẫm lên những vết nứt trên lớp gạch. Cô bước đi quá mức cẩn thận vì cô luôn cảm giác có những cái hố phủ khắp mặt đường, lỗ chỗ như tổ ong, những vết nứt mà nếu rơi vào, bạn có thể lạc lối giữa các thế giới. Opal sống với sự mê tín mà cô muốn chối bỏ, một bí mật cô ghim chặt sâu trong lòng đến nỗi không thể nhận ra, giống như là hơi thở. Vừa bỏ thư vào thùng và hộp bưu tín, cô vừa cố gắng nhớ xem mình đã ăn bằng cái muỗng nào vào buổi sáng. Opal có một chiếc thìa may mắn và một chiếc thìa đen đủi. Để sự màu nhiệm không mất đi, ta phải giữ những chiếc thìa ở cạnh nhau, và ta không thể nhìn để chọn lựa, chỉ khi rút nó ra khỏi ngăn kéo ta mới biết được điềm sắp tới. Chiếc thìa may mắn của cô là cái có hoa văn cách điệu khắc dọc từ tay cầm cho đến cổ thìa.
Opal thường gõ tay lên mặt gỗ để hủy bỏ một lời tuyên bố rằng cô muốn (hoặc không muốn) chuyện gì đó xảy đến trong tương lai. Thậm chí ngay cả khi cô không thực sự nói ra mà chỉ nghĩ trong đầu, Opal vẫn phải tìm mặt gỗ để gõ hai lần. Opal thích những con số. Số học thì cố định và ta có thể tin tưởng vào chúng. Nhưng cũng có những con số tốt và những con số xấu. Số chẵn lúc nào cũng tốt hơn số lẻ và các con số có ý nghĩa toán học nào đó thì thường tốt. Cô đánh giá tính tốt, xấu của một khu phố bằng cách nhóm tổng số nhà lại với nhau rồi giảm nó xuống còn một số đơn nhất, con số ấy sẽ quyết định xem Opal có thích khu phố hay không. Số học không bao giờ nói dối. Bốn và tám là số yêu thích của cô trong khi ba và sáu thì thường tồi tệ. Cô luôn đưa thư ở dãy nhà lẻ trước vì tin rằng tốt hơn hết là nên đối mặt với điều xấu trước khi đến với điều tốt.
Sự xui xẻo và những chuyện tồi tệ xảy ra trong cuộc sống có thể khiến ta mê tín một cách bí mật, ta không còn cách nào ngoài cố gắng tìm cách kiểm soát hoặc ít nhất là cũng có được cảm giác kiểm soát. Opal mua vé số khi giải độc đắc lên cao. Cô không gọi niềm tin của mình là sự mê tín vì nó sẽ mất đi giá trị.
Opal giao xong số thư ở bên đường lẻ rồi băng qua phố. Một chiếc ô tô dừng lại để nhường đường, người phụ nữ lái xe thiếu kiên nhẫn vẫy tay như thể chị ta đang ban ân huệ cho toàn nhân loại. Opal muốn đưa tay lên, giơ ngón giữa, nhưng thay vào đó, cô cố tình đi chậm lại để đáp lại sự thiếu kiên nhẫn và hào phóng giả tạo của người phụ nữ. Opal ghét mỗi khi phải đi bộ. Ghét nụ cười nhẹ nhõm xuất hiện trên mặt khi cô có thể ngừng lại và nghỉ ngơi trước khi trở nên quá mệt mỏi.
Cuộc đời cô có nhiều hối tiếc, không phải vì những chuyện cô từng làm. Mà vì những thứ như hòn đảo chết tiệt đó, mẹ cô, Ronald, những căn phòng tồi tàn nhớp nháp, cách sinh hoạt trong trại tình thương. Cô hối tiếc vì những gì đã xảy ra dù không phải lỗi của mình. Có lẽ tất cả là do nhân quả, ngay cả khi cô không biết mình đã làm gì sai. Opal chỉ biết chịu đựng quãng thời gian đó, mặc cho nỗi ám ảnh khoét một lỗ sâu ngay lồng ngực, nơi cô mải miết tìm kiếm lý do để giữ cho tình yêu của mình nguyên vẹn. Opal mạnh mẽ, nhưng làn sóng ngầm chưa bao giờ ngừng vỗ trong cô, chực chờ trào dâng thành nước mắt và dìm linh hồn cô xuống đáy sâu lạnh lẽo. Có lúc cô chợt cảm thấy không thể cử động hay làm gì. Nhưng chẳng sao, vì cô đã tập cho mình kỹ năng làm nhiều việc cùng lúc. Giống như chuyện vừa đưa thư vừa nghe sách nói hay âm nhạc. Quan trọng là cần giữ bản thân bận rộn, tìm thứ đánh lạc hướng suy nghĩ và rồi bỏ lại nó. Loại bỏ tận hai lần, lớp này chồng lên lớp khác, để tâm trí tan vào tiếng ồn và công việc.
Opal rút tai nghe ra khi nghe thấy một âm thanh vọng từ đâu đó. Một tiếng vo vo khó chịu cắt qua không khí. Nhìn lên và thấy một cái máy bay không người lái, cô bèn lia mắt xung quanh để xem ai đang điều khiển nó. Không thấy ai, cô bèn đeo tai nghe lại. Cô đang nghe bài “(Ngồi) Trên bờ vịnh” của Otis Redding[1]. Đó là bài hát ít được Opal ưa thích nhất trong số các sáng tác của ông vì nó được bật ở khắp nơi. Cô chuyển bài và ca khúc “Giai điệu nước mắt tôi” của Smokey Robinson[2] vang lên. Bài hát khiến cô cảm thấy buồn vui lẫn lộn, và có lẽ là một chút lạc quan. Đó là điều cô thích ở Motown[3], cách họ làm cho bạn muốn nhảy múa trong đau đớn.
❀ ❀ ❀
[1] Otis Redding (1941 - 1976): Là nhạc sĩ, ca sĩ, nhà sản xuất âm nhạc, nghệ sĩ thu âm người Mỹ. Ông được coi là một trong những ca sĩ vĩ đại nhất của lịch sử âm nhạc quần chúng và là tượng đài của nhạc soul cũng như R&B (ND).
[2] Smokey Robinson (sinh năm 1940): Là một ca sĩ, nhạc sĩ, nhà sản xuất âm nhạc người Mỹ. Robinson là người sáng lập, người đứng đầu của nhóm Vocal Motown (ND).
[3] Vocal Motown: Một nhóm những giọng ca hoạt động tại Mỹ, nối tiếng vào những thập niên 50, 60 với nhiều bản hit gây tiếng vang (ND).
Khi Opal đang trên đường làm việc ngày hôm qua thì cháu trai nuôi của cô, Orvil gửi một tin nhắn nói rằng cậu bé đã lôi được ba cái chân nhện ra khỏi vết sưng trên đùi mình. Cậu nặn nó và mới đầu còn tưởng đó là những mảnh dằm. Opal ôm miệng khi nghe tin nhắn, cô không ngạc nhiên nhiều như hồi trạc tuổi Orvil và tự mình trải qua chuyện tương tự.
Mẹ của Opal và Jacquie không bao giờ để hai người giết mấy con nhện nếu họ tìm thấy chúng lang thang trong nhà, hay bất cứ nơi nào khác. Bà nói loài nhện mang theo hàng dặm tơ trong cơ thể bé nhỏ đó, là hàng dặm câu chuyện, cũng là hàng dặm mái ấm và cạm bẫy. Mẹ bảo đó là bản chất của chúng ta. Mái ấm và cạm bẫy.
Vì Orvil đã không hé răng về chuyện mấy cái chân nhện vào bữa tối hôm trước, opal đoán cậu ngại phải nói về nó trước lễ powwow, mặc dù hai thứ ấy chẳng liên quan gì đến nhau.
Vài tuần trước, cô đã tìm thấy một đoạn video quay cảnh Orvil nhảy kiểu powwow trong phòng. Opal vẫn thường kiểm tra điện thoại của lũ trẻ trong khi chúng ngủ. Cô xem những gì chúng chọn để chụp và ghi lại, tin nhắn cũng như lịch sử trình duyệt của chúng. Không đứa nào có dấu hiệu suy đồi đặc biệt đáng lo ngại. Nhưng đó chỉ là vấn đề thời gian thôi. Opal tin rằng có một sự tò mò đầy đen tối tồn tại trong mỗi con người, bất cứ ai cũng sẵn sàng làm mọi chuyện nếu không phải gánh lấy hậu quả. Opal tôn trọng sự riêng tư của người trưởng thành. Nhưng cô cho rằng cần theo dõi sát sao con trẻ để giúp chúng lớn lên ngay thẳng.
Trong video, Orvil nhảy múa như thể cậu bé biết chính xác những gì mình làm, điều mà cô không thể hiểu được. Cậu mặc bộ regalia cô cất trong tủ, bộ regalia mà một người bạn cũ đã tặng Opal.
Có rất nhiều dự án và sự kiện dành cho thanh thiếu niên bản địa sinh sống ở Oakland. Lần đầu Opal gặp Lucas tại một ngôi nhà cộng đồng, rồi thêm lần nữa ở một sự kiện về thanh thiếu niên. Suốt quãng thời gian ấy, Opal và Lucas đã là hình mẫu những đứa trẻ được nhận nuôi điển hình, là những người được chọn để phỏng vấn và chụp ảnh đầu tiên cho phim tài liệu. Cả hai học được cách may regalia từ việc phụ giúp một người lớn tuổi. Opal đã giúp Lucas chuẩn bị cho lễ powwow đầu tiên mà anh tham dự với tư cách một vũ công. Họ đã yêu nhau, dẫu non nớt và nông nổi thì đó vẫn là tình yêu. Rồi một ngày, Lucas lên xe buýt chuyển xuống Los Angeles. Anh thậm chí còn chẳng buồn thông báo việc ấy, cứ thế rời đi trong đột ngột. Để rồi gần hai thập kỷ sau, anh bỗng dưng trở lại, tìm đến Opal nhằm thực hiện một cuộc phỏng vấn cho dự án phim tài liệu về thị dân Indian mà anh đang thực hiện, đó là khi anh tặng cô bộ regalia. Anh qua đời chỉ vài tuần sau. Opal nhớ anh đã gọi cho cô từ nhà chị gái để nói rằng mình chẳng còn lại bao nhiêu thời gian. Lucas rất thản nhiên. Anh thậm chí còn không giải thích lý do tại sao. Anh nói xin lỗi và chúc cô những điều tốt đẹp nhất.
Bữa tối ngày hôm qua thật im lặng. Họ chưa bao giờ có một bữa tối im lặng đến thế. Ba cậu bé rời khỏi bàn ăn trong sự yên tĩnh đáng ngờ. Opal định bảo Lony ở lại. Cô sẽ hỏi cậu mọi chuyện có ổn không, cậu có thích chiếc xe đạp mới không. Cậu bé không biết nói dối. Đằng nào thì cũng đến lượt Lony phải rửa bát. Nhưng Orvil và Loother đã làm một điều mà chúng chưa từng làm trước đây: giúp em trai lau khô và cất bát đĩa. Opal không muốn miễn cưỡng chuyện này, cô thực sự không biết phải mở lời thế nào, giống như có một cái gì đó bị mắc kẹt trong cổ họng cô - không chịu trôi đi mà cũng không chịu trở lại. Thật ra thì nó giống như vết sưng trên đùi cô, nơi những cái chân nhện đã bị lấy ra. Liệu có thể còn nhiều những cái chân khác trong đó không? Cơ thể con nhện thì ở đâu? Opal đã ngừng đặt câu hỏi từ lâu. Chỉ có vết sưng là vẫn còn.
Khi sang phòng bảo các cậu bé lên giường đi ngủ, cô đã nghe thấy một đứa suỵt suỵt hai đứa còn lại.
“Gì thế?” - Cô hỏi.
“Không có gì, bà ạ!” - Loother đáp.
“Đừng hòng qua mắt bà già này!” - Cô nói.
“Không có gì thật mà bà.” - Orvil lên tiếng.
“Đi ngủ đi!” - Cô nói.
Lũ trẻ có vẻ sợ Opal, y hệt cô ngày xưa lúc nào cũng sợ mẹ. Điều gì đó thật uy nghiêm trong cách dạy dỗ ngắn gọn, nghiêm khắc và trực tiếp của bà. Vicky là một người phụ nữ khắt khe. Tất cả là để chuẩn bị cho đám trẻ hành trang bước vào một thế giới mà trong đó người bản địa không thể sống như ý, lựa chọn duy nhất là thu mình lại, biến mất, chết đi. Cô cần phải thúc đẩy chúng nhiều hơn bởi vì sẽ khó để một người bản xứ thành công hơn những người khác. Và cũng bởi vì cô đã không làm được gì nhiều hơn là tự biến mất. Cô không hà khắc với chúng vì cô nghĩ cuộc sống sẽ cố gắng chơi đểu ta, lén lút từ sau lưng, xẻ ta thành những mảnh nhỏ như tro bụi. Ta cần phải sống thực dụng, giữ thái độ khiêm tốn và làm việc chăm chỉ. Cái chết và ký ức là thứ duy nhất giúp trốn tránh sự khắc nghiệt của cuộc đời, nhưng ta cũng đâu có thời gian hay lý do để nhìn lại. Cứ mặc kệ chúng rồi ký ức sẽ tan thành hư vô. Opal đành tin thế. Đó là lý do tại sao những cái chân nhện chết tiệt khiến cô mắc kẹt trong vấn đề. Chúng gợi cô nhớ lại quá khứ.
Opal rút được ra ba cái chân nhện từ đùi mình vào chiều Chủ nhật trước khi cô cùng Jacquie bỏ nhà đi, ngôi nhà và người đàn ông mà họ buộc phải ở cùng sau khi mẹ mất. Ngày ấy cô mới có kinh nguyệt. Kinh nguyệt và mấy cái chân nhện khiến cô cảm thấy xấu hổ. Chúng đều xuất hiện từ trong cơ thể Opal, những tạo vật kỳ lạ ấy, quái dị nhưng không kém phần kỳ diệu. Cô không biết phải cảm giác thế nào ngoài nỗi xấu hổ, và quyết định giữ chúng bí mật. Nói dối để giữ bí mật cũng giống như nói dối vì xấu hổ, chung quy lại đều là nói dối. Cô đã có thể kể với Jacquie về những cái chân và việc dậy thì, nhưng vào lúc ấy Jacquie đang mang thai, chu kỳ biến mất, với sinh mệnh ngày càng lớn trong bụng mà họ quyết định sẽ giữ lại và cho người khác nhận nuôi khi thời điểm đến. Chỉ là những cái chân và vòng kinh cuối cùng lại có ý nghĩa nhiều hơn thế.
Người đàn ông tên là Ronald mà mẹ đã nhờ cậy trao gửi hai chị em cô, đã đưa họ đến một buổi ceremony[1], nói rằng đây là cách duy nhất để sự mất mát được chữa lành. Trong khi Jacquie đang bí mật trở thành một người mẹ còn Opal thì bí mật trở thành một người phụ nữ.
Nhưng rồi Ronald ghé qua phòng họ vào một đêm. Gã đứng ngay trước lề cửa, ánh sáng từ hành lang đổ bóng dài. Trên đường về nhà từ buổi ceremony, cô nhớ Ronald đã đề cập gì đó về việc thực hiện một buổi lễ trong mơ. Opal không thoải mái với ý tưởng ấy. Cô đã luôn giữ ngay bên giường một cây gậy tìm thấy trong tủ quần áo hồi mới chuyển đến chỗ Ronald, giữ chặt nó bên người như cô từng giữ Two Shoes để cảm thấy yên lòng. Nhưng tất cả những gì Two Shoes làm chỉ là nói chuyện, còn cây gậy — với cái tên Storey khắc ở cán, thì có thể làm nhiều hơn thế.
Jacquie luôn ngủ say như chết. Một đêm nọ, Ronald đi đến cuối giường của chị - một tấm nệm trải trên sàn. Opal thì nằm trên tấm nệm đối diện. Khi nhìn thấy Ronald chạm vào mắt cá chân Jacquie, cô thậm chí không cần suy nghĩ. Trước đây, cô chưa bao giờ vung gậy, nhưng cô biết trọng lượng và cách xoay nó. Ronald quỳ gối xuống, định kéo Jacquie lại gần gã. Opal đứng dậy lặng lẽ nhất có thể, thở chậm, rồi đưa cây gậy lên cao. Cô lấy hết sức bình sinh bổ nó xuống đỉnh đầu Ronald.
Một vết nứt sâu xuất hiện rồi Ronald gục xuống thân thể Jacquie - người mới tỉnh dậy và thấy em gái mình đứng cạnh đó cùng một cây gậy. Họ gói ghém đồ đạc nhanh nhất có thể, chạy ra cầu thang. Họ nhìn thấy mẫu thử nghiệm Thủ cấp người da đỏ phát đi phát lại cả nghìn lần trên tivi lúc đi qua phòng khách. Nhưng vẫn như lần đầu tiên nhìn thấy nó, Opal ngỡ rằng người thổ dân đó đã quay sang cô và nói: Đi Đi. Âm vang giọng nói của anh ta cứ văng vẳng mãi bên tai rồi biến thành giai điệu bản thử nghiệm phát ra từ tivi. Jacquie nắm tay Opal, dẫn cô ra khỏi căn nhà trong khi Opal vẫn giữ khư khư cây gậy.
❀ ❀ ❀
[1] Ceremony: Một nghi thức sinh hoạt tâm linh truyền thống của người Mỹ bản địa, nơi họ tụ tập (trong lều hoặc một bãi đất trống - tuỳ vào lượng người tham gia) bên một đống lửa, cùng nhau hát, nhảy, đánh trống, sử dụng dược chất với niềm tin vào khả năng chữa lành nỗi đau của cả tinh thần lẫn thể xác (ND).
Sau khi rời khỏi Ronald, họ đến một mái ấm tình thương - nơi Vicky đã luôn đưa họ đến khi cần giúp đỡ hoặc cần một nơi trú chân. Họ gặp một nhân viên xã hội, bà không hề gặng hỏi khi họ không trả lời về nơi ở của mình trong thời gian qua.
Opal đã phải sống trong nỗi dằn vặt về Ronald suốt một năm. Cô quá sợ hãi để quay lại và kiểm tra. Cô sợ rằng mình sẽ không một chút cắn rứt lương tâm nếu gã đã chết. Rằng cô đã giết gã. Opal thực sự không muốn biết câu trả lời, nhưng cô cũng không muốn giết ông ta. Sẽ dễ chịu hơn nếu tin tức về tính mạng gã nằm trong ranh giới của sự ngờ vực. Có thể.
Một năm sau, Jacquie biến mất khỏi cuộc sống của Opal. Opal không biết chị đi đâu. Lần cuối cùng gặp nhau, Jacquie đã bị bắt giam vì lý do gì đó. Mất Jacquie vào hệ thống pháp luật rốt cuộc cũng chỉ là một mất mát tồi tệ trong thế giới có quá nhiều mất mát. Và rồi cô đã gặp Lucas, một chàng trai Indian trạc tuổi, anh khiến mọi thứ trở nên ý nghĩa. Anh không phải người kỳ lạ hay tăm tối, có thể, nhưng ít nhất cũng kỳ lạ và tăm tối giống như Opal. Thêm vào đó, anh không bao giờ nói về nơi mình lớn lên hoặc những chuyện xảy ra. Họ tránh phải chia sẻ đời tư như những người lính trở về từ chiến tranh. Mãi cho đến một buổi chiều, Opal và Lucas đi thăm thú Trung tâm Indian, trong lúc chờ người ta phát bữa cơm nhân ái, Lucas đã nói về việc anh ghét McDonald thế nào.
“Nhưng nó ngon quá mà!” - Opal bảo
“Nó không phải là đồ ăn thực sự.” - Lucas nói khi anh đi thăng bằng tới lui trên viền đường bên ngoài.
“Nó là đồ ăn thật vì em có thể nhai nuốt và biến nó thành phân.”
“Ghê quá!” - Lucas nói.
“Chắc nghe chẳng ghê nếu anh là người nói điều đó. Các cô gái không được phép nói về rắm hoặc phân hoặc chửi bậy.”
“Anh có thể nuốt tiền xu và ị nó ra, điều đó không làm cho tiền xu trở thành thức ăn.” - Lucas đáp.
“Ai bảo anh là nó không thật?” - Opal hỏi.
“Anh từng để quên một nửa cái bánh kẹp phô mai trong ba lô suốt khoảng một tháng. Khi anh tìm thấy nó, nó có mùi và trông giống hệt như mới. Thức ăn thật thì phải hỏng.” - Lucas giải thích.
“Thịt bò khô cũng có hỏng đâu.” - Opal nói
“Được rồi, Ronald.” - Lucas thở dài.
“Cái gì cơ?” Opal hốt hoảng hỏi lại, cô cảm thấy một nỗi buồn thảm dâng lên khoé mắt từ dưới cổ.
“Anh gọi em là Ronald.” - Lucas nói, dừng bước tới lui trên lễ đường: “Kiểu như, Ronald McDonald ấy...” Anh đặt tay lên vai Opal và cúi đầu xuống để nhìn vào mắt cô. Opal gạt tay anh ra, khuôn mặt trở nên trắng bệch.
“Sao thế? Anh xin lỗi, trời ạ. Anh chỉ đùa thôi. Nói cho em biết điều buồn cười là anh đã ăn hết cái bánh đó, được chứ?”
Opal bước vào trong toà nhà và ngồi xuống hàng ghế xếp. Lucas đi theo, kéo một chiếc ghế đến bên cạnh cô. Sau một hồi được dỗ dành, Opal kể với Lucas mọi chuyện. Anh là người đầu tiên mà cô có thể kể ra mọi thứ, không chỉ về Ronald mà còn về mẹ, hòn đảo, cuộc sống của họ như thế nào trước đó. Lucas đã chỉ ra cho cô hiểu rằng, nếu không tìm được câu trả lời chính xác thì cảm giác tội lỗi sẽ phá huỷ cuộc sống của cô.
“Chuyện này cũng như nửa cái bánh kẹp trong ba lô, trước khi anh ăn nó.” - Lucas nói. Opal lăn ra cười như phải nhịn cười đã lâu. Một tuần sau, họ lên xe buýt đến nhà Ronald.
Họ nấp sau hộp thư nằm đối diện nhà Ronald và đợi suốt hai tiếng đồng hồ. Cái hộp thư đó đã trở thành thứ duy nhất ngăn cách giữa sự thật và nỗi sợ, giữa Ronald và hư không, giữa cô và phần còn lại của cuộc đời. Cô không muốn cuộc sống tiếp tục xoay vần, cô ước thời gian dừng lại ngay tại đó, với Lucas ở gần bên.
Opal thấy lạnh toát sống lưng khi Ronald về nhà trên chiếc xe tải, bước lên bậc thềm ngôi nhà. Opal nửa muốn bật khóc vì nhẹ nhõm rồi ngay lập tức rời đi, nửa muốn đuổi theo vật gã ta xuống đất, siết chặt cho đến khi sự sống rời khỏi gã mãi mãi. Trong khi tất cả mọi thứ đang quay cuồng, thứ duy nhất vang lên trong tâm trí Opal là một từ mà mẹ cô đã từng sử dụng. Một từ trong tiếng Cheyenne: Veho. Nó có rất nhiều nghĩa: con nhện, kẻ lừa đảo và đàn ông da trắng. Opal luôn tự hỏi liệu Ronald có phải là người da trắng hay không. Gã ta sinh hoạt như một người Indian nhưng lại có dáng vẻ của những người da trắng.
Khi cánh cửa căn nhà đóng lại sau lưng gã, nó cũng đã đóng lại lối về nửa đời trước của Opal mà cô sẵn sàng từ bỏ.
“Đi thôi.” - Cô nói.
“Em không muốn...”
“Không, em chẳng muốn gì nữa.” - Cô đáp: “Đi thôi.”
Họ bước đi mà không nói thêm với nhau một lời. Opal đi trước anh một đoạn suốt quãng đường về.
Opal có thân hình khá to lớn. Có thể nói đó là vì cô có khung xương khá rộng nhưng đúng ra là khung xương đó rộng hơn bình thường khá nhiều. Chuyên gia y tế sẽ miêu tả cô là thừa cân. Nhưng cô thà tròn trịa ra còn hơn là gầy quắt lại. Cô đã chọn mập lên thay vì héo mòn đi. Opal vững vàng như đá. Cô to lớn mạnh mẽ, chỉ là giờ đã già và mắc chứng nhức xương.
Lúc này, cô đang bước xuống từ chiếc xe tải của mình với một gói bưu kiện. Cô để chiếc hộp ở hiên nhà và bước ra ngoài qua cổng trước. Ở bên kia đường là một con chó pitbull sọc nâu đen đang nhe răng gầm gừ, thứ âm thanh trầm mạnh đến mức cô thấy ngực mình rung lên. Con chó không bị xích, cũng như cách thời gian trôi, chẳng thể nào ghìm giữ, chạy nhanh đến nỗi cô sẽ chết và biến mất trước khi ý thức được cái kết của chính mình. Một con chó như thế này có thể xuất hiện bất kỳ đâu, chẳng khác nào cái chết cũng có thể xuất hiện bất kỳ đâu, như thể thành phố Oakland đột ngột nhe răng và hù dọa bạn.{Opal chẳng phải là người duy nhất, điều đó cũng sẽ lăm le với lũ trẻ y như vậy sau khi cô mất.
Opal nghe tiếng một người đàn ông vọng lên từ bên dưới con đường gọi một cái tên mà cô không nghe rõ. Con chó chùn bước khi nghe người đàn ông gọi tên nó. Nó thu mình lại và quay người chạy về phía giọng nói. Con chó tội nghiệp có lẽ chỉ đang muốn lan truyền cái sự ngược đãi mà chính nó phải nhận. Chính vẻ nao núng của nó đã thể hiện ra hết.
Opal vào chiếc xe chở thư của mình, cho xe khởi động và quay trở lại văn phòng.