Do Thái Lưu Lạc — Toàn Tập

Lượt đọc: 1117 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 47
Nhật Ký Tiếp Tục.

❊ ❊ ❊

Trở về căn phòng của mình vài giờ sau khi giấu bản thảo lấy cắp từ phòng của Gù Nhỏ ở đó, Florine chịu khuất phục trước sự tò mò và quyết định đọc lướt qua. Chẳng mấy chốc, khi đọc sâu hơn vào những tâm sự thầm kín của nữ thợ may trẻ, cô cảm thấy niềm hứng thú lớn dần cùng nỗi xúc động không tài nào kìm nén. Giữa rất nhiều bài thơ—tất cả đều đong đầy tình yêu nồng cháy dành cho Agricola, một thứ tình yêu sâu sắc, dung dị và chân thành đến mức Florine phải động lòng và quên đi cả nỗi bất hạnh ngoại hình của tác giả—giữa bao vần thơ ấy, chúng tôi xin nhắc lại, còn có nhiều đoạn văn, suy nghĩ và lời kể khác xoay quanh vô số sự việc. Chúng tôi sẽ trích dẫn một vài đoạn trong số đó để làm rõ ấn tượng sâu sắc mà việc đọc chúng đã để lại trong lòng Florine.

Trích đoạn nhật ký.

“Hôm nay là sinh nhật mình. Cho đến tận tối nay, mình vẫn nuôi dưỡng một niềm hy vọng ngây thơ. Hôm qua, mình xuống phòng bà Baudoin để băng bó một vết thương nhỏ trên chân bà ấy. Khi mình bước vào, Agricola đang ở đó. Chắc hẳn anh ấy đang nói về mình với mẹ, bởi họ liền im bặt lúc mình tới và trao nhau một nụ cười đầy ẩn ý. Khi đi ngang qua mấy chiếc hộc tủ, mình thấy một chiếc hộp bìa cứng có nắp làm bằng gối cắm kim ghim, và mình thấy má mình đỏ bừng vì sung sướng khi nghĩ rằng món quà nhỏ này dành cho mình, nhưng mình vờ như không thấy. Trong lúc mình đang quỳ trước mặt mẹ anh, Agricola bước ra ngoài. Mình để ý thấy anh ấy cầm theo chiếc hộp nhỏ. Chưa bao giờ bà Baudoin tỏ ra dịu dàng và ra dáng người mẹ hơn buổi sáng hôm ấy. Mình có cảm giác bà đi ngủ sớm hơn mọi khi. ‘Bà muốn đuổi mình về sớm đây mà,’ mình tự nhủ, ‘để mình tận hưởng bất ngờ mà Agricola đã chuẩn bị.’ Tim mình đập rộn ràng làm sao khi mình chạy thật nhanh, rất nhanh lên căn gác nhỏ! Mình khựng lại một lát trước khi mở cửa để niềm hạnh phúc được kéo dài thêm chút nữa. Cuối cùng mình cũng bước vào phòng, mắt ngấn lệ vì vui sướng. Mình nhìn lên bàn, lên ghế, lên giường—chẳng có gì cả. Chiếc hộp nhỏ không có ở đó. Tim mình như chùng xuống. Rồi mình tự nhủ: ‘Chắc là ngày mai—hôm nay mới chỉ là đêm trước sinh nhật thôi.’ Ngày hôm nay đã qua. Buổi tối đã tới. Vẫn chẳng có gì. Chiếc hộp xinh xắn ấy không dành cho mình. Nó có nắp làm bằng gối cắm kim ghim. Nó chỉ hợp với phụ nữ mà thôi. Agricola đã tặng nó cho ai chứ?

“Dạo này mình chịu đựng khá nhiều. Thật là một ý nghĩ trẻ con khi mình gắn liền nó với việc Agricola chúc mình sang tuổi mới vui vẻ. Mình thấy xấu hổ khi phải thú nhận điều này; nhưng nó có thể chứng minh cho mình thấy rằng anh ấy chưa quên mình còn có một cái tên khác ngoài cái tên Gù Nhỏ mà mọi người vẫn thường gọi. Sự nhạy cảm của mình về vấn đề này thật không may lại quá mức bảo thủ, đến nỗi mình không khỏi cảm thấy nhói lòng trong giây phút pha lẫn giữa hổ thẹn và buồn tủi mỗi khi được gọi bằng cái tên trứ danh trong truyện cổ tích ấy, dẫu rằng mình chẳng có cái tên nào khác từ thủa bé. Chính vì thế mà mình sẽ hạnh phúc biết bao nếu Agricola chớp lấy cơ hội này để gọi mình bằng cái tên khiêm nhường thực sự của mình dù chỉ một lần—Magdalen. May thay, anh ấy sẽ chẳng bao giờ thấu hiểu những ước muốn và tiếc nuối này!”

Càng lúc càng xúc động trước trang nhật ký chứa đựng nỗi buồn dung dị ấy, Florine lật qua vài tờ giấy và đọc tiếp:

“Mình vừa đi dự đám tang của bé Victorine Herbin tội nghiệp, hàng xóm của chúng ta. Cha con bé, một thợ bọc nệm làm thuê theo tháng, đã đi làm xa tận ngoại ô Paris. Con bé qua đời khi vừa tròn mười chín tuổi, chẳng có lấy một người thân thích bên cạnh. Cơn hấp hối của nó kéo dài chẳng bao lâu. Người phụ nữ tốt bụng chăm sóc nó đến phút cuối kể lại rằng nó chỉ thốt lên mấy lời: ‘Cuối cùng, ôi cuối cùng!’ kèm theo vẻ mãn nguyện, bà cụ nói thêm. Đứa trẻ thương yêu! Con bé đã trở nên gầy guò tội nghiệp biết bao. Hồi mười lăm tuổi, nó tựa như một nụ hồng—xinh xắn và tươi tắn làm sao, với mái tóc vàng mềm mại tựa tơ lụa; thế nhưng nó cứ lụi tàn dần—cái nghề sửa nệm đã giết chết nó. Nó bị đầu độc chậm rãi bởi những luồng khí thoát ra từ len dạ.(26) Chúng càng tồi tệ hơn bởi nó hầu như chỉ làm việc cho người nghèo, những người phải nằm đệm làm bằng vật liệu rẻ tiền.

“Nó có lòng dũng cảm của một chú sư tử và sự nhẫn nại của một thiên thần. Nó vẫn thường thì thầm với mình bằng giọng nói nhỏ khản đặc, ngắt quãng bởi những tiếng ho khan khô khốc: ‘Mình chẳng còn sống được bao lâu nữa đâu, khi mà ngày nào cũng phải hít thở toàn vôi vữa và axit sulfuric thế này. Mình khạc ra máu và những cơn co thắt khiến mình ngất lịm.’

‘Sao em không đổi nghề đi?’ mình từng hỏi nó.

‘Biết tìm đâu ra thời gian để học một nghề khác?’ nó đáp; ‘và giờ thì quá muộn rồi. Mình cảm thấy bản thân tiêu đời rồi. Đó không phải lỗi của mình,’ cô gái tốt bụng nói thêm, ‘vì mình đâu được quyền chọn việc. Cha mình muốn thế; may thay ông ấy có thể sống mà không cần con bé. Hơn nữa, bạn thấy đấy, khi chết đi rồi, người ta chẳng còn bận tâm điều gì, và chẳng sợ cái gọi là “tiền công chết đói” nữa.’

“Victorine thốt lên câu nói buồn bã, tầm thường ấy một cách hết sức chân thành và với một vẻ thỏa mãn nào đó. Thế nên nó đã ra đi khi miệng vẫn lặp đi lặp lại: ‘Cuối cùng!’

“Thật đau lòng khi nghĩ rằng công sức lao động giúp người nghèo kiếm miếng cơm manh áo hằng ngày lại thường biến thành một vụ tự sát kéo dài! Hôm trước mình có nói điều này với Agricola; anh ấy đáp lại rằng còn vô số ngành nghề nguy hiểm chết người khác; chẳng hạn như những người điều chế nước cường toan, chì trắng hoặc xỉ chì, chắc chắn sẽ mắc phải những căn bệnh vô phương cứu chữa và chết vì chúng.

‘Em có biết không,’ Agricola nói thêm, ‘họ nói gì khi bước chân vào những công việc tử thần đó không?’—Chính là, ‘Chúng tôi sắp sửa bước vào lò mổ đây.’

“Câu nói ấy khiến mình run rẩy bởi sự thật quá phũ phàng của nó.

‘Và tất cả những chuyện này lại diễn ra ngay trong thời đại của chúng ta,’ mình nói với anh, lòng quặn thắt; ‘và ai cũng rõ mười mươi. Thế nhưng, trong số biết bao kẻ giàu sang và quyền lực kia, chẳng một ai mảy may nghĩ đến tỉ lệ tử vong đang tàn sát những người anh em của họ, những kẻ buộc phải ăn thứ bánh mì nhuốm máu đó!’

‘Em mong chờ điều gì ở đời chứ, người em gái tội nghiệp của anh,’ Agricola đáp. ‘Khi người ta cần tòng quân để chịu chết trên chiến trường, mọi sự chăm lo đều được đổ dồn vào họ. Nhưng khi họ cần được tổ chức lại để sống trong hòa bình, chẳng một ai thèm quan tâm, ngoại trừ ngài Hardy, chủ của anh. Người ta sẽ bảo: “Chà! Nỗi đói nghèo, khốn khổ và cay đắng của tầng lớp lao động thì thấm tháp gì với chúng ta chứ? Đó chẳng phải là chính trị.” “Họ đã lầm,” Agricola nói thêm, “ĐÓ CÒN HƠN CẢ CHÍNH TRỊ.”

“Vì Victorine chẳng để lại chút tiền nào để chi trả cho buổi lễ nhà thờ, nên người ta chỉ làm nghi thức quàn linh cữu dưới hiên nhà; bởi chẳng có lấy nổi một thánh lễ đơn sơ nào dành cho người nghèo. Hơn nữa, vì họ không thể gom đủ mười tám franc để trả cho linh mục, nên chẳng có vị tu sĩ nào tiễn đưa cỗ quan tài của kẻ khốn cùng ra nghĩa địa chung. Nếu những đám tang bị rút gọn và cắt xén thế này là đã đủ về mặt tôn giáo, vậy thì tại sao người ta còn phát minh ra những nghi thức khác dài dòng hơn làm gì? Phải chăng vì lòng tham lam?—Mặt khác, nếu chúng chưa đủ, cớ sao lại biến người nghèo thành nạn nhân duy nhất của sự thiếu thốn này? Nhưng sao chúng ta phải bận tâm về vẻ phô trương, khói hương cùng những khúc thánh ca mà người ta hoặc là hà tiện, hoặc là hào phóng quá mức ấy cơ chứ? Để làm gì chứ? Và nhằm mục đích gì? Đó chỉ là những thứ phù phiếm chốn trần gian, mà khi linh hồn rạng rỡ bay về bên Đấng Tạo Hóa, nó chẳng mảy may hoài niệm. Hôm qua, Agricola đã cho mình đọc một bài báo, trong đó người ta dùng hết lời chê bai cay độc đến sự mỉa mai chua chát để công kích cái gọi là xu hướng tai hại của một số người thuộc tầng lớp hạ lưu: tự vươn lên, tập tết chữ, đọc thơ và đôi khi là làm thơ. Những thụ hưởng về mặt vật chất bị sự nghèo đói tước đoạt khỏi chúng ta. Liệu có nhân đạo chăng khi trách móc chúng ta vì đã mưu cầu những niềm vui tinh thần? Chẳng có hại gì cho ai nếu mỗi tối, sau một ngày lao động vất vả, tránh xa mọi chốn ăn chơi, mình tự thú vui một mình bằng cách làm vài vơ thơ hay ghi chép lại những ấn tượng tốt xấu mình nhận được vào cuốn nhật ký này? Liệu Agricola có phải là một người thợ tồi tệ hơn chỉ vì, khi trở về nhà với mẹ, anh dành trọn ngày Chủ nhật để sáng tác những bài ca bình dân ngợi ca thành quả lao động phong phú của người thợ thủ công, đồng thời nhắn nhủ tất cả mọi người hãy Hy vọng và Đoàn kết? Chẳng phải anh ấy đang sử dụng thời gian của mình một cách đáng trân trọng hơn nhiều so với việc nướng chúng trong quán rượu hay sao? À! Những kẻ trách móc chúng ta vì những trò tiêu khiển vô tội và cao cả này—những thứ giúp xoa dịu nỗi nhọc nhằn và đau khổ—đã lầm to khi nghĩ rằng, một khi trí tuệ được nâng cao và thanh lọc, con người ta sẽ càng khó lòng dung thứ cho sự thiếu thốn và khốn cùng, từ đó sự bất mãn đối với những kẻ may mắn hơn sẽ càng dâng cao.

“Thậm chí ngay cả khi thừa nhận điều đó đi chăng nữa—dù thực tế không phải vậy—chẳng phải việc có được một kẻ thù thông minh, sáng suốt, kẻ mà trái tim và lý trí của ta có thể hướng đến vẫn tốt hơn là đối đầu với một tên địch thủ ngu muội, hung ác và bất kham hay sao? Nhưng không; thù hận sẽ phai mờ khi trí tuệ được khai sáng và chân trời của lòng trắc ẩn được mở rộng. Nhờ thế, chúng ta học được cách thấu hiểu những nỗi đau tinh thần. Chúng ta khám phá ra rằng người giàu cũng phải oằn mình gánh chịu những đớn đau tột cùng, và sự đồng cảm trong nghịch cảnh vốn dĩ đã là một sợi dây gắn kết sự sẻ chia. Hỡi ôi! Họ cũng phải khóc ròng tiếc thương những đứa con được sủng ái, những người tình dấu yêu, những người mẹ kính yêu; nơi họ, đặc biệt là phụ nữ, giữa chốn xa hoa nhung lụa tột bậc, vẫn có biết bao trái tim tan vỡ, bao tâm hồn quằn quại khổ đau, bao giọt nước mắt rơi thầm kín. Mong sao họ đừng hoảng sợ. Bằng cách trở thành những kẻ ngang hàng về mặt trí tuệ, nhân dân sẽ học được cách xót thương người giàu—nếu họ lương thiện và bất hạnh—và càng thương hại họ bội phần hơn nếu họ chìm đắm trong cái ác.

“Thật hạnh phúc biết bao! Thật là một ngày vui sướng tột cùng! Mình đang ngây ngất trong niềm hoan hỉ. Ồ, quả thực, con người sinh ra vốn dĩ lương thiện, nhân hậu và trắc ẩn. Ôi, phải chứ! Đấng Tạo Hóa đã cấy sâu vào tâm can họ mọi bản năng cao quý—và trừ phi đó là một ngoại lệ quái đản, họ chẳng bao giờ chủ ý làm điều ác. Dưới đây là những gì mình vừa mục kích ban nãy. Mình sẽ không đợi đến tối mới viết lại, bởi nếu thế, trái tim mình sẽ nguội lạnh mất thôi. Mình vừa đi giao một ít hàng gấp. Khi đang đi ngang qua Quảng trường Temple, cách chỗ mình vài bước chân, mình thấy một đứa trẻ chừng mười hai tuổi là cùng, đầu trần chân đất dẫu thời tiết vô cùng khắc nghiệt, khoác trên mình chiếc áo blouse rách rưới cùng chiếc quần dơ dáy, đang dắt tay một con ngựa kéo xe to lớn vẫn còn đeo đầy dây cương. Thỉnh thoảng, con ngựa lại khựng lại không chịu bước tiếp. Đứa trẻ, tay chẳng có roi vương, vô vọng giật giật dây cương. Con ngựa vẫn đứng như tượng đá. Thế là cậu bé tội nghiệp bật kêu lên: ‘Trời ơi, khổ thân tôi!’ rồi òa khóc nức nở, ngó nghiêng xung quanh như thể đang cầu cứu những người qua đường. Gương mặt bé bỏng thân thương ấy hằn lên nỗi đau đớn xé lòng, khiến mình không mủi lòng suy nghĩ mà lao vào làm một hành động mà giờ đây nghĩ lại mình chỉ biết mởi cười bởi lúc ấy trông mình chắc hẳn kỳ cục lắm. Mình vốn sợ ngựa như sợ cọp, và mình lại càng sợ hơn việc trở thành tâm điểm chú ý của đám đông. Dù vậy, lấy hết can đảm, sẵn tay cầm chiếc ô, mình tiến lại gần con ngựa và với sự quyết tâm của một con kiến đang cố dịch chuyển tảng đá lớn bằng một cọng rơm khô, mình dồn hết sức quật mạnh vào mông con vật bướng bỉnh.

‘Ôi, cảm ơn quý cô tốt bụng!’ đứa trẻ thốt lên, tay lau khô dòng nước mắt: ‘Xin hãy quật nó lần nữa đi ạ. Biết đâu nó chịu đứng lên.’

“Mình lại hùng dũng ra tay lần nữa; nhưng hỡi ôi, chẳng biết vì bướng bỉnh hay lười nhác, con ngựa quỵ gối rồi ngã kềnh ra đất; sau đó, nó vướng vào dây cương, xé toạc chúng và làm gãy cái ách gỗ to đùng. Mình vội lùi lại thật nhanh vì sợ bị nó đá hậu. Trước thảm họa mới này, cậu bé chỉ biết quỳ sụp xuống giữa lòng đường, chắp tay nức nở và cất lời kêu cứu trong tuyệt vọng: ‘Cứu tôi với! Ai cứu tôi với!’

“Tiếng kêu cứu đã thấu tận lòng người; vài người qua đường tụ tập lại, và một đòn trừng phạt hiệu quả hơn cú đánh của mình đã được giáng xuống con ngựa bất kham, khiến nó lồm cồm bò dậy trong bộ dạng nhếch nhác và chẳng còn dây cương.

‘Chủ tôi sẽ đánh tôi chết mất,’ đứa bé tội nghiệp gào lên, nước mắt càng giàn giụa: ‘Tôi đã trễ hẹn hai tiếng rồi, vì con ngựa không chịu đi, và giờ nó còn làm đứt cả dây cương. Chủ tôi sẽ đánh tôi và đuổi việc tôi mất. Trời ơi! Tôi sẽ ra sao đây? Cha mẹ tôi đều không còn nữa.’

“Trước những lời thốt lên bằng giọng điệu xé lòng ấy, một lão bán quần áo cũ tốt bụng ở khu Temple có mặt trong đám đông liền cất lời với vẻ mặt đầy nhân hậu: ‘Không cha không mẹ ư! Đừng đau khổ thế nữa cậu bé tội nghiệp; khu Temple này cái gì cũng có thể lo được. Chúng ta sẽ vá lại dây cương, và nếu mấy người hàng xóm cũng giống như ta, nhóc sẽ không phải chịu cảnh đầu trần chân đất trong cái thời tiết thế này đâu.’

“Lời đề nghị ấy được hưởng ứng nhiệt liệt; họ dắt cả ngựa lẫn người đi; người thì xúm vào vá dây cương, người tặng mũ, người cho đôi tất, người tặng dăm đôi giày, người lại biếu chiếc áo khoác ấm áp; chỉ trong vòng vỏn vẹn mười lăm phút, đứa trẻ đã được mặc những bộ đồ ấm áp, dây cương được sửa chữa ngon lành, và một thiếu niên cao lớn mười tám tuổi, tay vung vẩy chiếc roi quật đét ngay bên tai con ngựa như một lời cảnh báo, cất giọng bảo cậu bé—kẻ lúc này đang ngước nhìn bộ quần áo mới rồi lại nhìn người phụ nữ tốt bụng với ánh mắt ngỡ mình đang lạc vào câu chuyện cổ tích: ‘Nhà sếp chú mày ở đâu thế nhóc?’

‘Dạ thưa trên Quai du Canal-Saint-Martin ạ,’ cậu bé đáp, giọng run run vì sung sướng.

‘Tốt lắm,’ anh thanh niên bảo, ‘anh sẽ giúp chú mày dắt con ngựa về, đi với anh thì nó ngoan ngay thôi, và anh sẽ nói với chủ của chú rằng việc trễ giờ không phải lỗi của chú mày. Một con ngựa chứng không nên phó mặc cho một đứa trẻ bằng tuổi chú mày đâu.’

“Lúc chuẩn bị xuất phát, cậu bé tội nghiệp rụt rè cất lời với người phụ nữ tốt bụng khi ngả mũ chào bà: ‘Cô cho cháu hôn cô một cái nhé, thưa cô?’

“Đôi mắt cậu ngấn lệ vì biết ơn. Thật là một đứa trẻ có hiếu. Khung cảnh bác ái bình dân này đã mang lại cho tôi những cảm xúc tuyệt diệu biết bao. Chừng nào còn có thể, tôi vẫn dõi mắt theo anh thanh niên cao lớn cùng đứa bé, người giờ đây phải sải bước thật nhanh mới theo kịp nhịp đi của con ngựa vốn vừa đột ngột trở nên ngoan ngoãn vì sợ ngọn roi.

“Phải! Tôi xin nhắc lại với niềm kiêu hãnh; bản chất con người vốn dĩ lương thiện và hay giúp đỡ. Chẳng có gì chân thực hơn khoảnh khắc trắc ẩn và dịu dàng trào dâng tự phát trong đám đông khi cậu bé tội nghiệp thốt lên: ‘Tôi sẽ ra sao đây? Tôi chẳng còn cha mẹ nào cả!’

‘Đứa trẻ bất hạnh!’ tôi tự nhủ. ‘Không cha không mẹ. Lại rơi vào tay một gã chủ tàn bạo, kẻ chẳng màng đắp lên người nó vài mảnh giẻ rách lại còn tra tấn hành hạ nó. Đêm đến chắc phải ngủ vùi ở một góc chuồng ngựa. Cậu bé tội nghiệp! Thế mà vẫn ngoan ngoãn và hiền lành biết bao dẫu bủa vây bởi khốn khó và bất hạnh. Tôi đã thấy rõ—nó còn tỏ ra biết ơn hơn là sung sướng trước sự giúp đỡ ấy. Nhưng biết đâu đấy, bản tính lương thiện này, nếu cứ bị bỏ mặc không nơi nương tựa, thiếu vắng sự dìu dắt hay cứu giúp, lại bị bóp méo bởi những trận đòn roi tàn nhẫn, rồi sẽ đổi thay và trở nên gai góc—và khi ấy thời tuổi trẻ bồng bột sẽ tới—những cám dỗ tội lỗi—’

“Ôi! Nơi những kẻ nghèo khổ bị bỏ rơi, đức hạnh chính là điều thiêng liêng và đáng kính trọng gấp bội phần!

“Sáng nay, sau khi (như thường lệ) nhẹ nhàng trách móc mình vì tội lười đi lễ nhà thờ, mẹ của Agricola đã nói với mình những lời đầy cảm động phát ra từ một tâm hồn mộ đạo chân thành: ‘May mắn thay, tôi cầu nguyện cho cả cô và tôi nữa, cô gái tội nghiệp của tôi ạ; Chúa nhân từ sẽ lắng nghe tôi, và tôi hy vọng cô sẽ chỉ phải xuống Luyện ngục mà thôi.’

“Người mẹ hiền! Một tâm hồn thiên thần! Bà ấy thốt lên những câu đó với giọng điệu vừa trang nghiêm vừa dịu dàng xiết bao, cùng một đức tin mãnh liệt vào kết quả tốt đẹp từ lời cầu thay nguyện giúp của bà, đến nỗi mình cảm thấy khóe mắt cay cay và ôm chầm lấy cổ bà, lòng biết ơn chân thành hệt như thể mình thực sự tin vào chốn Luyện ngục vậy. Ngày hôm nay quả là một ngày may mắn với mình. Mình hy vọng đã tìm được việc làm, và ơn huệ ấy mình phải mang ơn một thiếu nữ tràn đầy lòng trắc ẩn và nhân hậu, ngày mai cô ấy sẽ dẫn mình đến Tu viện St. Mary, nơi cô tin rằng mình có thể tìm được việc làm.”

Florine, vốn đã vô cùng xúc động xuyên suốt trang viết, giật mình thon thót khi đọc đến đoạn Gù Nhỏ nhắc đến tên mình, trước khi cô đọc tiếp:

“Tôi sẽ chẳng bao giờ quên sự quan tâm cảm động cùng lòng nhân ái tinh tế mà thiếu nữ xinh đẹp này đã dành cho tôi, một kẻ nghèo hèn và bất hạnh xiết bao. Điều đó chẳng có gì làm tôi ngạc nhiên, bởi cô ấy là người cận kề bên tiểu thư de Cardoville. Cô ấy chắc chắn phải là người xứng đáng được tề tựu bên vị ân nhân của Agricola. Sẽ mãi là một ký ức đẹp đẽ và ngọt ngào khi tôi khắc ghi tên cô ấy. Tên cô ấy kiều diễm và xinh xắn tựa như gương mặt vậy; đó là Florine. Tôi chẳng là gì cả, tôi chẳng có gì trong tay—nhưng nếu những lời cầu nguyện thiết tha từ một trái tim biết ơn được thấu suốt, tiểu thư Florine chắc chắn sẽ hạnh phúc, rất đỗi hạnh phúc. Hỡi ôi, tôi chỉ còn biết cầu nguyện cho cô ấy—chỉ những lời cầu nguyện mà thôi—bởi tôi chẳng thể làm gì khác ngoài việc nhung nhớ và yêu mến cô ấy!”

Những dòng chữ phô bày sự biết ơn chân thành một cách dung dị ấy đã giáng đòn quyết định vào sự do dự của Florine. Cô không thể nào cưỡng lại sự cám dỗ cao cả đang dâng trào trong lồng ngực. Càng đọc những trang nhật ký cuối cùng, tình cảm và sự kính trọng của cô dành cho Gù Nhỏ lại càng tiến thêm một bước dài. Hơn bao giờ hết, cô cảm thấy việc đem phơi bày những tâm tư thầm kín nhất của sinh linh bất hạnh này ra trước những lời chế giễu và miệt thị mới đê tiện và nhơ nhuốc làm sao. May thay, điều thiện thường có sức lan tỏa mạnh mẽ hệt như cái điều ác vậy. Được tiếp thêm sinh lực từ tất cả những gì ấm áp, cao cả và hào hiệp trong những trang giấy vừa đọc, Florine đã gột rửa đức hạnh đang lụi tàn của mình trong nguồn suối trong lành và đầy sức sống ấy, rồi cuối cùng, chịu khuất phục trước một trong những xung động tốt đẹp đôi khi vẫn trỗi dậy trong cô, cô rời khỏi phòng với tập bản thảo trên tay, lòng quả quyết rằng nếu Gù Nhỏ vẫn chưa về, cô sẽ đặt nó lại chỗ cũ—quyết tâm nói với Rodin rằng, lần thứ hai này, cuộc tìm kiếm cuốn nhật ký của cô đã xôi hỏng bỏ không, bởi nữ thợ may chắc chắn đã phát hiện ra lần đột nhập trước đó.

(26) Trích từ tờ Ruche Populaire, cơ quan ngôn luận của giới công nhân, có đoạn chi tiết như sau:

“Đánh bông nệm.—Lụi bụi bay ra từ bông len khiến công đoạn đánh bông trở nên cực kỳ hủy hoại sức khỏe trong mọi trường hợp, nhưng việc thương nhân pha tạp chất còn làm tăng gấp bội hiểm họa. Khi giết mổ cừu, da của chúng thường dính vết máu; người ta phải tẩy trắng để có thể đem bán. Vôi chính là chất tẩy trắng chủ yếu, và một phần trong số đó vẫn bám lại trên bông sau quá trình xử lý. Người thợ (thường là nữ giới) hít phải bụi mịn, và do các bệnh về phổi cùng nhiều chứng bệnh khác, tình trạng của họ quả thực vô cùng đáng ngại; phần lớn đều ngã bệnh rồi phải bỏ nghề, trong khi những kẻ cố bám trụ lại, chí ít cũng phải chịu đựng cơn ho gà hoặc hen suyễn hành hạ cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay.

Còn về lông ngựa, loại hảo hạng nhất cũng chẳng hề tinh khiết. Bạn có thể tự phán đoán chất lượng kém cỏi đến nhường nào khi các nữ công nhân gọi đó là lông tẩm axit, bởi đó chỉ là phế liệu hay phần lông xén từ dê và lợn, được đem ngâm axit, luộc trong phẩm nhuộm... nhằm thiêu rụi và ngụy trang những tạp chất ngoại lai như rơm rác, gai góc, mảnh dăm gỗ, thậm chí cả những mẩu da vụn không đáng nhặt ra. Đám bụi bay mịt mù mỗi khi một khối lông như thế bị đánh tơi cũng gây ra sự tàn phá khủng khiếp chẳng kém gì len tẩm vôi.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.