Do Thái Lưu Lạc — Toàn Tập

Lượt đọc: 1117 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 16
Bữa Điểm Tâm.

❊ ❊ ❊

Buổi sáng ngày hôm sau khi vị lữ khách mệnh yểu, vượt qua những sườn dốc Montmartre, đặt chân vào bên trong tường thành Paris, một bầu không khí tất bật bao trùm dinh thự St. Dizier. Dù trời chưa đứng bóng, công nương de St. Dizier, không hẳn là diện trang phục dạ yến (bà có quá nhiều gu thẩm mỹ để làm điều đó), nhưng cũng chải chuốt kỹ càng hơn ngày thường. Mái tóc vàng nhạt của bà, thay vì chỉ buông lơi đơn giản, được uốn thành hai lọn xoăn phồng, rất hợp với đôi má đầy đặn và hồng hào của bà. Chiếc mũ của bà được viền dải ruy băng màu hồng tươi, và bất cứ ai nhìn thấy người phụ nữ trong bộ đầm lụa xám ôm sát ấy cũng dễ dàng đoán ra rằng mụ Grivois, thị nữ của bà, chắc hẳn đã phải nhờ cậy sự trợ giúp và nỗ lực của một nữ tì khác trong nhà mới có thể thu gọn đáng kể vóc dáng đẫy đà của nữ chủ nhân đến vậy.

Chúng tôi xin giải thích nguyên nhân cao cả đằng sau sự quay trở lại thoáng chốc với những phù hoa trần thế này. Công nương, có mụ Grivois – người kiêm luôn vai trò quản gia – tháp tùng, đang đưa ra những chỉ thị cuối cùng liên quan đến một số công tác chuẩn bị trong một gian phòng khách lớn. Ở giữa phòng là một chiếc bàn tròn lớn, phủ nhung đỏ thẫm, xung quanh đặt vài chiếc ghế, trong đó, ở vị trí trang trọng nhất, là một chiếc ghế bành bằng gỗ dát vàng. Ở một góc phòng, không xa lò sưởi đang bập bùng ngọn lửa hồng rực, là một chiếc tủ đựng đồ ăn. Trên đó bày biện đủ loại nguyên liệu cho một bữa ăn nhẹ vô cùng tinh tế và cầu kỳ. Trên những chiếc đĩa bạc là những tháp bánh mì kẹp xếp cao ngất ngây, làm từ trứng cá chép và pa tê cá cơm, ăn kèm những lát cá ngừ muối và nấm cục Lenigord (đang là Mùa Chay); trên những chiếc đĩa bạc đặt trên bếp cồn đang cháy để giữ độ nóng hổi, những chiếc đuôi tôm sông Meuse hầm kem bốc khói trong lớp vỏ bánh màu vàng óng, dường như thách thức cả những chiếc bánh nướng nhân hàu Marennes nhỏ nhắn tuyệt hảo, được hầm với rượu Madeira và nêm nếm gia vị cá tầm cay. Bên cạnh những món ăn thịnh soạn này là một số món thanh nhẹ hơn, chẳng hạn như bánh tart dứa, kem dâu (thời điểm này ăn được loại quả này là khá sớm), và thạch cam đựng trong vỏ quả đã được khoét ruột một cách nghệ thuật. Rượu Bordeaux, Madeira, và Alicant lấp lánh như hồng ngọc và ngọc hoàng bác trong những chiếc bình thủy tinh lớn, trong khi hai chiếc bình gốm Sevres được đổ đầy: một bình đựng cà phê sữa, bình kia là sô-cô-la va-ni sánh đặc gần như kem tuyết, nhờ được ngâm trong một chiếc thùng đá bằng bạc chạm trổ tinh xảo.

Nhưng điều mang lại cho bữa ăn nhẹ tinh tế này một sắc thái tông tòa và giáo hoàng kỳ lạ chính là hàng loạt biểu tượng tôn giáo được dụng công bày biện. Chẳng hạn, có những ngọn đồi Can-vê xinh xắn làm từ mứt quả mơ, những chiếc mũ tế giám mục bằng kẹo hạnh nhân nướng, những cây gậy mục tử giám mục bằng bánh ngọt, mà công nương còn chu đáo thêm vào một chiếc mũ hồng y nhỏ bé làm bằng mứt anh đào, trang trí những đường viền bằng đường nướng cháy, như một dấu hiệu của sự quan tâm tinh tế. Tuy nhiên, điểm quan trọng nhất trong số các món cao lấu mang đậm tinh thần Công giáo ấy, kiệt tác của người đầu bếp, chính là một bức tượng Chúa chịu nạn tuyệt đẹp làm từ cây bạch chỉ, với một vòng miện làm bằng kẹo quả mọng. Quả là những sự báng bổ kỳ lạ, gây chướng tai gai mắt ngay cả với những kẻ kém lòng đạo đức nhất. Thế nhưng, từ trò bịp bợm trơ trẽn của chiếc áo choàng Triers, cho đến lời đùa cợt vô liêm sỉ về điện thờ Argenteuil, những kẻ sùng đạo theo kiểu của công nương dường như lại lấy làm thích thú khi đem những truyền thống đáng kính trọng nhất ra làm trò cười.

Sau khi liếc nhìn với vẻ hài lòng về những khâu chuẩn bị cho bữa ăn nhẹ, bà công nương liền bảo mụ Grivois, vừa chỉ tay về phía chiếc ghế bành dát vàng vốn được dành cho vị chủ tọa cuộc gặp: “Đã có đệm dưới bàn để Đức Ông gác chân chưa thế? Ngài lúc nào cũng phàn nàn là bị lạnh.”

“Thưa điện hạ, có rồi ạ,” mụ Grivois thưa sau khi cúi xuống ngó gầm bàn; “miếng đệm ở đó rồi ạ.”

“Hãy chuẩn bị thêm một ống đựng nước bằng gang tây chế đầy nước sôi, nhỡ đâu Đức Ông thấy miếng đệm vẫn chưa đủ ấm chân.”

“Vâng, thưa phu nhân.”

“Và cho thêm củi vào lò sưởi đi.”

“Nhưng thưa phu nhân, trong lò bây giờ đã nóng hừng hực như cái lò nung rồi ạ. Hơn nữa, nếu Đức Ông đây lúc nào cũng thấy quá lạnh, thì Đức Giám Mục xứ Halfagen lại lúc nào cũng thấy quá nóng. Ngài đổ mồ hôi đầm đìa.”

Công nương nhún vai, bảo mụ Grivois: “Đức Hồng Y Malipieri chẳng lẽ không phải là cấp trên của Đức Giám Mục xứ Halfagen hay sao?”

“Vâng, thưa điện hạ.”

“Vậy thì, theo các quy tắc phẩm trật, ngài Giám mục phải chịu đựng cái nóng, còn hơn để Đức Hồng Y phải chịu cái lạnh. Thế nên, cứ làm theo lời ta bảo, chất thêm củi vào lò đi. Chẳng có gì là không hợp lẽ tự nhiên cả; ngài Hồng Y vốn là người Ý, còn ngài Giám mục lại đến từ miền bắc nước Bỉ, họ quen với những nền nhiệt độ khác nhau mà.”

“Tùy theo ý điện hạ vậy,” mụ Grivois vừa nói vừa tống hai khúc củi to tướng vào lò sưởi; “nhưng với cái nóng thế này thì ngài Giám mục có lẽ ngạt thở mất thôi.”

“Ta cũng thấy hơi nóng; nhưng chẳng phải thánh giáo của chúng ta vẫn dạy chúng ta những bài học về sự hy sinh và khổ hạnh đó sao?” công nương nói với một vẻ mặt sùng đạo đầy cảm động.

Đến đây, chúng tôi đã lý giải xong nguyên nhân của bộ trang phục có phần rực rỡ mà công nương diện trên người. Bà đang chuẩn bị tiếp đón các bậc chức sắc trong giáo hội, những người cùng với cha dãm D’Aigrigny và các nhân vật chóp bu khác của Giáo hội, đã tề tựu tại dinh thự vương giả này để tiến hành một thứ hội đồng thu nhỏ. Một cô dâu trẻ tổ chức buổi vũ hội đầu tiên, một thiếu niên vừa được tuyên bố thành niên mở tiệc chiêu đãi độc thân đầu tiên, một nữ sĩ đọc lớn tác phẩm đầu tay chưa từng xuất bản của mình trước công chúng, đều không thể tỏ ra hân hoan, tự hào và đồng thời chu đáo với khách khứa đến thế, nếu đặt lên bàn cân so sánh với vị công nương cùng các vị giám mục của bà. Việc được chứng kiến những đại sự được bàn thảo ngay tại tư gia và trước mặt mình, việc được nghe những con người tài năng được công nhận cậy nhờ lời khuyên trong một số vấn đề thực tế liên quan đến ảnh hưởng của các hội đoàn phụ nữ, đã dâng đầy lòng tự hào trong lòng công nương, bởi những đóng góp của bà cho uy tín của giáo hội đã được các Đức Giám Mục và Đức Hồng Y ban ơn chuẩn nhận, và qua đó, bà tự đặt mình vào vị thế tựa như một người mẹ của Giáo hội. Chính vì thế, để lấy lòng các vị giám mục này, dù là nội địa hay ngoại quốc, bà không từ bất kỳ sự nịnh bợ thánh thiện hay những lời đường mật đội lốt tu hành nào. Chẳng có gì logic hơn những màn biến hóa liên tiếp của người đàn bà vô cảm này, kẻ chưa từng chân thành và tha thiết yêu thương bất cứ điều gì ngoài mưu đồ và sự thống trị. Cùng với tuổi tác, bà tự nhiên bước từ những cõi lòng ái tình sang chốn chính trị, rồi từ chính trị chuyển hẳn sang tôn giáo.

Vừa lúc bà kiểm tra xong xuôi mọi công tác chuẩn bị, tiếng xe ngựa lộc cộc vang lên ngoài sân trong, báo hiệu sự hiện diện của những vị khách mà bà hằng mong đợi. Chắc chắn những vị khách này phải có địa vị vô cùng tôn quý, bởi phá lệ hoàn toàn với mọi khi, bà ra tận cửa phòng khách lớn để đón tiếp họ. Quả thực, đó chính là Đức Hồng Y Malipieri, người lúc nào cũng thấy lạnh, cùng vị Giám mục người Bỉ xứ Halfagen, kẻ luôn thấy bức bối vì nóng. Đi cùng họ là cha dãm D’Aigrigny. Vị hồng y người La Mã là một người cao gầy, gân guốc hơn là gầy mòn, với khuôn mặt vàng ệch húp híp, kiêu ngạo và đầy mưu mô; ngài hơi lé, và đôi mắt đen được bao quanh bởi một quầng thâm sâu hoắm. Vị Giám mục người Bỉ thì thấp, mập mạp và đẫy đà, bụng phệ, sắc mặt phảng phất dấu hiệu tai biến, ánh mắt chậm chạp, từ tốn, cùng đôi bàn tay mềm mại, đầy ngấn và nõn nà.

Chẳng mấy chốc, mọi người đã tề tựu đông đủ trong phòng khách lớn. Vị hồng y lập tức sà ngay lại gần lò sưởi, trong khi vị giám mục, mồ hôi vã ra như tắm và thở hồng hộc, đăm đăm hướng ánh mắt thèm thuồng về phía ly sô-cô-la và cà phê đá đang chờ sẵn để giúp ông chống chọi lại cái nóng oi bức của mùa hè nhân tạo này. Cha dãm D’Aigrigny bước đến gần công nương, thì thầm nhỏ giọng: “Ngài có thể ra lệnh cho phép cha xứ Gabriel de Rennepont vào gặp khi ngài ấy đến được không ạ?”

“Vị linh mục trẻ tuổi đó đã có mặt ở đây rồi sao?” công nương hỏi với vẻ ngạc nhiên tột độ.

“Từ hôm kia cơ ạ. Chúng tôi đã cho triệu tập ngài ấy về Paris thông qua các bề trên. Rồi phu nhân sẽ rõ mọi chuyện. Còn về phần Cha Rodin, xin phu nhân cứ bảo mụ Grivois cho ngài ấy vào bằng cửa nhỏ ở cầu thang phụ như hôm nọ.”

“Hôm nay ngài ấy sẽ tới chứ?”

“Ngài ấy có rất nhiều vấn đề hệ trọng cần thông báo. Ngài ấy muốn cả Đức Hồng Y và Đức Giám mục đều có mặt, bởi hai vị đã được Bề trên Tổng quyền thông báo tường tận mọi sự tại Roma với tư cách là các cộng sự.”

Công nương kéo chuông, truyền đạt những chỉ thị cần thiết, rồi quay người về phía đức hồng y, cất giọng đầy vẻ ân cần tha thiết: “Đức ngài đã thấy ấm hơn chút nào chưa ạ? Đức ngài có muốn chườm một chai nước nóng vào chân không? Hay chúng ta nhóm lò to hơn nữa cho đức ngài nhé?”

Nghe câu hỏi đó, vị giám mục người Bỉ, đang đưa tay lau dòng mồ hôi túa ra trên trán, liền thở dài một tiếng tuyệt vọng.

“Ngàn lần đa tạ công nương,” vị hồng y đáp lại bằng một thứ tiếng Pháp rất sõi nhưng mang đậm đặc giọng Ý khó chịu; “tôi thực sự vô cùng cảm động trước sự ân cần này.”

“Đức ngài có muốn dùng chút đồ giải khát không ạ?” công nương hỏi vị giám mục khi quay người hướng về phía tủ đựng thức ăn.

“Xin phép thưa phu nhân, tôi xin dùng một ít cà phê đá,” vị giám mục vừa nói vừa khôn ngoan đi vòng một quãng để tiếp cận các món ăn mà không phải đi qua trước lò sưởi.

“Thế còn Đức ngài, xin hãy thử một chiếc bánh nhân hàu này xem ạ? Chúng vẫn còn đang nóng nguyên đấy ạ,” công nương niềm nở mời mọc.

“Tôi biết chúng rồi, thưa công nương,” vị hồng y đáp với phong thái và ánh mắt của một kẻ sành ăn thực thụ; “chúng vô cùng tuyệt hảo, và tôi không tài nào cưỡng lại nổi sự cáM dỗ này.”

“Tôi xin vinh hạnh được dâng lên Đức ngài loại rượu gì đây ạ?” công nương ân cần hỏi tiếp.

“Một chút rượu vang claret, nếu ngài không phiền, thưa phu nhân;” và trong lúc cha dãm D’Aigrigny đang toan rót rượu đầy ly cho đức hồng y, công nương liền tranh lấy vinh hạnh đó.

“Chắc hẳn Đức ngài sẽ đồng tình với những việc tôi đã làm,” cha dãm D’Aigrigny vừa thưa với đức hồng y trong lúc vị này đang say sưa thưởng thức những chiếc bánh hàu, “khi không triệu tập đến đây vào hôm nay Giám mục Mogador, Tổng giám mục Nanterre, cùng Hiền mẫu Perpetue, nữ tu viện trưởng tu viện St. Mary, bởi cuộc gặp gỡ mà chúng ta sắp sửa tiến hành với Cha kính yêu Rodin và cha xứ Gabriel hoàn toàn mang tính chất riêng tư và cơ mật.”

“Cha bề trên của chúng ta đã làm hoàn toàn chính xác,” vị hồng y lên tiếng; “bởi lẽ, dẫu cho những hệ lụy có thể xảy ra từ vụ việc dòng họ Rennepont này có liên quan đến toàn thể Giáo hội đi chăng nữa, thì vẫn có những chuyện tốt hơn hết là nên giữ kín.”

“Vậy thì tôi phải nhân cơ hội này để bày tỏ lòng biết ơn tới Đức ngài vì đã rủ lòng thương hạ cố phá lệ vì một nữ tôi tớ vô cùng khiêm nhường và bé mọn của Giáo hội,” công nương kính cẩn nhún gối chào sâu thẳm trước vị hồng y.

“Đó là điều hoàn toàn phải đạo và công bằng, thưa phu nhân,” vị hồng y vừa đáp lời vừa cúi đầu đặt chiếc ly không xuống bàn; “chúng tôi thừa hiểu Giáo hội mang ơn bà biết nhường nào nhờ định hướng vô cùng lành mạnh mà bà dành cho các cơ sở tôn giáo mà bà đang đứng ra bảo trợ.”

“Liên quan đến vấn đề đó, Đức ngài có thể hoàn toàn yên tâm rằng tôi luôn từ chối trợ giúp bất kỳ kẻ khốn khó nào không xuất trình được giấy chứng nhận xưng tội.”

“Và chỉ có như thế, thưa phu nhân,” vị hồng y lại tiếp lời, lần này không kìm được trước sự hấp dẫn từ những chiếc đuôi tôm, “chỉ có cách đó thì việc bố thí mới thực sự mang ý nghĩa. Tôi chẳng bận tâm nếu những kẻ ngoại đạo phải chịu đói khát, nhưng với những người có đạo thì lại là chuyện khác;” vị giám mục vui vẻ nuốt một miếng đầy miệng. “Hơn thế nữa,” ngài nói tiếp, “ai cũng rõ ngài nhiệt thành đến nhường nào trong công cuộc truy cùng diệt tận những kẻ vô đạo và đám phản loạn chống lại quyền uy của Đức Thánh Cha.”

“Đức ngài cứ vững dạ rằng tâm can tôi hoàn toàn thuộc về Roma; tôi chẳng thấy giữa một kẻ theo thuyết Gallican và một tên Thổ Nhĩ Kỳ có điểm gì khác biệt cả,” công nương dõng dạc tuyên bố.

“Công nương nói rất phải,” vị giám mục người Bỉ tiếp lời: “Tôi xin nói thêm thế này, một kẻ theo thuyết Gallican còn đáng ghê tởm đối với Giáo hội hơn cả một tên ngoại giáo. Về điểm này, tôi hoàn toàn có chung quan điểm với Louis XIV. Người ta từng xin ngài ban ơn cho một kẻ thuộc hạ cận thần. ‘Không bao giờ,’ vị vua vĩ đại đáp: ‘Hắn ta là một tín đồ Jansenist.’ — ‘Tâu bệ hạ, hắn không phải, hắn là một kẻ vô thần.’ — ‘Ồ! Thế thì khác; trẫm sẽ chuẩn y thỉnh cầu của hắn,’ nhà vua phán.”

Trò đùa nhỏ mang màu sắc giám mục ấy khiến tất cả bật cười sảng khoái. Ngay sau đó, cha dãm D’Aigrigny với nét mặt nghiêm túc trở lại, quay sang hướng về phía đức hồng y: “Thật đáng tiếc thay, như tôi vừa định thưa với Đức ngài về trường hợp của cha xứ Gabriel, nếu không được giám sát một cách thật ngặt nghèo, hàng giáo sĩ cấp dưới rất dễ bị tiêm nhiễm những tư tưởng ly khai và mầm mống nổi loạn chống lại cái mà họ gọi là sự độc đoán của các giám mục.”

“Gã linh mục trẻ tuổi này hẳn là một tên Luther thời nay rồi!” vị giám mục thốt lên. Rồi nhón gót bước đi, ông tự rót cho mình một ly rượu Madeira tuyệt hảo, nhúng vào đó vài chiếc bánh ngọt có hình chiếc gậy mục tử.

Nối gót theo gương vị giám mục, Đức Hồng Y viện cớ sưởi ấm đôi chân bằng cách xích lại gần lò sưởi hơn nữa, tự túc rót cho mình một ly rượu Malaga cổ hảo hạng, thong thả nuốt từng ngụm với vẻ mặt đầy vẻ trầm ngâm suy tư; đoạn ngài cất lời: “Vậy ra cha xứ Gabriel này lại định đóng vai kẻ cải cách. Hắn hẳn phải là một kẻ tham vọng. Liệu hắn có nguy hiểm không?”

“Theo đánh giá từ các bề trên của ngài ấy thì là có. Họ đã lệnh cho ngài ấy phải tề tựu về đây. Chẳng mấy chốc ngài ấy sẽ tới, và tôi sẽ trình bày cho Đức ngài rõ lý do vì sao tôi lại cho triệu tập ngài ấy. Nhưng trước tiên, tôi có giữ một bản ghi chép về những khuynh hướng nguy hiểm của cha xứ Gabriel. Một số câu hỏi đã được đặt ra cho ngài ấy liên quan đến một vài hành vi của bản thân, và chính nhờ những câu trả lời đó mà các bề trên mới quyết định triệu hồi ngài ấy về.”

Nói đoạn, cha dãm D’Aigrigny rút từ trong ví da ra một tờ giấy và bắt đầu đọc:

“‘Câu hỏi. — Có đúng là ngài đã cử hành các nghi thức tôn giáo cho một giáo dân trong giáo xứ đã qua đời trong sự cố chấp cùng cực mang tính chất đáng ghê tởm nhất, bởi y đã tự vẫn hay không?

“‘Câu trả lời của cha xứ Gabriel. — Tôi đã chu toàn bổn phận cuối cùng cho y, bởi vì hơn bất kỳ ai hết, chính vì cái chết tội lỗi đó mà y càng cần đến những lời cầu nguyện của giáo hội hơn cả. Suốt đêm hôm sau ngày chôn cất y, tôi đã không ngừng khẩn cầu lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho y.

“‘Q. — Có đúng là ngài đã từ chối một bộ vật dụng thánh hiến bằng bạc dát vàng cùng các vật phẩm trang trí khác mà một tín đồ với lòng nhiệt thành sùng đạo muốn cung hiến cho giáo xứ của ngài hay không?

“‘A. — Tôi đã từ chối những thánh khí và vật phẩm trang hoàng ấy, bởi nhà của Chúa phải sự giản dị và không gian thanh bần, cốt để nhắc nhở các tín hữu rằng Đấng Cứu Thế thiêng liêng sinh ra trong một máng cỏ. Tôi đã khuyên người có nhã ý muốn dâng những món quà vô bổ ấy cho giáo xứ hãy đem số tiền đó dùng vào việc bố thí một cách khôn ngoan, và cam đoan rằng điều đó sẽ đẹp lòng Chúa hơn.’”

“Thật là một lời lẽ đả kích cay độc và dữ dội chống lại việc trang hoàng đền thờ của chúng ta!” Đức Hồng Y kêu lên. “Vị linh mục trẻ này quả là vô cùng nguy hiểm. Xin mời cha đọc tiếp.”

Và trong cơn phẫn nộ, vị hồng y liền húp liền mấy thìa kem dâu. Cha dãm D’Aigrigny tiếp tục đọc.

“‘Q. — Có đúng là ngài đã tiếp đón trong nhà xứ của mình, và dung chứa ở đó suốt mấy ngày trời, một cư dân trong làng, gốc người Thụy Sĩ, thuộc giáo phái Tin Lành? Có đúng là không những ngài không tìm cách cải đạo y theo Đức tin Công giáo và Tông truyền duy nhất, mà ngài còn đẩy sự xao lãng bổn phận thiêng liêng đi xa đến mức đem chôn cất kẻ dị giáo đó vào mảnh đất vốn được thánh hiến để làm nơi yên nghỉ cho các tín hữu chân chính hay không?

“‘A. — Một người anh em của tôi đã không nhà không cửa. Cuộc đời y vốn sống lương thiện và cần cù. Đến tuổi xế chiều, sức cùng lực kiệt, bệnh tật lại đổ âập xuống; trong cơn thoi thóp cận kề cái chết, y bị đuổi khỏi túp lều rách nát bởi một kẻ chủ nhà nhẫn tâm mà y còn thiếu tiền thuê nhà cả năm. Tôi đã đón cụ già về nhà, vỗ về những ngày tháng cuối đời cho ông cụ. Con người khốn khổ ấy đã lao động và chịu đựng suốt cả cuộc đời; khi lâm chung, y chẳng thốt lên một lời cay đắng nào trước số phận nghiệt ngã; y phó thác linh hồn cho Chúa và thành kính hôn lên tượng Chúa chịu nạn. Tâm hồn thanh bạch và giản dị ấy đã trở về bên lòng Đấng Tạo Hóa. Tôi đã kính cẩn khép lại đôi mắt cho y, an táng y, cầu nguyện cho y; và dẫu y qua đời trong đức tin Tin Lành, tôi vẫn tin rằng y xứng đáng được an nghỉ nơi đất thánh.’”

“Càng lúc càng tồi tệ hơn!” Đức Hồng Y thốt lên. “Thói khoan dung này quả là quái đản. Đây là một sự công kích kinh hoàng vào châm ngôn cốt lõi của đạo Công giáo: ‘Ngoài Giáo hội ra không có ơn cứu độ.’”

“Và tất cả những điều này càng trở nên trầm trọng hơn, thưa Đức ngài,” cha dãm D’Aigrigny tiếp lời, “bởi sự ôn hòa, lòng bác ái và tinh thần sùng đạo Cơ Đốc của cha xứ Gabriel đã khơi gợi niềm phấn khích tột độ, không chỉ trong giáo xứ của ngài ấy mà còn lan rộng ra toàn bộ các vùng lân cận. Các linh mục ở những giáo xứ quanh vùng cũng đã xuôi theo làn sóng chung ấy, và phải thừa nhận rằng nếu không nhờ sự tiết chế của ngài ấy thì một cuộc ly giáo quy mô lớn đã nổ ra rồi.”

“Thế nhưng cha kỳ vọng điều gì sẽ xảy ra khi đưa ngài ta đến đây?” vị giám mục cất lời hỏi.

“Hoàn cảnh của cha xứ Gabriel rất phức tạp; trước hết, ngài ấy chính là người thừa kế của gia tộc Rennepont.”

“Nhưng chẳng phải ngài ấy đã từ bỏ quyền lợi của mình rồi sao?” Đức Hồng Y hỏi.

“Vâng, thưa Đức ngài; và văn bản từ bỏ này, ban đầu vốn chưa hợp thức hóa, nay đã được hợp pháp hóa một cách hoàn toàn chuẩn mực theo luật pháp với sự đồng thuận tự nguyện của ngài ấy; bởi ngài ấy đã thề độc rằng dù chuyện gì xảy ra đi chăng nữa cũng sẽ từ bỏ phần di sản thừa kế của mình để nhường lại cho Dinh Chúa. Mặc dù vậy, Cha kính yêu Rodin vẫn cho rằng nếu Đức ngài, sau khi giải thích cho cha xứ Gabriel hay rằng ngài ấy sắp được các bề trên triệu hồi, hãy đề cử cho ngài ấy một chức vị cao trọng nào đó tại Roma, thì biết đâu có thể lung lạc ngài ấy rời khỏi nước Pháp, và chúng ta có thể thành công trong việc khơi dậy trong tâm khảm ngài ấy những tham vọng vốn dĩ tạm thời đang ngủ quên; và như Đức ngài đã nhận xét rất chuẩn xác rằng, mọi nhà cải cách đều phải là kẻ mang tham vọng.”

“Ta chuẩn y ý kiến này,” vị hồng y trầm ngâm giây lát rồi đáp; “với tài năng và năng lực thao túng lòng người như thế, cha xứ Gabriel hoàn toàn có thể vươn lên rất cao, nếu ngài ta biết vâng lời; còn bằng như không chịu nghe lời, thì vì sự an toàn của Giáo hội, ở Roma vẫn tốt hơn là ở lại Pháp — vì cha thừa biết đấy, thưa cha kính yêu, chúng ta có những biện pháp đảm bảo mà ngài tiếc thay nước Pháp lại không có.”(36)

Sau vài phút im lặng, Đức Hồng Y đột ngột quay sang nói với cha dãm D’Aigrigny: “Nhân tiện chúng ta đang nhắc tới Cha Rodin, hãy nói thẳng cho tôi nghe suy nghĩ của cha về con người đó xem sao.”

“Đức ngài thừa rõ năng lực của ngài ấy mà,” cha dãm D’Aigrigny đáp với vẻ mặt gượng gạo và đầy nghi kỵ; “Cha Bề trên Tổng quyền đáng kính của chúng ta—”

“Đã ủy nhiệm ngài ấy thay thế vị trí của cha,” Đức Hồng Y tiếp lời; “tôi rõ chuyện đó chứ. Ngài ấy từng nói với tôi thế ở Roma. Nhưng còn ý kiến của cha về nhân cách của Cha Rodin thì sao? Liệu chúng ta có thể hoàn toàn đặt trọn niềm tin vào ngài ấy được không?”

“Ngài ấy sở hữu một tư duy vô cùng thấu đáo, độc đáo, kín đáo và khó dò thấu đến mức,” cha dãm D’Aigrigny ngập ngừng nói, “thật khó lòng đưa ra bất kỳ phán đoán chắc chắn nào về con người ngài ấy.”

“Cha có nghĩ hắn là kẻ tham vọng không?” Đức Hồng Y dừng lại một nhịp rồi hỏi tiếp. “Cha có ngờ rằng hắn nuôi dưỡng những mưu đồ khác ngoài vinh quang lớn lao của Dòng chúng ta không? — Nào, tôi nói thế này là có căn cứ cả đấy,” vị hồng y nhấn mạnh.

“Chà,” cha dãm D’Aigrigny đáp, lòng không khỏi hoài nghi, bởi những kẻ cùng một phường gian trá thường luôn dò xét lẫn nhau cẩn trọng, “nếu xét từ chính sự quan sát của Đức ngài, hoặc qua bản báo cáo từ Cha Bề trên Tổng quyền, thì Đức ngài nghĩ sao ạ?”

“Tôi nghĩ rằng — nếu lòng sùng đạo bề ngoài của hắn đối với Dòng thực chất đang che đậy một tâm tư mưu tính nào khác — thì tốt hơn hết là nên vạch trần nó — bởi với thứ ảnh hưởng mà hắn gây dựng được tại Roma (điều mà tôi đã tận mắt hay biết), một ngày nào đó không xa, hắn sẽ trở thành một mối họa vô cùng đáng sợ.”

“Thế thì!” cha dãm D’Aigrigny thốt lên, bị thôi thúc bởi lòng ghen tị âm ỉ dành cho Rodin; “về điểm này, tôi hoàn toàn có chung quan điểm với Đức ngài; bởi đôi khi chính tôi cũng nhận thấy ở con người hắn những tia chớp tham vọng vừa đáng ngại lại vừa bất thường — và dã tâm ấy lớn đến mức tôi buộc phải bộc bạch hết thảy với Đức ngài—”

Cha dãm D’Aigrigny chưa kịp nói hết câu thì bỗng có tiếng gõ cửa vang lên, mụ Grivois hé mở cửa rồi ra hiệu cho nữ chủ nhân. Công nương gác đầu chào đáp lại, mụ Grivois liền lui ra ngay lập tức. Chỉ một giây sau, Rodin bước vào phòng.

(36) Ai cũng rõ là vào năm 1845, Tòa án Dị giáo, hình thức giam giữ biệt lập, vân vân, vẫn còn tồn tại ở Roma.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.