Clint Wadley chỉ mới trở thành người giàu có chưa lâu, và cuộc sống ở vùng Panhandle vẫn còn rất nguyên thủy theo tiêu chuẩn thời nay. Không có tuyến đường sắt nào trong phạm vi một trăm năm mươi dặm tính từ trang trại A T O. Cứ hai tuần một lần, một tên cao bồi lại cưỡi ngựa đến Clarendon để nhận thư và mua ít vật dụng nhỏ. Ngoài ra, sự liên lạc với thế giới bên ngoài chỉ giới hạn trong những chuyến ghé thăm thị trấn thỉnh thoảng.
Thuở nhỏ, Ramona từng sống trong một ngôi nhà một gian làm bằng những khúc gỗ tròn, với chiếc ống khói làm bằng c bùn và gậy, cánh cửa làm bằng ván bổi có các kẽ hở được trát bùn, và nền đất được lát ván gỗ. Cô từng ngủ trên chiếc giường một chân cắm vào tường; ở hai bên thành và đầu giường, cứ cách tám inch người ta lại khoan những lỗ để luồng các dải da bò tươi làm dát giường. Cô từng ngồi trên chiếc ghế đẩu ba chân tự chế bên chiếc bàn tự chế trong bộ quần áo vải thô, và ăn một bát cháo ngô cho bữa tối. Cô từng nhìn người dì làm xà phòng từ nước tro chảy nhỏ giọt qua chiếc phễu lọc tro. Những dụng cụ nấu nướng duy nhất trong nhà là một cái lò nướng kiểu Hà Lan, một cái chảo ba chân, một cái nồi nấu bữa tối, một ấm pha trà, một chiếc xẻng sắt lớn, và một cặpóc treo nồi mắc vào thanh sắt lơ lửng trên đống lửa lộ thiên.
Nhưng đó là những ký ức về thời thơ ấu của cô ở miền nam Texas. Khi sự thịnh vượng đến, Clint đã gửi các con đến Tennessee đi học, và Ramona đã được kiên nhẫn rèn luyện để có được sự yếu đuối trong ý chí mà nền văn minh thời đó đòi hỏi ở những phụ nữ thuộc tầng lớp và địa phương của cô. Cô được dạy cách thêu thùa tỉ mỉ và chơi piano như một tài lẻ chốn phòng khách. Người ta đã cho cô thấy rõ ràng rằng mục đích sống của cô là kết hôn và chăm lo cho tổ ấm, và việc học hành của cô được thiết kế không phải để chuẩn bị cho cô trở thành một người bạn đời xứng tầm với người chồng tương lai, mà để trang bị cho cô những nét duyên dáng nhỏ nhặt có thể dụ dỗ anh ta chọn cô làm vợ.
Khi trở về trang trại, Ramona đã dung hòa giữa sự giáo dục nhận được và dòng máu gia tộc. Cô quay lại việc cưỡi ngựa và bắn súng, dẫu cho cô vẫn đọc sách rất nhiều và chăm chút kỹ lưỡng cho làn da trắng hồng của mình.
Thế nên, khi cô ngước lên từ cái vực sâu mà mình bị chôn vùi và bắt gặp ánh lấp lánh của một vì sao qua khe trời xanh phía trên, cô không hề bất lực như mục đích giáo dục đã định sẵn cho cô. Cơ thể thiếu nữ ấy dẻo dai và đầy sức sống. Sự bền bỉ và một sự dẻo dai tiềm ẩn nào đó đã được truyền cho cô từ lão Clint Wadley.
Cô bắt đầu leo lên, tận dụng mọi chỗ gồ ghề, mọi mỏm đá nhô ra trên bức vách gần như dựng đứng. Một khối fenspat, một bụi cây cằn cỗi mọc ra từ khe nứt, một vết đứt gãy trong cấu trúc đá, nơi này nơi khác đã tạo ra những điểm bấu chân hoặc bám tay. Cô chật vật leo lên, bị chặn lại không chỉ một lần bởi bề mặt nhẵn nhụi mà cơ thể mềm mại ấm áp của mình đang áp vào. Những lúc như thế, cô lại thả người xuống, xoay sang phải hoặc sang trái, và tìm cách hướng tới một mục tiêu khác.
Ramona biết rằng chỉ cần trượt chân một chút, chỉ cần một cơ bắp nào đó lơi lỏng đôi chút thôi, cũng sẽ khiến cô lao cắm đầu xuống tận đáy khe vực. Điều tồi tệ nhất là cô không thể trông cậy vào cái chân bị thương của mình. Nó có thể giúp cô vượt qua hoặc cũng có thể không.
Chỉ còn cách đỉnh vài bước chân, ngay phía dưới bụi cây cúc đắng, cô đã đi vào ngõ cụt. Bức vách lạnh lẽo không còn chỗ bám tay nào để cô có thể với tới khoảng cách vài inch ngắn ngủi giúp cô chạm đến phần rễ búi chặt. Cô tháo thắt lưng ra, ném một đầu qua thân bụi cây, rồi cẩn thận luồn nó xuống cho đến khi có thể cài khóa lại. Nhờ chiếc thắt lưng này, cô leo ngược lên từng tay một cho đến khi có thể với tới bụi cúc đắng. Đầu gối cô tìm được điểm tựa trong vòng dây thắt lưng, và chỉ khoảnh khắc sau, cô đã ngoằn ngoèo nhích từng inch qua mép vực để lên đến bề mặt phẳng phiu phía trên.
Không một bóng dáng người Apache nào xuất hiện. 'Mona lấy lại chiếc thắt lưng và bắt đầu di chuyển lên mỏm đá hướng về đỉnh đồi. Một âm thanh khựng bước chân cô lại. Đó là tiếng trống tom-tom.
Cô biết lũ thổ dân hẳn đang cắm trại bên hồ. Có lẽ bọn chúng đang mở tiệc và khiêu vũ. Dù thế nào đi nữa, cô cũng không thể đi thẳng về nhà. Cô phải giữ ở phía bên này ngọn đồi, đi vòng một đoạn thật xa, rồi rẽ vào từ hướng tây.
Chân cô đã bắt đầu đau nhức khá nhiều. Kể từ năm giờ sáng, cô chưa ăn gì. Cổ họng cô khô cháy vì khát. Nhưng đó là những chi tiết phải tạm quên đi. Cô phải đi bộ hơn hai mươi dặm xuyên qua sa mạc bất kể tình trạng thể chất của mình ra sao.
Cô thiếu nữ cứ thế lầm lũi bước đi. Cô khập khiễng tiến bước, mỗi dặm đường đi qua lại khiến cô thêm mệt mỏi. Nhưng mãi cho đến khi phát hiện ra mình đã mất hoàn toàn phương hướng, cô mới gục ngã và oà khóc. Vùng đất nơi đây bị chia cắt bởi những thung lũng nhỏ, cái này giống cái kia đến mức trong bóng tối cô đã lạc đường và chẳng còn phân biệt được nam bắc.
Sau những giọt nước mắt là quyết tâm được thắp lại. Cô cố gắng định hướng bằng các vì sao, nhưng dù có giữ được đường đi thẳng thì trong thâm tâm cô cũng chẳng có gì đảm bảo rằng mình đang đi về phía A T O. Mỗi bước chân có thể đang đưa cô rời xa nhà hơn nữa. Một cảm giác nóng như lò vôi đang thiêu đốt cổ họng cô. Cô kiệt sức vì thiếu ăn và sự căng thẳng cực độ mà cô phải gánh chịu suốt thời gian qua, khiến đôi đầu gối khuỵu xuống dưới sức nặng cơ thể khi cô lảo đảo bước qua cát. Cái mắt cá chân tồi tệ cứ liên tục hành hạ cô.
Giữa chốn hoang vu rộng lớn này có thứ gì đó kỳ quái và rợn ngợp làm chùn bước can đảm của cô. Nguy hiểm cũng không phải là những tưởng tượng hoang đường. Lũ da đỏ vẫn có thể phát hiện ra cô. Cô có thể đi lang thang xa khỏi những lối mòn qua lại và chết vì khát như rất nhiều kẻ tha hương từng đến đây trước đó. Những kịch bản thảm họa cứ lũ lượt kéo qua tâm trí cô.
Cô vẫn chỉ là một thiếu nữ, chưa tròn mười bảy tuổi. Thế nên việc cô ngồi xuống để xoa dịu cái mắt cá chân rồi lại bật khóc nức nở, và trong cơn kiệt sức đã khóc thiếp đi lúc nào không hay, là điều hoàn toàn dễ hiểu.
Khi đôi mắt mở ra, mặt trời đang hé rạng trên đường chân trời sa mạc. Giờ thì cô đã phân định được phương hướng. Trang trại A T O chắc hẳn nằm ở phía đông bắc xa xôi so với vị trí hiện tại của cô. Nhưng cách cô chưa đầy một dặm là một hàng cây lúp xúp rải rác. Nơi đó chắc hẳn có dòng suối chảy qua. Cô khập khiễng bước tới trong đau đớn để giải tỏa cơn khát đã và đang hành hạ cô đến cùng cực.
Cô vượt lên sườn của một ngọn đồi nhỏ và nhìn xuống đoạn dốc thoải hướng về phía lùm cây. Trong giây lát, tim cô như ngừng đập. Một làn khói mỏng đang bốc lên từ đống lửa trại và có một bóng người đang cúi lom khom bên đó. Người ấy mặc trang phục của người da trắng. Cùng lúc đó, tiếng súng vang lên tai cô.
Từ cổ họng khô khốc của cô bật ra một tiếng kêu nhỏ như tiếng cừu non. Cô vội vã lao về phía trước, vừa đi vừa cất tiếng gọi hết lần này đến lần khác. Cô lo lắng đến xót xa sợ rằng những người cắm trại sẽ cưỡi ngựa rời đi trước khi họ phát hiện ra cô.
Một người đàn ông tay cầm súng từ bờ suối tiến về phía cô. Cô phát ra một tiếng nấc nghẹn ngào rồi lảo đảo bước về phía hắn.
Cháo ngô (cush) làm từ bánh mì ngô cũ và bánh quy ngô ngâm sữa, đánh nhuyễn thành bột nhão và rán trong mỡ thịt xông khói với muối.