Bình minh vừa hé rạng nơi vùng Panhandle. Chàng cao bồi tuần biên vừa dùng xong bữa điểm tâm gồm bướu bò rừng, cà phê và bánh quy. Anh ăn lấy ăn để cho đẫy bụng, bởi mãi tận sau khi mặt trời lặn rất lâu anh mới lại có cái bỏ vào miệng.
Vừa thu dọn hành lý chuẩn bị lên đường, anh vừa cất cao giọng ngâm nga một điệu hát cao bồi, vui vẻ mà chẳng theo cung điệu nào.
“Ôi, ngày nào cũng thịt xông khói với đậu ngô,
Thà ta gặm cỏ khô trên đồng cỏ còn hơn.”
Trong lúc dùng cát mịn chà rửa bát đĩa rồi tráng lại dưới dòng nước suối, anh cất tiếng rộn rã hướng về một thế giới non trẻ đang ngập tràn sắc xuân:
“Sớm muộn gì ta cũng bán phắt đồ nghề đi thôi,
Chẳng thèm chăn bò cho thằng cha khốn kiếp nào nữa đâu.”
Chiếc ca thiếc gõ nhịp lách cách vào đĩa thiếc theo từng bước nhảy lê chân ngẫu hứng. Jack Roberts đang ở một nơi cách chốn văn minh đến năm mươi dặm, trơ trọi giữa sa mạc hoang vu, nhưng dòng máu nóng của tuổi trẻ vẫn giục giã đôi chân anh cất bước. Sao lại không khiêu vũ cơ chứ? Anh mới hai mươi mốt tuổi đầu, cao năm bộ mười một inch khi đi chân đất, và nặng một trăm bảy mươi pound toàn xương xẩu, gân guốc cùng những thớ cơ săn chắc nịt. Là người con của bầu trời xanh thẳm và những dải đất lộng gió ngút ngàn, anh chưa từng ốm đau một ngày nào trong đời. Chính vì thế, khoảng trời rực rỡ ánh dương kia nom sao mà đáng yêu đến thế.
Anh trèo lên lưng con ngựa buộc cọc gần trại rồi phi ra đàn ngựa bảy con đang gặm cỏ dưới một con lạch cạn. Anh quăng thòng lọng bắt lấy một con dắt về trại, rồi thoăn thoắt đóng yên cương một cách thành thạo.
Chàng tuần biên đu mình lên yên, thúc ngựa chạy nước kiệu. Lên tới đỉnh đồi, anh phóng tầm mắt nhìn qua những rặng sơn nguyên chan hòa ánh nắng đang nhấp nhô trải dài tít tắp đến tận chân trời. Vùng hoang mạc nở hoa rực rỡ với những sắc tím, hồng và đỏ thắm của các loài xương rồng, điểm xuyết những búp trắng muốt như hoa loa kèn của loài cây ngọc giá. Cây ngọc giá và xương rồng lê gai đều đang kỳ trổ hoa. Đôi mắt tinh tường của anh quét nhanh qua bức tranh toàn cảnh. Ở đằng xa, một đàn linh dương nhỏ đang nối đuôi nhau đi xuống mép nước. Trên sườn đồi cách đó hai dặm, một bầy bò rừng nhỏ đang thong dong gặm cỏ. Tuyệt nhiên không một dấu tích nào của con người hiện diện giữa cõi không gian tĩnh mịch bao la này.
Người cao bồi quay ngựa về hướng nam, giữ nhịp bước đều đặn trên đường. Bằng một sự chuẩn xác kỳ lạ, anh nhận ra mọi dấu vết liên quan đến đàn bò. Dẫu cho những con bò đang nấp nửa mình trong bụi rậm lẫn vào màu đất đá ven đồi, anh vẫn phát hiện ra chúng mà không hề nhầm lẫn. Những dấu sắt nung trên mình gia súc ở khoảng cách xa đến mức một tay lính mới chỉ thấy mờ mịt một vệt nhòe, thì đối với anh lại rõ ràng như mặt chữ vỡ lòng.
Hễ thấy những con bò mang dấu A T O bên hông, anh liền lùa chúng quay đầu về hướng bắc. Trên đường trở về, anh sẽ gom những con vật đi lạc này lại để lùa chúng về đồng cỏ của trang trại. Bởi vào thời bấy giờ, khi dây thép gai còn chưa vươn tới Texas để giăng mắc chia cắt ranh giới đất đai, thì người cao bồi chính là những hàng rào di động linh hoạt hơn cả bầy gia súc lang thang.
Quá trưa một chút, Roberts đi xuống một lòng lạch cạn, nơi có một gã đàn ông to lớn bè bè đang nằm ườn dưới một bụi cây. Gã nằm đó nom như một ngọn núi thịt đồ sộ; làm sao gã trèo lên nổi lưng ngựa quả là một phép màu, mà con ngựa chăn bò nhỏ bé chở nổi gã lại là một điều kỳ diệu khác. Thế nhưng, khắp dải Panhandle chẳng có người tuần biên nào cừ khôi hơn Jumbo Wilkins.
“Chào, Texas,” gã béo cất tiếng chào.
Chàng tuần biên trẻ tuổi có được biệt danh “Texas” là từ một hai năm trước tại New Mexico, nhờ vào tính khí hăng hái bênh vực tiểu bang quê nhà của mình. Chẳng hiểu sao cái biệt danh ấy vẫn bám riết lấy anh ngay cả khi anh đã trở về Panhandle.
“Chào, Jumbo,” anh đáp lại. “Khỏe không?”
“Béo như que tăm ấy. Tao đang sút cân thấy rõ đây này. Hôm qua lại vừa phải thắt lùi vào một nấc thắt lưng nữa rồi.”
Roberts dịch người trên yên, dồn trọng lượng sang núm yên và mũi bàn chân một bên cho đỡ mỏi. Anh là một thanh niên mảnh khảnh, da ngăm đen, cứng cỏi như đinh và dẻo dai như chão da. Đôi mắt anh nhanh nhẹn và đầy vẻ cảnh giác. Dẫu lúc này đôi mắt ấy đang lấp lánh nét tinh quái nghịch ngợm, người ta vẫn cảm nhận được ở anh một sức mạnh nội lực. Có thể anh là, hoặc không phải là một “tay anh chị” theo cách gọi của dân xứ này, nhưng chắc chắn anh là một kẻ rất được việc.
“Chắc bị lao phổi cấp tính rồi chứ gì,” chàng trai trẻ phán ngay tắp lự. “Trông anh tôi thấy chẳng nặng quá ba trăm năm mươi pound lấy một ounce nào đâu. Dạo này biếng ăn rồi hả?”
“Mày nói chỉ có chuẩn. Tao ốm thật rồi, Tex à. Sáng nay tao chỉ ăn có vài lát thịt xông khói, mấy miếng bít tết cỏn con, một hai chảo bánh kếp với chừng chín mười cái bánh quy thôi. Ăn xong thấy bụng cứ ấm ách thế nào ấy. Tao cần uống chút nước sá xị. Giá mà bây giờ tao xin nghỉ được vài hôm—”
“Để anh tạt qua quầy rượu ở quán Lồng Chim tu mấy hớp sá xị chứ gì, đúng không Jumbo?” chàng trai toét miệng cười.
Gã khổng lồ trừng mắt nhìn anh đầy vẻ trách móc. “Mày có bao giờ thấy tao xách súng bắn phá thị trấn hay quậy phá tưng bừng lúc say xỉn đâu. Rượu chè tao muốn uống thì uống, muốn bỏ thì bỏ chứ bộ.”
“Cái đó thì đúng thật. Không có ai nhịn giỏi bằng anh mỗi khi hết sạch rượu đâu. Tôi để ý thấy suốt rồi mà.”
“Mày đừng có trêu tao, thằng nhóc. Hồi mẹ mày còn tét đít mày vì tội ăn vụng đường thì tao đã đi chăn bò sừng dài rồi đấy nhé. Ờ mà nhắc mới nhớ. Tao nhẵn túi đường rồi. Cho tao vay ít đường cho tới khi lão Pedro quay lại được không? Không có đường là người tao nó tóp đi ngay tắp lự,” gã béo rền rĩ.
Hai người tuần biên chuyện trò dông dài về những chủ đề thu hút cánh đàn ông nơi miền biên viễn hoang vu này. Họ nói đôi câu về người da đỏ, nhưng bàn nhiều hơn về số lương thực đang vơi dần. Jumbo kể rằng gã có nhìn thấy một con bò mang dấu A T O chết cạnh một vũng nước. Họ cũng nhắc vu vơ về băng đảng Dinsmore, một toán thảo khấu chuyên trộm trâu bò đang hoành hành ở vùng Đất Vô Chủ. Họ chẳng có mấy tin tức về mọi người xung quanh, vì suốt ba tuần nay cả hai đều chưa gặp mặt một bóng người nào ngoài Quint Sullivan, người tuần biên phụ trách trông nom đàn gia súc A T O ở phía đông khu vực của Roberts.
Một lát sau, Roberts gật đầu chào tạm biệt rồi lại hòa mình vào chốn cô quạnh của những khoảng không gian vắng lặng. Những triền đất nhấp nhô nuốt chửng bóng anh. Một lần nữa, anh lại men theo các lòng lạch cạn, băng qua những vệt đất xói, trèo lên những quả đồi thoai thoải hình lưng bò, vừa đi vừa gom lại những con bò lạc.
Trời đã về chiều thì anh nhìn thấy một lọn khói mỏng bốc lên từ một gò đất cao. Khói có nghĩa là có người đang hiện diện trong vùng, mà bất cứ kẻ nào xuất hiện trên cánh đồng cỏ này đều đáng để dò xét. Người kỵ mã liền tiến lên phía trước để thám thính.
Anh trông thấy một người, một con ngựa, một con bò mẹ, một con bê và một đống lửa. Khi năm thứ ấy cùng tụ lại một chỗ, điều đó có nghĩa là có kẻ đang đóng dấu gia súc. Nhiệm vụ trước mắt của Roberts là phải xem con bò mẹ mang dấu gì và dấu nào đang chuẩn bị được in lên hông con bê. Anh cho ngựa phi nước kiệu chậm rãi tiến về phía trước.
Người đàn ông bên đống lửa đứng thẳng dậy. Hắn cởi mũ ra rồi vung vẩy trước mặt theo hình bán nguyệt từ trái qua phải. Người tuần biên thừa hiểu ngôn ngữ ký hiệu của dân thảo nguyên. Hắn đang “vẫy đuổi đi”. Kẻ kia đang ra hiệu cảnh cáo anh phải đi vòng một đường thật rộng. Điều đó đồng nghĩa với việc gã đã xuống ngựa kia không đời nào chịu để lộ mặt. Một suy luận quá đỗi dễ dàng: hắn là một tên trộm gia súc.
Người cao bồi vẫn thản nhiên thúc ngựa tiến lên. Gã đàn ông bên đống lửa nhấc khẩu súng trường đang nằm dưới chân lên rồi bắn một phát đạn cày đất ngay trước mặt chàng kỵ sĩ vài thước.
Roberts ghìm cương dừng lại. Anh chỉ mang theo một khẩu súng sáu, mà súng ngắn thì vô dụng ở tầm bắn này. Anh chần chừ trong giây lát. Một viên đạn khác lại bắn tung một cụm bụi mù ngay sát móng ngựa của anh.
Chàng tuần biên chẳng đợi thêm một lời cảnh cáo rõ ràng hơn nữa. Anh giơ tay vẫy về phía tên trộm bò rồi gào to theo chiều gió: “Hẹn bữa khác nhé!” Lập tức, anh ngoặt ngựa sang trái rồi biến mất vào một con mương khô. Ngay sau đó, không để lãng phí một giây một khắc, anh thúc ngựa phi thật nhanh men theo lòng lạch cạn hướng về gờ đá mép bàn của một ngọn sơn nguyên. Phía bên phải là hẻm núi Hộp, dẫn tới những vùng đất hiểm trở thuộc một địa hình mà Roberts chưa từng đặt chân tới. Có đến bảy phần mười khả năng là tên trộm bò kia sẽ lủi vào hẻm núi ấy.
Chàng trai trẻ phóng ngựa thật nhanh, thúc con tuấn mã xông lên những triền đồi với tốc độ vũ bão. Anh đang ở trong một vùng đất không một bóng cây, chỉ toàn những bụi cỏ hôi bao phủ. Anh liều lĩnh lao xuyên qua đó, vượt qua những chỗ đất nứt toác mà chẳng hề giảm tốc độ chút nào.
Gần tới đỉnh dốc, Roberts nhảy xuống yên và khom mình chạy về phía trước qua các bụi rậm. Bằng cách gây ra ít tiếng động nhất và đạt tốc độ nhanh nhất, anh đã vượt qua những lùm cây rậm rạp để tiếp cận bờ hẻm núi.
Anh thận trọng bò về phía trước rồi nhìn xuống. Qua những bụi sồi lùn mọc dày đặc trên mép vực, anh nhận ra một người cưỡi ngựa đang lùa một con bê. Con ngựa hắn cưỡi là một con ngựa hồng có bốn cẳng chân trắng và một đốm trắng ở trên mũi. Khoảng cách quá xa khiến Roberts không thể nhìn rõ mặt mũi người cưỡi, dẫu anh có thể thấy gã là một kẻ ngăm đen và mảnh khảnh.
Người tuần biên dõi mắt nhìn theo cho đến khi hắn khuất bóng, rồi trượt men theo vách vực xuống bãi cát dưới đáy mương khô. Anh quỳ xuống và chăm chú nghiên cứu những vết móng in trên nền đất. Dấu vết cho anh biết móng sau bên trái của con vật bị mẻ theo một góc rất kỳ dị.
Jack Roberts trèo ngược lên bờ dốc của hẻm núi và quay trở lại với con ngựa đang đứng đợi anh với một bên hông chùng xuống và đôi mắt ngái ngủ.
“Nào, Hai Xu, chúng mình thong thả dạo bước xem bạn hiền của ta đang tính đi đâu nào.”
Anh lần đường đi xuống hẻm núi và bám theo tên trộm bò. Tới đầu con rãnh núi, kẻ cưỡi con ngựa hồng đã rẽ sang bên trái. Người cao bồi cũng rẽ theo hướng đó. Một tấm biển cắm bên vệ đường sừng sững hiện ra trước mắt anh.
ĐÂY LÀ ĐƯỜNG CỦA PETE DINSMORE—
HÃY ĐI ĐƯỜNG KHÁC
“Tình tiết gay cấn lên rồi đây,” Jack cười nhăn nhở. “Chắc hôm nay mình chẳng nghe theo lời khuyên của Pete đâu. Nghe chối tai lắm.”
Anh nói thành tiếng, tự nói với chính mình hoặc với con ngựa, hay buông lời vào cõi hư không rộng lớn, như những kẻ cô độc cưỡi ngựa trên thảo nguyên hoặc đồi núi vẫn thường làm. Nhưng rồi từ trên trời cao, một giọng nói trầm đục đầy vẻ hống hách vọng xuống đáp lời anh:
“Cút quay lại con đường cũ mau!”
Roberts ngước nhìn lên. Một phiến đá phẳng ngự trên đỉnh vách vực phía trên. Từ mép đá, một nòng súng trường chĩa thẳng ra ngoài. Đằng sau nó là một khuôn mặt bị che khuất bởi chiếc khăn rằn bandana. Một cảnh tượng đầy vẻ chết chóc.
Nếu người tuần biên có hoang mang hay thậm chí giật mình kinh ngạc, anh cũng chẳng hề để lộ ra ngoài mặt.
“Tùy ý ông bạn thôi. Coi như cuộc vui này do ông làm chủ xị vậy,” anh thản nhiên thừa nhận.
“Mày phúc tổ bảy đời mới không chết vì trúng đạn chì trong vòng năm phút nữa đấy. Đừng có giở trò ma mãnh! Biến!”
Người cao bồi biến thật. Anh quay ngoắt con ngựa lại ngay tại chỗ rồi cho nó chạy nước kiệu thong dong trên con đường cũ. Một tay lính mới tò te hẳn sẽ phi ngựa bạt mạng qua hẻm núi này. Ngay cả hầu hết những kẻ lão luyện cũng sẽ thấy phi nước kiệu còn là quá chậm. Nhưng Jack Roberts vẫn giữ nguyên bước đi vững vàng, nhịp nhàng. Không một lần nào anh quay đầu lại nhìn—thế nhưng trên từng bước đường cho đến khi rẽ qua khúc quanh hẻm núi, thắt lưng anh cứ nhói lên từng cơn. Đó hoàn toàn chỉ là cảm giác do tâm lý căng thẳng tạo nên, bởi bất cứ lúc nào một viên đạn cũng có thể găm thẳng vào giữa hai bờ vai anh.
Một khi đã ra khỏi tầm đạn an toàn, người kỵ mã mới đưa tay lau khuôn mặt đang ướt đẫm mồ hôi.
“Chà! Hôm nay đúng là ngày may mắn của mày đấy, Jack ạ. Mày chẳng còn chút khôn ngoan nào hơn là đi bám đuôi bọn trộm bò mà trong tay chỉ có mỗi lời răn dạy ở trường Chúa nhật hay sao? Thôi thì, cứ hy vọng đi! Biết đâu rồi chúng ta sẽ lại gặp nhau ở nơi chín suối trên thiên đàng tươi đẹp kia. Đời thì ai mà biết trước được chữ ngờ.”