Đã có lần Sanya tâm sự rằng cuộc sống của anh cứ luôn luôn thế này: thoạt tiên mọi việc đều rất trôi chảy, nhưng rồi sau đó bất thần xảy ra những chuyện bất ngờ làm đổ sụp tất cả. Riêng lần này có thể nói là đã lọt vào đường xoắn trôn ốc.
Giờ đây khi mà những niềm vui và nỗi buồn của chúng ta trước chiến tranh đã bị bao mối tình cảm mới che lấp và những mối tình cảm mới đó còn da diết, quyết liệt gấp trăm ngàn lần những niềm vui, nỗi buồn đã qua kia thì việc hồi nhớ lại cái sự kiện thất bại đã gây ấn tượng kỳ lạ đối với Sanya trước đây ít lâu thực đáng buồn cười. Ấn tượng đó thậm chí đã làm thay đổi ít nhiều cách nhìn của Sanya đối với cuộc sống.
- Katya, thế là sụp đổ cả rồi! – Sau khi từ nhà giáo sư V. trở về, anh nói giọng quyết liệt. – Thôi, không Bắc cực, không đội thám hiểm, không tàu “St. Maria” gì nữa cả. Anh không muốn nghe đến những cái tên ấy nữa! Tất cả những cái đó đều là chuyện huyền hoặc, trẻ con, đáng lẽ chúng ta phải quên sạch nó đi từ lâu rồi mới phải.
Và tôi đã hứa với anh rằng hai chúng ta sẽ cùng quên các câu chuyện “huyền hoặc trẻ con” ấy đi, mặc dù tôi tin chắc rằng sẽ không bao giờ Sanya có thể quên được nó. Tôi nuôi một hy vọng mong manh rằng trong thời gian trở lại Moskva, Sanya có thể sẽ làm cho cấp trên thay đổi quyết định. Nhưng khi nhận được điện báo của anh thì tôi hoàn toàn thất vọng, vì nó không được phát đi từ Moskva, mà lại từ trên đường anh đi đến Saratov. Nhiệm vụ mới anh vừa được giao càng khẳng định sự sụp đổ tan tành của kế hoạch thám hiểm. Anh được điều đến công tác tại ngành Hàng không nông nghiệp, một ngành được gọi là đặc biệt trong công tác hàng không. Bây giờ thì ngoài việc gieo hạt giống và phun thuốc trừ sâu từ trên máy bay xuống, anh sẽ chẳng làm gì nữa. “Thế càng tốt, họ bảo làm gì anh sẽ làm việc ấy”, – trong bức thư đầu tiên gửi từ một nông trang tập thể về, anh viết như thế đấy. Để được nông trang tập thể sắp xếp công tác, Sanya đã phải nằm chờ ở đấy hơn một tuần lễ. Hãy quên lãng đi những hoang tưởng của quá khứ, quả là những điều chúng ta mơ ước trước đây chỉ là những hoang tưởng không hơn không kém! Nhưng đồng chí Ch. đã nói rất chí lý – đã làm người thì phải làm người giỏi nhất. Em đừng lầm tưởng rằng anh đã chịu thua. Tất cả còn đang ở phía trước”.
“Chúng ta biết ơn giai đoạn lịch sử đã qua”, – trong một bức thư khác, anh viết. – “Ít ra nó cũng giúp chúng ta tìm thấy đối phương và xây dựng được mối quan hệ tình cảm. Anh tin rằng, trong một tương lai không xa, các kế hoạch cá nhân của những năm này sẽ trở thành một sự kiện quan trọng không những chỉ riêng đối với chúng ta thôi”.
Anh viết thư cho tôi tuyền bằng một giọng khách sáo văn vẻ như thế. Và dần dần anh đã làm quen với cái nhiệm vụ vinh quang của “người trồng ngũ cốc” và làm “kẻ thù không đội trời chung của muôn loài sâu bọ”. Rõ ràng là anh đã yêu mến công tác mới của mình. Vì sau đó chẳng bao lâu tôi có nhận được một bức thư với giọng điệu hoàn toàn khác hẳn của anh.
“Bà xã thân yêu”, – anh viết trong thư. – “Em hãy tưởng tượng rằng trên trái đất này có một giống tên là màu xanh Paris[1]. Cần phải bay trên cao để phun thuốc xuống mặt hồ mười một cân thuốc một cây số. Em hãy thử tưởng tượng xem, muốn làm được việc này cần phải có một kỹ thuật bay cao cường như thế nào không. Những mảnh hồ bé tí tẹo lại phân bố rải rác giữa rừng cây, trông cứ giống như đúc cả một lượt. Phải mở hết cửa dầu cho máy bay bay nhanh đến những cái hồ nước đó, đoạn lao chúc xuống rồi lại cất lên thật nhanh. Như thế chẳng thú vị lắm sao? Cũng lạ, hễ mỗi lần anh bay trên những cái hồ như thế, hoặc bay ở tầm thấp đặc biệt để gieo hạt lúa mì là trong đầu óc anh lại dấy lên bao nhiêu ý nghĩ khác hẳn chứ không chỉ riêng công việc của nghề nông. Bây giờ mỗi ngày anh cất và hạ cánh đến một trăm hai mươi nhăm lượt. Nếu màu xanh Paris trên máy bay của anh thay bằng một thứ hàng thú vị khác thì việc cất và hạ cánh hằng ngày của anh sẽ trở thành cuộc tập luyện hết sức bổ ích. Mọi việc đều hướng về phía tốt đẹp, giờ đây anh chẳng cảm thấy ân hận một chút nào. Ôm em. Anh nhìn thấy em bế con trong tay, vừa đi vừa hát khe khẽ, tóc em không tết kỹ bị sổ tung ra, em đến trước mặt anh rồi quỳ xuống để anh quấn lại tóc cho em…”
Cái cảnh mà Sanya tưởng tượng ra đó không phải là hoàn toàn không có căn cứ. Suốt cả ngày tôi để thời gian vào việc chăm sóc Petya con. Hầu như bé thay đổi từng ngày. Quan sát quá trình bé nhận ra tôi, nhận ra bà Rozaliya Naumovna và bà bảo mẫu, quan sát trong đôi mắt thơ ngây không gợn một nét suy tư nào nhưng thỉnh thoảng lại hiện lên vẻ ngạc nhiên và chăm chú đặc biệt là một việc làm không có gì thú vị bằng. Nói ra thì có người sẽ không tin song đây là sự thật; tuy chưa đầy tháng song bé đã biết cười. Bé thích nhìn lên, hễ đèn tắt là bé khóc thét lên. Mới đầu, nhìn thấy bàn tay nhỏ của mình, bé hãi sợ, nhưng về sau bé ngắm nghía mãi cũng bàn tay ấy, và không còn sợ nữa. Những đứa bé đầy tháng khác mặt mũi đều nhăn nheo khó coi, nhưng mặt bé thì lại sởn sơ đầy vẻ vui thích, tựa như vì được ra đời mà vui thích vậy. Tôi cảm thấy bây giờ bé càng giống Sanya. Vừa mới đẻ ra tóc bé đen nhánh và chỉ có ở chỏm đầu, nhưng bây giờ thì đã mọc kín cả gáy. Bé càng lớn càng hết sức dễ thương.
Sự việc diễn biến cứ khác hẳn những điều mong mỏi trong lòng! Tôi đến Leningrad ở hai ba tuần lễ nay là để được gặp mặt và sống bên cạnh Sanya, dầu cho anh ấy có đi đâu tôi cũng quyết không rời xa, thế mà bây giờ anh ấy đã lìa xa tôi hàng nghìn dặm. Và tôi có một gia đình mới hoàn toàn bất ngờ, đó là Petya con, Petya bố và bà bảo mẫu, cả ba người đều cần có người chăm sóc lo liệu mọi thứ, và ai cũng tin rằng trách nhiệm ấy sẽ do tôi đảm nhiệm.
Tuy tôi đã bàn với Sanya hãy quên chuyện nghiên cứu thám hiểm Bắc cực đi, nhưng bản thân thì lại cứ nghiên cứu tiếp tình hình địa chất Bắc cực. Vì tình hình kinh tế rất gay go, nên tôi phải nhận một số việc rất vô vị của Viện nghiên cứu địa chất.
Nếu là thời gian trước đây thì rất có thể tôi sẽ khổ tâm, sẽ tự oán trách dằn vặt mình và suy nghĩ miên man. Nhưng bây giờ tôi lại trở nên hết sức bình thản. Lòng tự tôn, niềm tự hào và nỗi oán hận bởi không đạt được ý nguyện đã bị tôi chôn vùi cùng với những câu chuyện “huyền hoặc trẻ con” trên kia. “Anh yêu quý của em, chúng ta có cách nào hơn bây giờ!” – Tôi viết thư trả lời Sanya, nhân nhận được bức thư của anh tự trách mình là đã kéo tôi đến Leningrad rồi bỏ rơi tôi ở đó, lại còn đặt lên vai tôi mọi gánh nặng gia đình… – “Đúng như chú chánh án đã nói, đừng có “com-măng” gì trong cuộc sống cả”.
Những thư tôi viết cho anh đều rất dài. Tôi kể về bà bảo mẫu nuôi trẻ rất khoa học, kể về sự đổi thay nhanh chóng của Petya con, về việc Petya bố đột nhiên lao vào công việc như điên như dại, về công tác thiết kế kỷ niệm Pushkin được tiến hành tốt đẹp như thế nào.
Nhưng có một việc tôi không hề nhắc đến. Ấy là có một lần trong khi tôi đang mua hàng trong hiệu “Gastronom”[2] trên đại lộ hai mươi nhăm tháng Mười, thì chợt nhìn thấy một hình bóng quen thuộc ở bên ngoài kính cửa sổ. Anh ta mặc áo bành-tô màu tro và đội chiếc mũ mềm tôi hằng ưa thích. Chiếc mũ chụp lên cái đầu to vuông của anh ta trông chẳng tự nhiên chút nào…
Lúc ấy trời đã tối mờ mờ, tôi có thể nhìn nhầm chăng. Nhưng không, người ấy đích xác là Romashov. Anh ta có vẻ rất bình tĩnh, sắc mặt trắng bệch, người hơi ngả về phía trước. Anh ta chậm rãi đi lướt qua tủ kính bày hàng và chẳng mấy chốc mất hút vào trong đám đông.
❀ ❀ ❀
[1] Một loại thuốc sát trùng làm bằng thạch tín. – N.D.
[2] Cửa hàng bán thực phẩm. – N.D.