Mùa hè năm 1944 tôi được nghỉ phép. Tôi và Katya quyết định sẽ về chơi Moskva ba tuần lễ, còn tuần thứ tư thì về Ensk thăm các cụ.
Ngày mười bảy tháng Bảy, chúng tôi về đến Moskva. Đó là một ngày đáng nhớ biết bao! Đúng vào ngày ấy bọn tù binh Đức bị áp tải qua phố xá thủ đô. Hành lý chúng tôi mang theo rất nhẹ, nên quyết định trước tiên sẽ đi tàu điện ngầm vào trung tâm thành phố. Nhưng sau khi ra khỏi sân bay, chúng tôi đã phải đứng chờ suốt hai tiếng đồng hồ mà vẫn chưa vượt được qua đường phố. Thoạt đầu chúng tôi đứng xem; sau mỏi quá, ngả va-li ra kê ngồi, cuối cùng lại đứng lên. Đoàn tù binh vẫn diễu qua không ngớt. Đi đầu bọn chúng là những tên tướng béo phị, trong đó có đứa là đao phủ nổi tiếng. Chúng đội mũ ống cao, vận đồng phục, mặt mày nhẵn nhụi, mang một vẻ kiêu kỳ bị thất thế. Bọn tướng đi đầu đã đến cầu Kreml mà bọn lính ở phía sau hãy còn nối tiếp nhau bước đi khập khiễng mãi tít phía xa, đứa thì mặc quần áo lót, đi chân không, đứa mặc áo khoác dài để hở phanh ngực.
Tôi nhìn chúng nó với một niềm lý thú và một nỗi căm giận cùng cực. Tôi cũng như số lớn các đồng chí lái máy bay khác, hầu như trong suốt cả thời kỳ chiến tranh chưa có lần nào được nhìn tận mặt kẻ thù, kể cả khi lao thẳng vào chúng để công kích trên không trung. Giờ đây thế mà được gặp may, một đám giặc năm vạn bảy nghìn sáu trăm tên xếp hàng hai mươi diễu qua trước mặt tôi. Trong cái ngày huy hoàng này, Moskva như đẹp thêm ra. Bọn chúng nhìn Moskva với vẻ hết sức kinh lạ, nhiều tên ngán ngẩm cúi đầu nhìn xuống chân mình.
Tuy bọn chúng là những con người khác nhau, có những số phận không giống nhau, nhưng chúng có chung một điểm là cử chỉ, hành động của tất cả bọn chúng hoàn toàn khác xa chúng ta.
Tôi nhìn sang Katya. Nàng đứng im, tay đè chiếc túi xách vào sát ngực, lộ vẻ xúc động mãnh liệt. Sau đó nàng bỗng hôn tôi một cái rõ kêu. Tôi hỏi:
- Em xúc động lắm hả?
Nàng trả lời rất nghiêm trang:
- Vâng!
Chúng tôi đem theo khá nhiều tiền. Chúng tôi thuê một chỗ ở loại tốt nhất của khách sạn “Moskva” gồm có năm phòng, thiết bị sang trọng, có gương lớn, có tranh ảnh bày biện trên tường và có cả đàn dương cầm.
Thoạt tiên chúng tôi hơi bàng hoàng. Nhưng sau đó cảm thấy rằng không khó làm quen với những gương soi mặc quần áo, thảm trải sàn cùng những hình vẽ tuyệt vời và hoa lá trên trần nhà. Chúng tôi cảm thấy sống trong những gian phòng ấy thật là nhẹ nhõm và dễ chịu.
Tất nhiên là ngay ngày hôm chúng tôi vừa đến nơi, bác Korablyov đã đến gặp chúng tôi. Bác ăn bận rất đỏm dáng, mặc ở bên trong chiếc sơ-mi in hoa rộng thùng thình, bộ ria mép hình chữ “bát” được vê tròn rất thẳng nếp. Chiếc sơ-mi rất hợp với bác, khiến bác giống hệt như một họa sĩ Nga vĩ đại nào đấy. Song tôi và Katya nghĩ mãi vẫn không nhớ ra được là bác giống ai.
Mùa hè năm 1942, khi tôi gõ lên cánh cửa đính da thú của bác, bác có mặt ở Moskva. Và một lần khi bác về nhà thấy có thư tôi để lại, biết rằng tôi đã lên đường đi Yaroslavl tìm Katya, bác đã quýnh cả lên, hồi ấy bác có mặt ở Moskva.
- Sao anh đi tìm Katya lẩm cẩm thế? Chính hôm đó tôi dẫn cô ấy đến Sở dân cảnh để đăng ký hộ khẩu, vì cô ấy không đăng ký được ở ngõ Sivtsev Vrazhek, thế mà anh lại đi tìm cô ấy ở nơi xa tít mù tắp!
- Bác Ivan Pavlych, cái đó cũng chưa phải là chuyện rủi đâu, – tôi nói. – Mọi việc đã kết thúc tốt đẹp. Mùa hè năm ấy, cháu không được gặp may, cho nên, cháu lại nghĩ rằng đến bây giờ khi mọi chuyện đã được kết thúc tốt đẹp, chúng ta gặp lại nhau càng tốt hơn. Hồi ấy cháu vừa đen vừa gầy nom như người rừng ấy. Còn bây giờ, bác xem, chẳng phải khỏe mạnh hồng hào đấy sao. Bác kể chuyện về bác đi! Bác đã làm những gì và sống ra sao?
Từ trước đến nay bác Ivan Pavlych không quen nói về mình. Nhưng hôm ấy bác cũng đã cho chúng tôi biết được một số tin tức lý thú về trường tiểu học nằm trên đại lộ Sadovo Triumphalnaya. Chính trong trường tiểu học này đã xảy ra sự kiện lớn trong cuộc sống của tôi và Katya. Sau khi học xong tiểu học, cuộc sống nhà trường từ đó bỗng dần dần xa cách lạ lẫm đối với chúng tôi. Khi nhớ lại rằng những đứa trẻ sôi nổi, từng tưởng tượng đời sống vô cùng phức tạp chính là bản thân mình, chúng tôi không khỏi ngạc nhiên. Nhưng đối với bác Ivan Pavlych thì cuộc sống nhà trường vẫn đang tiếp diễn. Hằng ngày bác đến trước gương, thong thả chải bộ ria đỏm dáng của mình và cầm lấy chiếc roi đi dạy học. Từng tốp học trò mới đi qua dưới ánh mắt nghiêm nghị nhưng đầy yêu thương săn sóc của bác, như đi qua luồng chiếu của ánh sáng đèn pha. Ôi, cái ánh mắt của bác lợi hại biết chừng nào! Tôi chợt nhớ đến câu nói của Grisha Faber “Ánh mắt là viên ngọc vô giá”, nếu ở bác có loại ánh mắt ấy thì chỉ cần bỏ ra ít nhiều công phu là bác có thể lập nên công trạng trong sự nghiệp kịch trường.
- Bác Ivan Pavlych, cậu ấy dạo này ở đâu ạ?
- Grisha đang sống ở tỉnh, – bác trả lời, – ở Saratov. Cũng đã lâu tôi không gặp anh ấy. Có lẽ bây giờ anh ấy đã trở thành diễn viên Ưu tú rồi.
- Trước kia cậu ấy đã khá rồi. Cháu rất mê lối biểu diễn của cậu ấy. Chỉ có điều là cậu ấy nói hơi to, nhưng như thế cũng chả sao, lại phát âm được rõ ràng!
Chúng tôi lần lượt nhắc đến từng học sinh cũ trong lớp. Nhớ lại những người bạn cũ hiện đang tứ tản khắp mọi miền đất nước ấy, chúng tôi vừa thương cảm vừa sung sướng. Tanya Velichko đang tham gia công tác xây dựng nhà cửa ở Stalingrad. Shura Kochnev đã trở thành đại tá pháo binh. Trước đây không lâu có thấy tên anh ấy trong một tờ lệnh. Nhưng có nhiều người bác Ivan Pavlych không nắm được chút tin tức nào. Thời gian như bay lướt qua bên cạnh họ, hình ảnh họ trong ký ức của người khác luôn luôn là những đứa trẻ mười bảy, mười tám tuổi. Chúng tôi ngồi ôn lại chuyện cũ rất lâu. Giáo sư Valentin Nikolaevich Zhukov đã gọi điện đến đây ba lần, lần nào cũng bị mọi người mắng rằng anh ta là giáo sư hão, lúc nào cũng mượn cớ bận nghiên cứu rắn hoặc những thứ tạp nham gì đó để hối thúc không chịu đến chơi.
Cuối cùng anh ta đã phải đến, Anh ta đứng bần thần phía cửa, một tay vuốt mũi, dáng tư lự. Hãy trông kìa, anh ta ngỡ mình tìm nhầm nhà!
- Thế nào giáo sư, mời ngài vào đây, vào đây, – tôi gọi anh ta.
Anh ta cười rõ to và lao về phía tôi. Đi theo sau anh ta bước vào cửa là một người đàn bà cao lớn, béo khỏe và có một bộ tóc màu sáng. Nếu tôi không nhầm thì tên bà ta trước đây là Kiren. Cố nhiên là ngay lúc đó tôi bị lục vấn một hồi rất ghê. Valya ngồi ở bên trái và Kiren ngồi ở bên phải, hai người thay nhau hỏi không ngớt miệng. Rằng tại sao, căn cứ vào đâu và bằng cách nào mà tôi đã tự động sục vào nhà người khác, tìm được Katya đang ngụ trong nhà VN. Zhukov. Rằng tôi là một anh đần, dễ dàng tiện lợi không muốn lại đi để lại một mảnh giấy vớ vẩn mà qua đó không thể nào biết được tôi ở đâu và tôi sẽ lưu lại ở Moskva bao lâu.
- Tấm phản ấy chính là giường nằm của chị Katya đấy. – Valya nói. – Và cái áo liền váy đặt ở đầu phản là của chị ấy. Lạy Chúa, tại sao cậu lại không thể đoán ra được rằng chỉ có bàn tay phụ nữ mới làm gọn gàng ngăn nắp căn phòng của tớ được nhỉ?
- Không thể đoán được, – tôi đáp. – Nhưng tớ cũng biết rằng có bàn tay phụ nữ thu dọn…
Kiren cười rộ với vẻ thiện ý, nhưng Valya mở to hai mắt ra hiệu cho tôi. Rõ ràng là cái bóng đen thần bí của Zhenka Kolpakchi vẫn còn lảng vảng trong nhà hai người.
Các phụ nữ sang phòng bên cạnh. Kiren cần cho đứa con thứ tư ăn, và như vậy có thể đoán biết rằng chị ta và Katya có điều gì muốn nói riêng với nhau.
Chúng tôi nói chuyện về chiến tranh. Từ nhiều mặt có thể nhận thấy rằng chiến tranh sắp sửa kết thúc. Cái vẻ chăm chú lắng nghe của Valya và bác Ivan Pavlych khi tôi nói, giống như tôi là người sắp sửa báo cáo với tư lệnh rằng quân ta đã công phá Berlin.
Valya hỏi tôi tại sao quân ta không vượt qua sông Wisła. Tôi đáp rằng không biết, khiến cậu ta có vẻ thất vọng, về tình hình miền Bắc, nếu căn cứ vào những câu hỏi của cậu ta, thì tôi không phải là chỉ huy của một đại đội không quân mà là chỉ huy của cả một phương diện quân.
Về sau bác Ivan Pavlych khơi nguồn nói về thuyền trưởng Tatarinov. Để Katya khỏi nghe thấy, tôi hạ thấp giọng xuống kể cho bác nghe những chi tiết mà tôi chưa hề lộ ra với ai. Trong một cái hốc hẹp cách căn lều của thuyền trưởng không xa lắm, có mấy ngôi mộ của thủy thủ mà đầu của họ lộ lên trên mặt đất, dưới một tảng đá lớn. Xương các xác chết bị gấu và chó sói tha đi khắp nơi, làm lẫn lộn không phân biệt được xương nào là của người nào. Có một chiếc xương đầu gối lạc xa lều đến ba cây số. Trong mấy ngày cuối cùng chắc chắn là thuyền trưởng đã cùng nằm chung trong một túi chăn với người cấp dưỡng tên là Kolpakov, người này chết trước thuyền trưởng. Trong bức thư gửi cho Maria Vasilievna, lúc đầu thuyền trưởng viết là “chuyển cho vợ tôi”, nhưng sau đó chữa lại là “chuyển cho người vợ góa của tôi”, ở bên dưới bàn tay trái của thuyền trưởng, tìm thấy một chiếc nhẫn cưới, bên mép trong của chiếc nhẫn ấy có khắc hai chữ M. và T.
Tôi lấy từ trong va-li ra một chiếc lập lắc bằng vàng hình quả tim và đưa cho mọi người xem. Một mặt của cái lập lắc này khắc chân dung của Maria Vasilievna rất tinh xảo, còn mặt kia là một mớ tóc đen. Bác Ivan Pavlych bước tới trước cửa sổ, đeo kính lên và ngắm nghía chiếc lập lắc ấy rất lâu. Bác lấy khăn tay cọ cọ vào chòm râu rồi lại ngắm tiếp. Bác cứ ngắm nghía mãi, cho đến khi tôi cùng Valya đến đỡ bác ngồi xuống ghế bành.
- Trời, Katya giống chị ấy như đúc. – Bác kêu lên giọng thảng thốt. – Đến tháng Mười hai năm nay là tròn mười bảy năm rồi. Thật khó mà tin được!
Bác bảo tôi gọi Katya ra và mách với tôi rằng vào dạo mùa xuân vừa rồi bác có đến thăm mộ, có mang hoa đến viếng và có nhờ một công nhân tráng lên trên mộ một lớp dầu sơn.
Mọi người ở chơi nhà tôi đến đêm. Kiren về nhà ở ngõ Sivtsev Vrazhek cho đứa con nhỏ nhất bú một lần, và khi quay lại dẫn theo đứa con gái lớn nhất. Đấy là cô gái mà hai vợ chồng hy vọng có thể trở thành diễn viên. Nói chung lại, theo cách nói của bà mẹ Kira thì giá trị của tất cả các học sinh giỏi giang nhất của trường bà cộng lại cũng không bằng cô bé này. Nghe nói rằng từ hồi còn bú, cô bé đã có “cảm giác âm thanh” rất đặc sắc, và bây giờ em ngâm thơ Pushkin thậm chí không kém nhà ngâm thơ đại tài Stepanyan.
Valya vẫn giống như trước, lúc nào cũng nói đến những con vật của mình một cách say sưa. Ngoài ra cậu ấy còn kể một số câu chuyện ngoài chiến hào. Tôi hỏi đã nghiên cứu được quy luật biến đổi của máu rắn theo tuổi chưa, Valya cười và cho biết là tìm ra kết luận rồi.
Hôm nay là một ngày tuyệt diệu của Moskva. Mở đầu ngày hôm nay là cuộc chờ đợi kéo dài hai tiếng đồng hồ của chúng tôi, khi lũ tù binh Đức đi qua phố. Đấy là cái mở đầu rất tuyệt! Cũng trong ngày hôm nay, cảm giác sắp giành được thắng lợi rạng lên trong lòng và không tắt nữa. Tin chiến thắng chưa in thành những dòng chữ đen trên mặt báo. Nhiều người còn cần phải hiến thân mình cho thắng lợi. Nhưng từ khắp mọi nơi, từ trong cảm giác đã có thể nhìn thấy hình dáng của chiến thắng. Cuộc sống trở lại chiếm giữ vị trí của nó, chiến tranh đã làm nó thay đổi. Mùa hè năm 1944 Moskva tràn ngập cái cảm giác xung khắc giữa cái mới và cái cũ một cách kỳ lạ và mới mẻ.
Tối hôm ấy tiếng đại bác chào mừng vang rền. Vào lúc chín giờ bốn nhăm phút vang lên ầm ĩ tiếng gầm thét “có tin mới quan trọng”. Valya nêu ý kiến cần phải lên ngay tầng thứ mười hai. Lúc này người đi cầu thang máy đông vô kể, nên chúng tôi rủ nhau đi bộ. Nhưng đi giữa chừng chúng tôi mới biết rằng muốn lên tầng mười hai thì dứt khoát phải đi bằng thang máy, nên chúng tôi đành chịu, phải quay về phòng.
Nhưng rồi cuối cùng chúng tôi cũng tìm cách lên được. Bây giờ trải ra dưới mắt tôi là thành phố Moskva tráng lệ thấp thoáng trong ánh hoàng hôn. Tôi và Katya nhìn nhau, trong lòng náo nức khó tả. Chúng tôi cầm tay nhau, đứng tựa vào một bức tường ngang. Bầu trời yên tĩnh bị nhuốm đỏ bởi những luồng khói sẫm, sau đó trên đầu chúng tôi bỗng bung ra những chùm lửa sáng rực rõ, sặc sỡ màu sắc rồi từ từ rũ ra, rơi nhanh xuống.