“Giờ đây anh ao ước ở bên em biết chừng nào!” Tôi lẩm bẩm câu ấy nhiều lượt như một điệp khúc. Tôi cảm thấy những lời ấy sao mà lạnh lùng và trống rỗng, tựa như tôi đang nói với cái bóng của chính mình trong một căn phòng trống trải và lạnh lẽo. Cái mà tôi cần không phải là bộ nhật ký này, mà là Katya kia. Katya thông minh, hoạt bát dịu dàng đáng yêu, người đã tin tưởng và yêu tôi. Khi an táng bà Maria Vasilievna nàng đã lánh nghiêng người đi qua không buồn nhìn sang phía tôi, thái độ đó khiến tôi rất buồn bực. Tôi đã từng mơ tưởng sẽ có ngày trở về gặp lại nàng như “Ruồi trâu”[1] và ném xuống chân nàng tất cả những hiện vật tôi kiếm được, chứng tỏ rằng tôi không hề sai. Sau đó tôi sẽ làm cho bố nàng nổi tiếng khắp thiên hạ, trở thành anh hùng dân tộc. Nhưng đối với nàng, ông vẫn là một người cha. Ngoài nàng ra, còn ai nên là người thứ nhất biết được cái tin tôi đã tìm được cha nàng? Ngoài nàng ra, còn ai có thể nói với tôi rằng nếu những câu chuyện thần thoại mà chúng tôi đã từng mê say tin tưởng vẫn còn tồn tại trên đời này, thì mọi thứ rồi sẽ đẹp đẽ toại nguyện? Tôi nếm đủ mọi thứ cực nhọc gian nan, cuối cùng đã tìm được ông. Cảnh hoang vắng mờ mịt của Bắc cực đã từng chói sáng vào cả thời niên thiếu của tôi, nhưng tới giờ đây không còn là đứa trẻ dễ bị xúc động trước những ảo ảnh Bắc cực, cũng không còn là một thiếu niên bồng bột như mọi người trẻ tuổi thường có, mà tôi đã là một thanh niên vững vàng kinh nghiệm. Tôi đứng ngay trước phát kiến mới mẻ của mình mà do đó sẽ nghiễm nhiên được liệt vào lịch sử khoa học Nga, lòng tràn đầy hạnh phúc và tự hào. Song tôi không sao ghìm nổi một nỗi buồn da diết, vì lẽ ra mọi việc hoàn toàn không đến nỗi dẫn đến bước đường này!
Mãi đến cuối tháng Giêng tôi mới trở về tới trung đoàn. Ngày hôm sau đồng chí tư lệnh hạm đội liền gọi tôi lên gặp.
… Sẽ chẳng bao giờ tôi quên được buổi sáng hôm ấy, không phải vì đó là buổi sáng mang màu trắng mờ bụng cá và chói chang ngàn vạn ánh hào quang khiến tôi ngỡ rằng đó là buổi sáng đầu tiên của vũ trụ đâu. Đấy là một cảm giác đặc biệt nơi vùng biên cương Bắc cực. Nhưng sau khi ngồi hút thuốc lá và nói chuyện với đồng chí hạm trưởng, tôi bước lên boong tàu, đứng lặng yên trong màn sương tan vụn và nặng nề, ngực bỗng như bị nén mạnh bởi cảm giác chờ đợi một cái gì thần kỳ sẽ xuất hiện. Đám sương mù lúc tràn lên boong tàu, lúc lảng ra ngoài. Đằng sau màn sương hiếu động đó, mặt trăng tròn vạnh thong thả hiện ra trên đỉnh dãy núi xa, rọi chiếu những tia sáng mờ thẳng góc. Về sau, ánh sáng của nó mỗi lúc một sáng rõ hơn, như đã chiến thắng mọi thứ xung quanh, nhưng có lẽ vì thế mà mỏi mệt, bợt trắng. Lúc này mọi người mới biết rằng con tàu đang đi trong màu hoa hồng trước phút rạng đông. Mấy phút sau, mặt trăng lại lẩn hút dần trong màu sương mờ đục và có một lúc đã lộ ra lần cuối cùng bộ mặt trắng trẻo của mình. Trên khoảng không của vịnh Kolsky bắt đầu rạng lên những tia xanh mảnh, hồng mịn phủ màu tuyết của buổi ban mai.
Con tàu của chúng tôi tiến vào vịnh. Một thành phố nhỏ màu trắng và màu hồng phấn phủ đầy tuyết hiện ra trước mắt.
Cả thành phố như được cố ý đặt trên một sườn dốc cao màu tro xám, ánh sáng từ những tảng đá màu tuyệt đẹp tỏa ra lấp lánh. Từng dãy núi dài, những ngôi nhà trắng tinh gọn nhỏ xếp thành hàng như một đường kẻ thẳng, dãy sau cao hơn dãy trước, các bậc tam cấp bằng đá bắt đầu từ chân cầu thang hai bên nhà vươn dài ra xa, ở nơi kề sát bến cảng là những ngôi nhà cao lớn xây bằng đá theo hình bán nguyệt, về sau tôi mới biết rằng những ngôi nhà này được gọi là “nhà hình cánh cung”. Tất cả chúng tạo nên một nửa vòng tròn lớn trên vịnh Ekaterina, thoạt nhìn tưởng được vẽ nên bởi một chiếc com-pa khổng lồ.
Tôi bước lên một bậc tam cấp nằm ngang giữa các ngôi nhà đó và nhìn sang bờ cảng bên kia. Những mối cảm xúc lạ thường, lúc sôi sục, lúc bình lặng tựa như khi sáng lại dấy lên mãnh liệt trong tôi. Cả bến cảng bị đắm chìm giữa một màu xanh mờ cố hữu mà chỉ những tia sáng chói lọi mới có thể khuấy động được chúng. Quanh bờ, phảng phất một vẻ gì xa xăm đượm màu sắc miền Nam, khiến ta nhớ đến mặt hồ được vây bọc giữa những dãy núi vùng Kavkaz nhưng phía trước mặt cứ vươn ra xa mãi. Trên những ngọn núi lửa bé nhỏ đã bị băng tuyết phủ kín, thảng hoặc xuất hiện những cái bóng đen dài mảnh của những thân cây không lấy gì làm lớn lắm, giữa khung cảnh trắng lóa một màu tuyết này.
Tôi không phải là con người mê hoặc. Nhưng khi đứng bên cạnh những ngôi nhà hình cánh cung, chìm đắm trong niềm say mê phong cảnh của thành phố Bắc cực và vịnh Ekaterina, trong tâm can tôi lại chợt hiện lên hai chữ “dự cảm”. Thành phố này mang đến cho tôi ấn tượng rằng như chính nó là quê hương tôi hằng ôm ấp, tìm kiếm mà vẫn chưa được gặp lại. Tôi bồi hồi dự cảm rằng chính nơi đây sẽ đem đến cho tôi một việc hết sức có lợi, một việc đẹp đẽ nhất trong cả cuộc đời của tôi.
Tôi đến Bộ Tư lệnh trước giờ lên lớp, không thấy một ai ở đó. Đồng chí trực ban đêm nói rằng, theo anh ta biết thì cấp trên mệnh lệnh cho tôi có mặt vào lúc mười giờ, mà bây giờ mới có bảy giờ rưỡi.
Tuồng như bây giờ mới có bảy giờ rưỡi là một điều rất tốt, tôi vô cớ thở một hơi dài và thong thả đi ra ngoài và lại tiếp tục ngắm nhìn phong cảnh bến cảng từ những ngôi nhà hình vòng cung ấy.
Trong quãng thời gian ngắn ngủi tôi đi vào trụ sở Bộ Tư lệnh, quang cảnh bến cảng đã thay đổi hẳn. Trong màu tối sạm uy nghiêm của bờ biển, bến cảng giờ đây cũng tối sạm lại với vẻ đầy uy nghiêm. Tận đằng xa, một chiếc tàu thủy cỡ nhỏ chạy chậm chạp về phía thành phố Bắc cực. Tôi muốn xem nó cập bến thế nào, nên liền đi sang một dãy tam cấp khác, dãy tam cấp này nối liền với một cái sàn phẳng rộng lớn.
Đây là một trong hai chiếc tàu chở khách đi về trên tuyến đường biển giữa Murmansk và thành phố Bắc cực. Hành khách trên tàu đã xếp thành hàng trên boong chờ kiểm tra giấy tờ. Trong số các thuyền viên đã lên bờ, loáng thoáng mấy người có dáng như nông dân, thậm chí còn có cả ba bốn người đàn bà xách làn trên tay…
Trước đây đã từng có lúc tôi bỏ nhà chạy đến cái bến cảng nằm ở nơi hợp lưu của hai dòng sông Peschinka và sông Tikhaya để trốn lão Gaer Kuly. Tôi ở lại đó khá lâu và mải mê ngắm nhìn quang cảnh bến cảng. Con tàu cặp vào sát và một đầu dây thừng được ném từ trên bờ lên, mấy thủy thủ chộp ngay lấy và buộc một cách thành thạo vào trụ tàu. Dòng người bắt đầu tràn lên cầu tàu, cái trọng lượng tăng lên đột ngột ấy dường như dìm cầu tàu xuống sâu một mức nữa. Với đám đông ồn ào náo nhiệt và vui vẻ đó, tôi chẳng quen biết với một ai cả. Về sau này, mỗi khi nhìn thấy lại những cảnh hành khách tấp nập, vui vẻ lên bờ hoặc đến ga, cái cảm giác lẻ loi cô đơn ấy lại liền ập đến. Những ấn tượng đó rõ ràng là đã hằn lại trong ký ức tôi từ những tháng năm đau thương ấy.
Nhưng hôm nay lại khác hẳn. Có lẽ vì lúc này đang giữa mùa đông, hoàn cảnh khác xa trước đây, hành khách lên bờ lại là những người lính, nên cái cảm giác quen thuộc kia đã không đến với tôi.
Kể cũng lạ, giống như những cảnh vật mà cùng trong ngày hôm nay tôi đã nhìn thấy ở thành phố Bắc cực, chiếc tàu chở khách cũ kỹ kia, những hàng người đứng sát nhau bên boong tàu, những bóng người đi rải rác dọc theo bờ biển đến một ngôi nhà phía trước mặt để đăng ký xuất cảnh, tất cả những cảnh tượng đó đều mang lại cho tôi một cảm giác hết sức khoan khoái dễ chịu. Tất cả những cảnh tượng đó dính liền với cái điều đẹp đẽ nhất trong đời mà tôi hằng mong đợi. Nhưng thực tình là tôi không sao giải thích nổi chúng dính liền với nhau như thế nào và tại sao?
Lúc này trở lại Bộ Tư lệnh còn sớm quá nên tôi thuận bước đi thẳng đến gặp bác sĩ, nhưng không đến bệnh viện mà đến nhà riêng.
Đương nhiên là ông cũng sống trong những ngôi nhà được xây thẳng tắp, sạch sẽ, dãy sau cao hơn dãy trước này. Từ phía bờ biển nhìn vào, tôi cảm thấy những dãy nhà ấy càng xinh xắn đẹp đẽ hơn lên. Đây là dãy nhà thứ nhất mà tôi thì lại cần tìm đến dãy nhà thứ năm, tòa nhà thứ bảy.
Tựa như một người Nenets, tôi vừa đi vừa nghiền ngẫm tất cả những gì nhìn thấy. Mấy gã người Anh, đầu đội những chiếc mũ rất hài hước, giống như loại mũ mùa đông mà các anh chàng lái xe ngựa của chúng ta thường đội, mặc những chiếc áo khoác tươi màu, họ đi vượt lên phía trước mặt tôi. Tôi nghĩ bụng, từ những chiếc áo khoác họ đang mặc kia, có thể đoán được rằng đối với mùa đông của chúng ta, họ chẳng lấy gì làm hứng thú cho lắm. Một thủy thủ rậm râu bế thốc một chú bé béo phị, vẻ mặt nghiêm trang, mình mặc chiếc áo lông thỏ màu trắng đi lên mấy bước. Tôi nghĩ bụng, vì ở giữa cái thành phố Bắc cực này, trẻ con hiếm quá đây.
Tòa nhà thứ bảy của dãy thứ năm hoàn toàn không khác gì với những tòa nhà ở bên cạnh nó, có điều đầu cầu thang của tòa nhà này đã bị băng phủ một lớp khá dày, qua lớp băng trong suốt có thể nhìn thấy lờ mờ những bậc tam cấp ở phía dưới. Tôi bước lên cầu thang. Giữa lúc ấy có mấy thủy thủ từ phía trên đi xuống, chúng tôi va vào nhau khá đau. Một người trong bọn họ thận trọng bước qua lớp băng và nói: “Không nhận ra được các thứ trong bóng đêm Bắc cực có nghĩa là bị thiếu vi-ta-min”. Tất cả họ đều là bác sĩ. Vậy chắc chắn là bác Ivan Ivanovich cũng sống trong tòa nhà này.
Tôi bước qua hành lang và đẩy một cánh cửa, sau đó lại đẩy một cánh cửa khác. Trong cả hai phòng ấy đều không có một bóng người, trong phòng bốc lên mùi hăng hắc của mốc, chăn đệm sau khi ngủ chưa được xếp dọn, đồ đạc trong phòng vứt lung tung, để lộ rất rõ tác phong của chủ nhà. Nhưng đồng thời trong hai căn phòng ấy cũng toát ra một cái gì đó như là rất hiếu khách, tuồng như chủ nhà cố ý không đóng kín cửa vậy.
- Có ai trong nhà không?
Rõ ràng là không cần phải hỏi câu ấy. Tôi bước ra khỏi phòng.
Một người phụ nữ đứng cạnh tôi, chị ta nâng váy lên và dùng khăn lau hai bàn chân trần. Tôi hỏi thăm chị ta về căn phòng số Bảy.
- Anh tìm ai?
- Bác sĩ Pavlov ạ.
- Hình như ông ấy còn đang ngủ, – người đàn bà nói. – Anh hãy đi vòng ra phía sau, đằng ấy có cửa sổ phòng ông ta. Hãy gõ mạnh lên một tí.
Gõ cửa nhà bác sĩ rõ ràng là tiện hơn gõ cửa sổ, nhưng không hiểu sao tôi đã nghe theo lời chị ta, đi đến bên cửa sổ. Chiếc cửa sổ này lắp trên một bức tường nghiêng nên khá thấp. Trên mặt kính phủ một lớp băng mỏng, khi tôi lấy tay cọ sạch mấy vệt băng và ghé mắt nhìn vào thì thấy bóng một người đàn bà ở bên trong. Người đàn bà ấy đang cúi người xuống tìm kiếm một vật gì đó trong chiếc làn. Khi tôi gõ vào cửa sổ, chị ta liền đứng thẳng dậy và tiến đến bên cửa sổ. Chị ta cũng cọ băng trên mặt kính như tôi rồi ghé mắt vào nhìn. Qua lớp kính phủ mờ băng, tôi lơ mơ nhìn thấy một bộ mặt bị che khuất nhiều phần.
Đôi môi người đàn bà khẽ động đậy. Chị ta chẳng làm gì cả, chỉ khẽ động đậy đôi môi. Mặt kính mờ, lại phủ một lớp băng tối sẫm, nên không sao nhìn rõ được mặt chị ta. Nhưng tôi đã nhận ra chị ta. Đó chính là Katya.
❀ ❀ ❀
[1] Ruồi trâu: nhân vật chính trong tác phẩm “Ruồi trâu” của nữ văn sĩ người Anh Ethel Lilian Voynich – N.D.