Tôi chăm chú theo dõi tình hình xảy ra trong những ngày và những tuần đầu của cuộc chiến tranh, trong lòng vô cùng bứt rứt bởi không có cách nào thuật lại cho tất cả mọi người nghe những gì mà tôi đã trông thấy.
Tôi nhìn thấy một ngôi nhà rất rộng lớn, nhưng tối tăm ở nông thôn, một chiếc bàn được chiếu sáng bởi một ngọn nến sắp tàn, một khung cửa sổ được che bằng mảnh áo đi mưa của lính. Cửa ngôi nhà mở ra, một quân nhân mặc quân phục mùa hè bước vào, anh ta cời thêm bếp lò rồi ngồi vào ăn một cách hấp tấp. Đó là Grisha Trofimov. Một người khác từ giường đứng lên, đến ngồi cùng với anh trước bàn, đó là Luri. Tôi nghe những câu trao đổi khe khẽ của hai người, trong lòng xao xuyến vô vàn.
- Đến Ladoga chưa?
Grisha vừa ăn vừa lặng lẽ gật đầu.
- Này, thế nào?
- Chẳng thế nào cả.
- Còn ở Zvanka thì sao?
Grisha cứ tiếp tục ăn, không đáp lời. Anh đã từng đến Zvanka.
Hai người quê ở Leningrad ngẩng mặt nhìn nhau. Đấy là cái đêm đầu tiên sau khi Leningrad bị bao vây.
Tôi lại trông thấy trên nóc buồng lái của chiếc máy bay của tôi nhô ra ngoài một cái cột cờ, và trên đó có một lá cờ đang tung bay. Chúng tôi đã dùng cách đó để làm yên lòng những người hoảng sợ đương nghĩ rằng mình bị bao vây quá chặt.
Rồi tôi nhìn thấy ngôi mộ đầu tiên. Chúng tôi lấy mảnh đuôi đạn pháo trang trí cho ngôi mộ đẹp lên. Sau mỗi lần bay chiến đấu trở về, chúng tôi đều cố bay thật thấp lướt qua trên ngôi mộ ấy.
Hồ nước lại hiện ra trước mắt tôi. Cuộc sống trước đây như ném xuống mặt hồ buổi sáng mù sương hình ảnh cuối cùng của mình. Bây giờ nhìn mặt hồ ảm đạm quá. Mặt nước cao ngang bờ tỏa ra một màu sáng đục, những cuộn khói đặc sánh từ trong cánh rừng bị bọn Đức đốt cháy tỏa ra, bay là là trên mặt hồ.
Buổi tối, chúng tôi từ trong hầm trú ẩn ở sườn núi đi ra. Mấy chiếc xuồng máy đang dừng lại dưới gốc liễu. Chúng tôi lao đi vun vút trên mặt nước, trong tiếng máy nổ gầm gào và tiếng nước sôi réo. Mấy chiếc máy bay từ phía bên kia cánh rừng chợt hiện ra và bay về phía chúng tôi.
Tôi đã chứng kiến rất nhiều sự kiện. Song tất cả những thứ mà tôi nhìn thấy đều như xảy ra ở trên bản đồ, ngày ngày chúng trải ra dưới cánh bay của tôi – những nét vẽ màu đen đậm biểu thị hướng tấn công của bọn Đức, đang ngày một mở rộng thêm ra.
Ngày nào cũng có phi công mới được bổ sung đến đơn vị, và số phi công dân dụng ngày càng nhiều lên. Tôi có gặp một số phi công trước kia cùng công tác ở Phương Bắc hoặc ở Viễn Đông. Họ là những phi công có nhiều kinh nghiệm, nhiều người được phong là phi công cấp Một, cấp Hai. Trong đó có ba người đã từng bay trên một triệu ki-lô-mét. Thực là thú vị khi thấy những người như thế cũng được vào quân đội. Hầu như lúc nào chúng tôi cũng bàn tán về đề tài này. Tôi, Luri và đồng chí phụ trách máy hễ gặp nhau bất kể ở đâu, trong nhà ăn hay nhà ngủ sĩ quan đều chỉ bàn tán đến mỗi một chuyện ấy. Sở dĩ chúng tôi chỉ bàn đến mỗi chuyện ấy vì giữa anh em chúng tôi có giao ước ngầm với nhau là sẽ không bàn đến “những chuyện khác”. “Những chuyện khác” ấy đã có báo chí nói thay cho chúng tôi rồi.
Giữa tháng Tám, tôi cùng với tổ tiếp vận trên không được điều đến công tác trong một đơn vị không quân ở mặt trận phía nam.
Đêm hôm ấy trời tối đen như mực, đúng như lời Luri nói là loại đêm đặc biệt chỉ có ở thành phố “Ramenskoye”. Mưa bụi biến thành lớp mù dày đặc phủ lên mặt nước. Dù có cố mở to mắt ra cũng chẳng nhìn thấy gì ở trước mặt. Nếu đồng chí phụ trách máy không rọi đèn pin thì tôi không tài nào nhìn thấy chiếc xuồng máy.
Đồng chí đại tá gọi tôi đến, chúng tôi đứng im lặng bên nhau một lúc lâu. Trong bóng tối tôi lờ mò nhận ra cái mũi khoằm và bộ mặt cương nghị, còn rất trẻ của ông. Thực ra lúc đó chẳng có gì cần nói với nhau, nhưng ông vẫn hỏi tôi có mang đạn pháo sáng theo không. Tôi trả lời có. Ông hỏi pháo sáng là để lấy lòng tôi, lần trước trong một cuộc họp thảo luận kỷ luật bay, tôi có phát biểu rằng ban đêm dùng pháo sáng sẽ oanh tạc chính xác hơn nhiều.
Hình như hôm nay tư tưởng Luri không được ổn định. Nếu không thì anh ta đã chẳng tìm làn sóng bắt bằng được cái đài Romania ảo não ấy làm gì. Tôi chợt nhớ đến bộ mặt ngớ ra ngạc nhiên của anh ta khi tôi đánh thức anh ta dậy. Lúc ấy anh ta có vẻ rất mệt mỏi, thường ngày anh ta hay nhắc đến một câu trong cuốn “Đôi cánh của bạn”: “Nếu đã mệt mỏi thì tốt nhất là bạn hãy nghỉ ngơi đã, sau đó hẵng hay…” Hôm nay anh ta ngồi dậy nhưng không nhắc tới câu ấy nữa.
Ánh đèn phòng không bên bờ hồ phóng một luồng ánh sáng qua đầu chúng tôi, chiếu vào góc tường tối mịt. Cũng chưa phải là hoàn toàn xúi quẩy. Chúng tôi bay trong tuyết, hoa tuyết bắt đầu chui vào cửa chắn.
Lúc này Luri đã tìm được đài “Constanta” rồi. Thật có quỷ mới biết được cái đài “Constanta” ấy truyền đi những tin gì! Chỉ trong giây lát, vừa khi tôi huýt sáo mồm, nghĩ đến những chuyện riêng tư trong lòng, bốn bên đã hiện lên những dãy núi cao xám xịt. Sau đó một loáng, trong những phút tiếp theo tôi lại nghĩ đến những chuyện riêng tư và huýt sáo mồm thì máy bay đã đến chỗ phải bay vòng qua đầu núi. Nhưng không thể bay qua bên dưới đám mây được, vì bay trong mưa tuyết, máy bay sẽ bị đóng băng. Lại huýt sáo mồm và nghĩ chuyện riêng: “Katya, vậy mà em còn giận anh, trách anh sao trong thư không nói rõ tình hình các chuyến bay”.
Vừa may đám mây đã tan mất ở cái chỗ mà nếu còn, nó sẽ gây nguy hiểm. Nhưng thực ra thì không phải nó tan mất, mà nó đã tách ra thành hai nửa. Phía trước mặt chúng tôi giờ đây mở ra một quãng hành lang rộng lớn, trên quãng hành lang đó chói lên một màu sáng rực rỡ. Cái bóng của chúng tôi rơi xuống lưng đám mây phía dưới và chiếu lên đám mây phía trên. Tôi hơi ngạc nhiên, và hình như cũng không kịp ngạc nhiên nữa, khi tôi nhận ra cái bóng thứ hai kia không phải là của máy bay chúng tôi, mà là bóng của một chiếc Junkers bay cao hơn chúng tôi. Nếu chúng chỉ có một chiếc thì chẳng sao. Nhưng đằng sau nó đã hiện ra chiếc thứ hai, rồi chiếc thứ ba.
Lúc này, theo bất cứ điều lệnh nào, chúng tôi cũng chỉ nên nhanh chóng tránh xa chúng nó. Nhưng những đám mây dày màu xanh sẫm đã lùi xa ở phía sau. Chúng tôi không có chỗ nào có thể lẩn tránh được. Tiếng súng từ phía bên kia nổ ran lên, tôi có cảm giác như cánh máy bay bị ném đá, và sau đó cả khoang lái cũng bị rung lên.
Đây là một cuộc chiến đấu rất bình thường, chẳng có gì đặc sắc và nó kết thúc rất nhanh, nên tôi không định kể tỉ mỉ làm gì nữa. Trong nháy mắt sau đó chúng tôi đã bắn rơi một chiếc Junkers khi nó bay vòng lại. Hai chiếc còn lại vọt lên cao, cố bám đuôi chúng tôi. Đương nhiên đó là một ý đồ thông minh, song không phải dễ thực hiện, vì chúng tôi không phải là kẻ non gan, chịu để cho chúng bám đuôi. Lần thứ nhất không được, chúng lao vào lần thứ hai. Lần này suýt nữa chúng bị tan xác dưới đường đạn của chúng tôi. Nói tóm lại, chúng tôi đã đem hết sức ra đánh trả lại chúng. Cuối cùng bọn chúng bị bỏ xa lại phía sau. Và thế là tôi cho máy bay bay theo đường thẳng đến mục tiêu, mặt trận cách đây không xa nữa.
Nói rằng cho máy bay bay theo đường thẳng, mới nghe tưởng là việc đơn giản, nhưng thật ra là rất khó khăn vì máy bay của chúng tôi lúc này đã bị bắn gãy một phần tư cánh bên trái, két dầu bị đạn chọc thủng, chân và mặt tôi đều có vết đạn, máu chảy đầm đìa ra mắt.
… Tôi cảm thấy toàn thân mềm nhũn đi. Lúc này tôi chợt nhớ đến những giấc mộng hồi còn bé, tôi thấy mình bị người khác đâm chém, dìm xuống nước cho đến chết, nhưng khi tỉnh lại, biết mình vẫn còn sống, tôi sung sướng vô cùng.
“Nhưng lần này, – ý nghĩ của tôi hết sức bình tĩnh. – Lần này thì chắc chắn là tôi sẽ không thể tỉnh trở lại được nữa rồi.”
Có thể tôi đã bị ngất, nhưng không lâu lắm, vì trước khi tỉnh dậy, tôi đã bắt đầu nói và chính tiếng nói ấy đã làm cho tôi tỉnh dậy. Tôi gào lên, ra lệnh cho tổ phục vụ máy bay nhảy dù. Đồng chí báo vụ viên và tay súng máy đã nhảy ra khỏi máy bay. Còn Luri thì đáp lại bằng một giọng không hài lòng “Được rồi, được rồi!” làm như bị tôi ép đi bách bộ đến một nơi vô vị không bằng.
… Cái gay go nhất là vật lộn với sương mù dày dặc, nó làm cho anh không mở được mắt ra, nó làm cho anh mệt mỏi rã rời. Lúc này tôi mới rõ – tuy chưa phải rõ hoàn toàn – cái điều quan trọng nhất, cũng là cái điều cần phải lập tức thay đổi ngay. Thời gian trôi chậm quá, như phải qua hàng nghìn năm. Tôi phải bỏ ra rất nhiều sức lực để lái máy bay bay tiếp, lại phải qua một nghìn năm nữa. Tôi lại nhìn thấy bên dưới chúng tôi có hai chiếc Junkers khác đang bay thẳng lại như hai con trâu nước bơi trong biển mây. Chuyện này thì quả thực là đi đời nhà ma rồi. Nhưng sau đó tôi biết ngay rằng chúng chưa vội kết thúc chúng tôi.
Luri đã nhảy ra khỏi máy bay. Chúng liền vây lại bắn. Liệu cậu ấy có bị bắn chết không? Sau đó chúng quay đầu lại, cặp hai bên tôi và cùng bay song song.
… Lũ giặc Đức có những bộ mặt không biết giống hề hay giống quỷ sứ. Nhìn mặt chúng nó rất khó đoán ra chúng già hay trẻ. Nhưng tất cả những cái đó giờ đây đối với tôi chẳng có quan hệ gì. Kẻ đang bay bên cạnh tôi kia không phải là một tên lính bình thường mà là một kẻ giết người, một tên tội phạm. Hắn nhoi đến phía trước mặt tôi, nghiêng cánh lướt qua một bên rồi lại áp đến gần, hắn thong thả, ung dung ngắm nhìn tôi, say sưa với chiến thắng đã nắm chắc trong tay.
Tôi không biết giải thích như thế nào cho rõ, chỉ biết rằng trong khoảnh khắc ấy dường như tôi đã nhìn thấy rõ hình dạng của bản thân mình cũng như của thằng giặc ấy. Mặt đầy máu, hai tay gần như tê dại, tôi ngồi trên chiếc máy bay bị thương đang lao xuống thấp. Thằng Đức đẩy chiếc kính bay lên trán, nhìn tôi với một vẻ hết sức lạnh lùng và đắc thắng. Tôi quên rằng Luri đã nhảy dù và có thể cậu ấy đã bị lũ giặc sát hại. Tôi nói lên mấy câu gì đó với Luri. Một chiếc máy bay của bọn Đức sắp bay qua phía dưới tôi, dấu hiệu chữ thập ngoặc màu vàng sơn trên cánh loáng qua bên trái tôi. Tôi ấn mạnh cần lái, chiếc máy bay rung lên và lao thẳng vào cái dấu hiệu chữ thập ngoặc ấy.
Chẳng hiểu máy bay của tôi đã đâm trúng vào chỗ nào, hình như là buồng lái của thằng Đức, khiến hắn không kịp ấn nút nhảy dù. Tôi đã giết được hắn. Thật sung sướng vô cùng!
Một cảm giác vô cùng hào hứng chế ngự tôi. Tôi cần phải sống! Mặc dù vừa rồi thằng giặc Đức đẩy kính bay lên trán nhìn tôi với một vẻ hết sức lạnh lùng và đắc thắng và cầm chắc sẽ giết chết tôi; nhưng cuối cùng tôi đã chiến thắng nó. Tôi cần phải sống! Trước khi nhìn thấy thằng Đức này, tôi đã nghĩ rằng chuyến này chắc phải hy sinh, vì tôi bị thương nặng và tôi biết chúng nó sẽ bắt được tôi. Nhưng bây giờ thì khác hẳn rồi! Tôi cần phải sống! Tôi đã nhìn thấy mặt đất, nhìn thấy đồng ruộng và con đường bốc bụi trắng. Đã gần mặt đất lắm rồi.
Quần áo bay và giày của tôi đã bị cháy nhưng tôi không thấy nóng. Nói ra thì rất lạ, khó có thể tin được. Nhưng sự thực là như vậy, chẳng hiểu vì sao lúc ấy tôi lại có thể bình tĩnh xoay chuyển được tình thế ở cái độ cao rất gần mặt đất như thế. Tôi cởi chiếc nịt da ra – Đó là việc cuối cùng mà tôi có thể làm được trong ngày, trong tuần, trong tháng ấy. Tạm thời tôi chỉ xin kể đến đây, cũng chẳng nên đi quá xa làm gì!