Khi tôi vào thành phố thì không tìm thấy Sanya đâu nữa. Tôi xuống tàu điện ở phố Neva, tôi dừng lại trước cửa hiệu “Gastronom”, đọc bản thông báo đầu tiên của Bộ tổng chỉ huy dán trên cái cửa sổ lớn ở đấy. Nếu có thể bắt thời gian dừng lại thì tôi sẽ bắt dừng lại ở khoảnh khắc này. Tôi dán sát mắt vào kính cửa sổ đọc một mạch hết tờ thông báo chiến sự, khi quay lại bất ngờ bắt gặp một bộ mặt nghiêm nghị, căng thẳng đang nhìn tôi. Một cảm giác kỳ lạ bao trùm lấy tôi: hồ như việc tôi đọc bản thông báo chiến sự lần này xảy ra trong một cuộc sống khác trước không ai biết được. Trong cái cuộc sống thần bí không có người biết này chính là buổi tối hôm đó, một buổi tối ấm áp đầu tiên của một mùa hè, là cái bóng người trắng bệch kia lẫn vào dòng người đang cuốn đi trên hè phố và mặt trời chưa lặn hẳn, nhưng mảnh trăng non đã gác trên đỉnh tòa nhà lầu của Bộ Hải quân. Trong cuộc sống này, những lời nói đầu tiên được viết bằng những chữ đậm kéo dài suốt chiều ngang cửa sổ. Có rất nhiều người nối tiếp nhau tới tìm đọc những dòng chữ ấy. Dù rằng người ta hết sức ngăn chặn không để sự việc xảy ra như thế, nhưng việc đã xảy ra rồi và không chút đổi thay.
Bà Rozaliya Naumovna trao cho tôi mảnh giấy Sanya viết để lại. Cứ cách một lúc tôi lại móc từ trong túi xách tay ra xem lại một lượt. Anh ấy đã xé một tờ giấy màu xanh da trời trong sổ công tác ra và viết rất vội vàng:
“Em Pira Poleykin thân yêu! Hãy cho anh ôm hôn em. Nhớ rằng, em phải tin tưởng”.
Khi chúng tôi sống ở Krym, chúng tôi có nuôi một con chó đặt tên là Pirat[1]. Lần nào tôi đi tưới nước cho hoa nó cũng chạy theo sau, Sanya vừa cười vừa gọi gộp cả tôi và con chó là “Pira Poleykin”… “Nhớ rằng, em phải tin tưởng”, – đó là những lời của anh. Có lần tôi đã nói với anh rằng tôi tin tưởng ở cuộc đời của anh. Lúc đó anh hết sức vui vẻ, thỏa mãn. Chúng tôi không kịp từ biệt nhau. Đúng lúc mười một giờ, anh ra đi. Khi tôi phóng vào đến thành phố thì anh đã đi mất rồi. Trong mảnh giấy viết để lại, anh không hề nói đến một chữ từ biệt, song điều đó hoàn toàn không quan trọng.
Không hiểu do cái gì xúi giục, tối hôm đó tôi quay trở về tòa biệt thự để ngủ. Hầu như tôi chẳng chợp mắt được phút nào, nhưng sau đó hình như tôi có thiếp đi được một lúc vì tôi có giật mình tỉnh dậy một lần và cảm thấy bàng hoàng cả người, tim lồng lên không sao kìm lại nổi: “Bọn phát-xít đã gây ra chiến tranh rồi!”
Tôi trở dậy và đánh thức bà bảo mẫu.
- Thu dọn đồ đạc đi thôi. Sáng mai chúng ta phải đi khỏi nơi đây, bà ạ.
- Bảy ngày thứ sáu trong một tuần[2], – bà bảo mẫu vừa ngáp vừa nói giọng bực tức.
Bà ta mặc chiếc áo ngủ màu trắng, ngái ngủ ngồi trên giường, miệng không ngớt lầm bầm trách móc. Tôi cứ đi đi lại lại trong phòng suy nghĩ, mặc kệ bà ta lảm nhảm. Lúc sau tôi mở tung cửa sổ ra, vườn cây ngoài kia im ắng khác thường.
Bà tôi nghe tiếng nói chuyện liền gọi tôi lại.
- Katya, có việc gì thế? – Bà hỏi giọng nghiêm nghị.
- Bà ạ, vợ chồng chúng cháu chẳng kịp chia tay nhau! Sao lại có thể như thế được nhỉ? Ngay cả việc chia tay nhau mà cũng không có thì giờ.
Bà nhìn tôi, hôn lên trán tôi rồi kín đáo làm dấu thánh. “Không chào nhau cũng chẳng sao cháu ạ. Thằng Sanya nó cũng sắp về rồi đấy thôi”, – bà nói. Tôi cảm thấy mình đang khóc, tôi cảm thấy từ nay về sau bản thân không thể, không thể… nhưng không thể cái gì, ngay chính tôi cũng không rõ.
Petya đi tàu đêm đã trở về tới nhà. Anh có vẻ rất mệt mỏi, có vẻ đang chứa đựng một bầu tâm sự, nhưng ý chí thì lại rất kiên định. Đó là điều khác hẳn với con người bình thường của anh.
Lần đầu tiên tôi nghe anh đích thân nói rằng cần phải đưa con ra khỏi Leningrad. Tòa biệt thự của chúng tôi đẹp đẽ quá. Tôi và bà bảo mẫu đã trồng rất nhiều hoa trong vườn. Nhiều cây hoa đã nứt mầm trổ lá. Thế mà bây giờ phải xa lìa tất cả. Tôi cảm thấy vô cùng luyến tiếc. Suốt cả tháng sáu rất lạnh, nhưng mấy hôm nay chợt ấm hẳn lên.
Thật không thể tưởng tượng được nếu phải nhét bé Petya lên toa tàu hỏa nóng nực, chật chội, bẩn thỉu để đi đến một nơi xa lạ chưa hề biết đến bao giờ!
Petya cho biết là Hội họa sĩ quyết định đưa các cháu đến tỉnh Yaroslavskaya. Anh đã ghi tên cho bé Petya và bà Nina Kapitonovna đi. Vấn đề bà bảo mẫu khá phức tạp, đành phải để sau này suy nghĩ tìm cách giải quyết.
Anh thu dọn đồ đạc rất nhanh chóng rồi chạy ra ngoài gọi một cỗ xe ngựa chở hàng, sau đó anh chạy phóng lên gác tìm bà Nina, vì bà đã nói trước rằng bà không muốn đến tỉnh Yaroslavskaya. Tôi không được biết bà và Petya đã nói những gì với nhau, cũng không rõ bởi cớ gì mà bà không thích vùng Yaroslavskaya đến như thế. Nhưng chỉ sau đó nửa tiếng đồng hồ cả bà lẫn Petya đều bước xuống cầu thang và cả hai người đều có vẻ rất bằng lòng. Bà đi khâu ngay chiếc túi đựng đồ đạc, đồng thời phê bình gay gắt những động tác chậm chạp của bà bảo mẫu khoa học.
Ngoài tôi ra, mọi người đều bận bịu thu dọn, ngay đến cả bé Petya cũng vội vã nhét đồ chơi vào cái hộp gỗ riêng của cháu.
Người tôi mệt mỏi rã rời, tôi ngồi giữa căn nhà đang bị bới tung cả lên. Mãi về sau Petya mới bước lại cạnh tôi nói giọng dịu dàng:
- Katya, chị mệt lắm phải không?
… Chúng tôi về đến Leningrad, Petya dẫn tôi đến Hội họa sĩ, giới thiệu với một người nào đó rằng việc gì tôi cũng làm được. Thế là tôi lập tức được giao làm những danh sách dài vô tận. Về những công việc này tôi không định kể nhiều.
Lệnh sơ tán quy định không để các bà mẹ và bảo mẫu đi theo các cháu. Vì vậy việc chính là vật lộn với sự phản ứng của các bà ấy. Vừa mới gạt tên họ ra khỏi danh sách ấy, thế mà chỉ một lát sau không biết bằng cách nào họ đã lại ghi được tên của mình vào danh sách đi theo con rồi.
Tôi làm việc này không được tốt lắm. Một bà họa sĩ người thấp bé giận dữ giật lấy bảng danh sách trong tay tôi. Có thể đoán rằng từ đó về sau sẽ không có một bà mẹ hoặc một bà bảo mẫu nào có thể được bà ta thông cảm chiếu cố. Bà bảo mẫu của chúng tôi bị gạt tên ra khỏi danh sách từ đợt đầu tiên.
Muốn đến được Yaroslavskaya còn cần phải tìm đến thương lượng ở cơ quan Xô Viết thành phố”. Chẳng hạn như việc muốn đi xe khách chứ không đi xe hàng cùng với hàng nghìn hàng vạn việc bất ngờ khác, đều cần phải có ý kiến giải quyết của Xô Viết thành phố. Tất cả mọi chuyện xảy ra trong những ngày vừa qua đều hết sức lạ lẫm, từ trước đến nay tôi chưa hề gặp.
Chúng tôi tìm đến cơ quan Xô Viết thành phố, rồi sau đó kéo đến nhà ông hiệu trưởng Học viện Mỹ thuật, nhờ ông ta gọi điện thoại thuyết phục Xô Viết thành phố. Chúng tôi nhận thức ăn và đồ dùng cần thiết trên dọc đường đi sau này, đồng thời đính các mảnh vải có ghi số hiệu vào tay áo. Thế là vô cớ tôi đã trở thành một người cái gì cũng biết và ai cần gì cũng tìm tới hỏi.
Lúc đầu quy định ngày tàu chạy là ngày mồng năm tháng Bảy, về sau đổi lại là ngày mồng sáu. Bây giờ nhìn lại tâm trạng nôn nóng trước những giờ phút khẩn cấp hồi ấy, những tình trạng lộn xộn hấp tấp thu xếp hành lý, những nỗi đau khổ khi phải lìa xa con cái… mà cảm thấy hết sức lạ lùng.
… Giờ tàu chạy bị xê dịch. Các cháu phải đứng chờ trong phòng đợi rất lâu. Chúng đứng giữa những hàng người lớn. Bố trí đứng như thế để bố mẹ chúng không thể gây khó khăn cho việc lên tàu được. Song các hàng được xếp ngay ngắn đã bị rối loạn. Các bà mẹ mệt mỏi đã len được đến sát con mình. Trời rất bức, đám trẻ con nhao lên đòi uống nước. Chúng tôi chỉ biết khuyên nhủ, bảo các cháu cố gắng chịu đựng chút nữa. Bụi đất và sự nóng bức của tháng Bảy tuồng như cũng phải chịu đựng nỗi đau khổ trước giờ xa biệt của con người.
Dòng người đã bắt đầu nhích động. Đầu tiên là các em học sinh lớn tuổi, sau đó đến học sinh nhỏ và sau cùng đến các em bé sáu, bảy tuổi. Chúng cầm chắc tay nhau cùng bước đi. Nhìn thấy cảnh những đứa trẻ bé bỏng đã phải mang vác đồ đạc ra đi, nhiều người không sao cầm lòng được. Chúng sẽ được đưa đến một nơi nào đó, nhưng đó là nơi nào? Trong những giây phút còn ở nhà, hễ trông thấy chiếc ba-lô sắp sửa lên đường của Petya là tôi lại buồn vô kể. Mỗi người đều nối theo sau con trẻ của mình. Tôi cũng đi theo sau cháu Petya. Cháu nó đi sóng đôi với một bé gái béo múp và trông rất sạch sẽ tươm tất. Tôi bị cuốn vào dòng người, và khi đến lượt mình cũng phải dừng lại cạnh cửa ra vào như mọi người – bố mẹ đi tiễn không được phép lọt qua cửa ra vào. Và rồi cũng như tất cả mọi người, để khỏi bật ra tiếng khóc, tôi phải cắn chặt môi, đưa mắt tiễn cháu bước đi. Sau đó tôi chạy đến trạm hàng hóa để trông coi hành lý, không để cho đồ đạc của trẻ con lẫn vào của người lớn.
Đúng bốn giờ tàu sẽ xuất phát. Giờ giấc tàu chạy được quy định rất chính xác. Mãi đến phút cuối cùng Petya mới hộc tốc chạy ra ga. Về sau tôi được biết anh phải cùng đi với ông hiệu trưởng đến cung điện Smolnyi. Một người không quen biết bế cháu đưa qua cửa sổ cho anh. Anh bế lấy con, áp sát cái đầu nhỏ có mái tóc đen nhánh của nó vào mặt mình và đứng im hồi lâu. Bà tôi trông thấy cảnh tượng ấy không thể nào cầm lòng được. Biết bà quá xúc động, Petya liền vội vã hôn con rồi đưa trả vào toa tàu…
Mãi đến nay, mỗi khi nhớ lại cảnh bọn trẻ ra đi hôm ấy, lòng tôi vẫn còn thắt lại. Trong những năm chiến tranh sau đó, nỗi gian nan vất vả thực là vô cùng. Biết bao nhiêu ấn tượng mãnh liệt, kỳ lạ làm tôi không bao giờ quên lãng. Song những cảnh chia tay các cháu bé vẫn chiếm giữ một vị trí nổi bật trong trái tim tôi…
❀ ❀ ❀
[1] Có nghĩa là kẻ cướp biển. – N.D.
[2] Ý nói lúc thế này, lúc lại thế khác. – N.D.