Những người công tác ở Sở tàng trữ vật phẩm nghệ thuật quý cho biết rằng đoàn tàu đã đến Yaroslavskaya an toàn, nhiều người mang hoa tươi ra đón các cháu. Thế mà mãi tôi vẫn không nhận được điện báo của bà gửi đến để báo tin. Hơn nữa các cháu còn phải từ Yaroslavl đến một nơi gọi là làng Gniloy Yar nữa. Không hiểu sao tôi cứ mường tượng rằng bọn trẻ trú ngụ trong cái làng có tên không lấy gì làm đẹp đẽ ấy sẽ sống chẳng ra gì. Tôi nhận được một bức thư hết sức bi quan của Kira. Cô ta cũng đã đưa con và bà mẹ đi sơ tán ở một nơi nào đó rồi. Valya vẫn ở tại Moskva. Đây là lần phân tán đầu tiên của cặp vợ chồng ấy. Có một điều khiến tôi ngạc nhiên hết sức là cô ta không hề sợ bom của bọn phát-xít dội xuống Sivtsev Vrazhek, mà lại đi sợ một cô gái có tên là Zhenya Kolpakchi, vì cô này đang cố ý tấn công Valya. Kira đáng thương đã viết bức thư này trong lúc đang khóc nức nở vì cả bức thư đều bị ướt nhòe nhoẹt. Tôi thương cô ta tự trong đáy lòng.
Điều đáng lo nhất là tình hình của Sanya và những cơn ác mộng mà tôi gặp phải. Tôi nằm mê thấy tôi giận anh ấy, vì sao kia chứ? Anh có vẻ rất mệt mỏi, mặt mày tái nhợt, ngồi cúi đầu nghe tôi nói…
Bà Rozaliya Naumovna lập một trạm điều trị ngay trong văn phòng của rạp chiếu bóng Elit trước kia. Bà cho rằng tôi là người “có kinh nghiệm chăm sóc người bệnh rất phong phú”, nên tổ tự vệ gồm có ba người của Xô Viết quận liền đến đề nghị tôi ra làm y tá.
- Đồng chí Tatarinova Grigorieva, đồng chí nên biết rằng, – vị ủy viên của tổ tự vệ ba người, một bác sĩ hiền lành, tóc đã hoa râm nói với tôi giọng bí mật. – Nếu đồng chí từ chối làm y tá thì chúng tôi sẽ phân công đồng chí đi đào công sự…
Đi đào công sự hay làm việc trong các “chiến hào”, theo kiểu người Leningrad thường nói, cố nhiên là gian khổ hơn làm y tá nhiều. Nhưng tôi vẫn khước từ nhã ý của ông ta, không nhận làm y tá.
Cứ tối đến là chúng tôi xuất phát đến Rogatka Trung đào hào chống xe tăng. Đất ở đây toàn là đất sét nên rất cứng. Trước hết phải dùng cuốc chim làm cho lỏng đất, sau đó mới dùng xẻng xúc. Tôi được xếp vào đội lao động của một nhà xuất bản ở Leningrad. Mọi người đều gọi đùa đó là đội lao động cao cấp “đào mồ chôn Hitler”. Đội lao động này hầu như toàn là phụ nữ: cô đánh máy, cô sửa bông, cô làm biên tập. Điều làm tôi ngạc nhiên là hầu hết các đội viên đều ăn mặc rất tươm tất. Tôi tò mò hỏi một cô biên tập khá xinh đẹp có làn da bánh mật tại sao mọi người lại mặc loại váy liền áo đẹp đẽ như thế để đi đào chiến hào.
Cô ta cười đáp, vì không ai có quần áo xấu hơn. Đời sống của số người này nằm trong thế giới của những người làm công tác biểu diễn, văn học và nghệ thuật. Tất cả số người này đều làm cho tôi rất có cảm tình. Giờ đây tất cả các cô gái xinh đẹp và có kiến thức kia đều cầm lấy cuốc chim, xẻng, ra sức đào xúc khối đất màu nâu rắn như đá, thỉnh thoảng mới nói dăm ba câu liên quan tới nghệ thuật. Họ đang cố gắng hoàn thành công việc theo đúng quy định.
Tôi được ghép vào đội cùng với cô biên tập có nước da bánh mật. Cô ta nói rằng ngày hôm qua chồng cô cùng người anh và đứa em trai đã ra mặt trận. Cô rất lo cho đứa em vì cậu ta rất yếu và còn non nớt quá, thật đúng là còn trẻ con. Chồng cô cũng hết sức khuyên nhủ chú ấy khoan đi, nhưng không sao khuyên nổi. Tôi kể cho cô ta nghe về tình hình của Sanya. Chúng tôi lặng lẽ đào xúc một lúc lâu. Hai chúng tôi đặt chiếc cáng xuống chỗ sâu nhất của chiến hào, các cô gái khác xúc đất vào đấy, chúng tôi lại khiêng chiếc cáng lên, để đất xuống chân dốc. Tôi không nói cho cô ta biết rằng từ ngày nổ ra chiến tranh đến nay, tôi chưa hề nhận được bức thư nào của Sanya. Hôm qua tôi có gọi điện thoại cho mẹ một phi công cùng đại đội với Sanya. Bà bảo là bà vừa nhận được một bức thư từ Rybinsk gửi tới. Hay là Sanya cũng có mặt ở Rybinsk? Chắc là ở đó đang tổ chức các đại đội bay. Nếu giả thuyết này là đúng thì tôi hoàn toàn có thể nêu tên một thành phố khác nữa trong lãnh thổ Liên Xô. Tôi không được quyền biết rõ anh ở đâu và tình hình của anh ra sao. Nếu anh đã hy sinh thì tôi cũng không biết rõ anh hy sinh vào lúc nào và anh đã hy sinh ra sao. Có thể nói lúc anh hy sinh là lúc tôi đang xem hát, hoặc lúc tôi đang ngủ, hoặc lúc tôi đang trò chuyện với ai đó. Cũng giống như bây giờ đây, đội trưởng yêu cầu chúng tôi phải làm việc hết sức, giữa lúc trong lòng đang nghĩ tới những chuyện khác, cô gái biên tập có nước da bánh mật chợt nhìn tôi và hai đứa cùng cười. Đây là một đề nghị rất hay – chúng ta cần phải suy nghĩ đến một việc gì đó.
Màn đêm loãng dần. Trong vừng ánh sáng màu chì lờ mờ, bất động giữa trời và đất của buổi ban mai, đột nhiên tỏa ra hơi thở mới mẻ của phút rạng đông. Những cơn gió lướt qua đồng ruộng, lay động đám cây che khuất các khẩu cao xạ như cùng tỏa ra một thứ mùi vị mới, khác hẳn đêm qua. Trên bầu trời của thành phố phía xa xa, hàng loạt quả khí cầu phòng không màu trắng được thả lên, trông như những con cá khổng lồ lẩn khuất trong ánh nắng mặt trời le lói của buổi sáng.
Làm mãi cho tới khi trời sáng, mọi người đều mệt nhoài, mặt mày tái nhợt, một cô gái mệt quá bị ốm, nhưng đội lao động của chúng tôi vẫn giành được năng suất cao nhất, vẫn kết thúc “bài học” của mình sớm hơn tất cả những đội khác. Tôi khát nước quá, một cô bạn mới dẫn tôi đi xếp hàng mua nước cờ-vát[1]. Quầy bán nước dựng lên cạnh một nhà thờ cũ đã bị bỏ hoang. Trong lúc chúng tôi đã xếp hàng chờ mua thì cô biên tập da bánh mật lại đến đề nghị tôi leo lên gác chuông nhà thờ.
Đây là một đề nghị dại dột, tôi đang mệt mỏi vô cùng tận, thế nhưng tôi lại đi nhận lời không cân nhắc.
Tôi đi dọc theo chiến hào, đến chỗ có dán tờ báo tường thì tìm ra đoạn của mình. Ở đây hiện nay đã có những người mới đến. Chẳng lẽ chúng tôi chỉ mới đào được một đoạn ngắn như thế này thôi ư? Chiến hào nối tiếp đoạn này với đoạn khác, kéo dài ra vô tận. Các cô các bà đứng trong chiến hào sâu ba mét để đào đất. Một bờ hào dựng đứng, còn bờ kia thì thoai thoải. Có người dùng cuốc kéo đất ra ngoài, có người dùng xe cải tiến để chở đất đi đổ ra xa. Nếu trước đây một tháng có ai đó nói với các cô gái rằng rồi đây họ sẽ phải rời bỏ gia đình, gác công tác sang một bên, đêm đêm kéo nhau ra ngoại ô, đến bên cánh đồng vắng để đào đất chữa hầm hào, đồn lũy… thì e rằng trong bọn họ chẳng có ai chịu nghe. Nhưng bây giờ họ đã thực sự đến đây lao động và chính mắt họ đã trông thấy con hào sâu rộng bao quanh thành phố như một cái dây lưng khổng lồ chỉ đứt đoạn ở những nơi có đường sắt đi qua, đến nay đã sắp hoàn thành.
Tôi thực không biết thuật lại như thế nào tâm tình của mình khi nhìn thấy cánh đồng bị xẻ nát này. Cánh đồng bị rất nhiều đường hầm lớn hình bán nguyệt chia cắt ra. Ánh mặt trời ảm đạm của Leningrad lười biếng chiếu xuống mặt đất. Tôi cảm thấy vô cùng hãi sợ vì dường như đang đứng trước một cơn bão tố không sao tránh được. Bên cạnh đó đồng thời trỗi dậy trong lòng tôi một thứ tình cảm dũng cảm, trẻ trung và lạc quan.
Buổi trưa tôi về đến nhà. Vừa bước vào cửa đã gặp ngay bà Rozaliya Naumovna. Bà vui vẻ kể lại rằng vừa rồi chính mắt bà trông thấy một tên gián điệp bị bắt trên đại lộ Nevsky.
- Một thằng béo mầm với bộ râu khá dài. Đúng là một thằng đặc vụ điển hình! – Bà vừa nói vừa nhổ nước bọt phù phù. – May mà Berta chưa ở chung với tôi, nếu không thì bà ấy cũng đến phát điên lên vì sợ mất.
Bà Berta là một phụ nữ rất nhút nhát.
Chúng tôi dừng lại giữa cầu thang gác thứ hai, bởi vì bà Rozaliya Naumovna bắt đầu miêu tả lại quá trình xảy ra câu chuyện này. Giữa lúc ấy có một anh bộ đội từ trên gác đi xuống, gót giày đóng đế sắt làm vang lên những tiếng kêu ồn ĩ. Khi còn cách chúng tôi một quãng, anh ta cúi người nhìn xuống dưới cầu thang, tôi chợt nhận ra anh ta là Luri.
Luri là bạn cũ của Sanya, làm nghề hoa tiêu máy bay. Trước đây hai người đã từng làm việc chung với nhau ở miền Bắc, về sau lại tách ra. Sanya lúc nào cũng nói rằng nếu không có Luri thì anh sẽ cảm thấy rất buồn. “Shurka đến đây thì hay biết bao nhiêu!” – Trong thư gửi từ Tây Ban Nha về cho tôi anh đã viết như thế. Trước đây, Luri thường xuyên đến chơi nhà tôi, anh là người rất hoạt bát vui tươi, bộ râu để dài nom giống như một người nước ngoài.
- Chị Katerina Ivanovna! – Anh ta hớn hở đưa tay lên tai chào tôi. – Tôi gõ cửa có đến nửa ngày, sau đó bấm chuông, cuối cùng không có cách nào khác, tôi đành nhét bức thư vào thùng thư.
- Thư của anh Sanya có phải không?
- Chính thế!
Luri cũng cúi chào bà Rozaliya Naumovna rất nhiệt tình.
Anh tỏ ý rất tiếc là chỉ có mười lăm phút ở lại. Khi có mặt anh tôi không đọc kỹ thư Sanya mà chỉ nhìn lướt qua, những dòng cuối cùng của bức thư viết: “Nhất định chúng ta sẽ gặp lại nhau, nhưng không phải chỉ ngày một ngày hai”.
- Anh từ đâu đến đây thế? Anh ở trong quân đội à? Anh ở Leningrad phải không? Sanya bây giờ ở đâu, anh có biết không?
Luri đã gia nhập bộ đội và đóng quân ở Leningrad. Anh trả lời hai vấn đề trên khá thoải mái. Tôi vẫn một mực hỏi dồn:
- Sanya ở đâu?
Anh suy nghĩ một lúc rồi trả lời cho qua chuyện.
- Anh ấy ở lại trung đoàn.
- Hình như anh không muốn cho tôi biết Sanya đang ở đâu, phải không ạ? Thôi thì xin anh cho biết anh ấy có được khỏe không?
- Khoản ấy thì không chê vào đâu được, – anh ta cười nói.
Mặc dù Luri nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng anh không có thời gian, chỉ có thể ở lại mười lăm phút, nhưng bà Rozaliya Naumovna vẫn kiên quyết đi đun cà phê. Lúc này chỉ còn lại anh với tôi, tôi mới moi được một ít tin tức từ miệng anh ta. Thì ra tại một nơi nào đó tôi không được biết, đang tổ chức một đoàn không quân đặc biệt. Các phi công được tuyển vào đoàn này là các phi công dân dụng đã bay từ một nghìn năm trăm đến hai nghìn giờ. Hiện nay họ đang được huấn luyện lái một loại máy bay mới.
Khi nghe đến mấy chữ “Trung đoàn phi công đặc biệt”, người tôi lạnh toát. Song tôi không hỏi rõ nhiệm vụ của đoàn phi công đặc biệt ấy, vì biết rằng dẫu có hỏi, Luri cũng sẽ không trả lời. Tôi chỉ hỏi một câu rằng Sanya có phải học tập lâu lắm không? Luri lại suy nghĩ một lúc mới trả lời là không lâu. Trong giọng nói của anh, lộ rõ vẻ ngần ngại.
Tôi viết vội mấy chữ gửi cho Sanya. Khi Luri vừa bước ra cửa thì gặp lúc bà Rozaliya Naumovna đi vào. Anh đành phải hứa rằng “nếu sau này có thể” thì sẽ rẽ vào chơi. Chúng tôi dừng lại bên cửa đến mấy phút và khi chia tay nhau chúng tôi đã ôm nhau hôn thắm thiết…
Sanya viết bức thư này rất lâm ly. Mặc dù bức thư lâm ly như vậy nhưng cũng chỉ có mình tôi là đoán được ra điều đó.
Sanya hỏi thăm hai bố con Petya, dặn chúng tôi đưa ngay cháu ra khỏi thành phố Leningrad.
“Sơ tán về Ensk với ông bà thì tốt biết bao nhiêu!” Viết đến đây anh lại tỏ ý lo lắng thay cho ông chú Chánh án và dì Dasha. Từ một câu viết có vẻ rất thận trọng của anh có thể hiểu được rằng, tuy Ensk cách khá xa mặt trận nhưng đã bị máy bay giặc đến oanh tạc. Nói chung thì Sanya biết trước là tình hình không được tốt lắm nên mới viết câu: “Nhất định chúng ta sẽ gặp lại nhau, nhưng không phải chỉ trong ngày một ngày hai”.
Đúng thế, sẽ không thể nhanh chóng được. Những ngày gian khổ đã bắt đầu đến. Tôi đi đi lại lại luôn chân trong phòng ngủ. Khi tôi bước ra phía cửa sổ, có một nửa tấm ván lót hình ô vuông bị che tối. Khi tôi quay trở lại, nửa kia lại bị tối. Tôi cố chỉ giẫm lên trên những ô vuông bị che tối này mà bước.
Trung đoàn phi công đặc biệt – “Việc này có ý nghĩa gì nhỉ? Có đáng sợ không nhỉ?” Tôi miên man suy nghĩ trong bụng như thế. Thế nhưng khi tôi nói to ý nghĩ ấy lên, thì trong lòng rất đau đớn. “Chẳng phải lần trước anh ấy đi Tây Ban Nha, cuối cùng cũng an toàn trở về đây sao. Dù thế nào cũng phải viết nhiều thư, bảo anh ấy biết rằng mình vẫn rất tin yêu anh ấy”.
Đến lúc này tôi mới cảm thấy mệt mỏi quá chừng. Tôi nằm xuống và khép hai mắt lại, lập tức bao nhiêu hình ảnh hiện lên: các cô gái khiêng những chiếc cáng đất sét rắn như đá, nặng trịch; hàng đoàn xe cải tiến chạy chậm rãi trên ván lót, ánh mặt trời le lói trên khung cửa sổ sơn màu nâu sẫm.
Về sau, không biết từ đâu rọi đến những luồng ánh sáng ấm áp, tiếp nối theo đêm trắng. Tất cả mọi vật đều dần dần biến thành màu bạc. Lúc này tôi cảm thấy mình buồn ngủ vô cùng. Mọi thứ đều tốt, đều hay, chỉ có điều khổ là phải nghe những tiếng hát kéo dài liên miên từ căn phòng bên cạnh lọt sang…
- Katya, báo động!
Bà Rozaliya Naumovna lắc mạnh vai tôi.
- Dậy nhanh lên, báo động rồi!
… Cuối tháng Bảy, tôi chợt gặp chị Varya Trofimova trên đại lộ Nevsky. Chồng chị cũng là phi công trong trung đoàn đặc biệt và là Anh hùng Liên Xô. Sanya cũng đang ở trong trung đoàn này. Trước đây tôi đã từng cùng đi với chị Varya này đến Saratov để thăm chồng. Còn nhớ, hồi ấy khi biết chị là một bác sĩ nha khoa, tôi hết sức ngạc nhiên.
Chị là một người đàn bà kiên cường, dáng người cao lớn, sắc mặt đỏ hồng, bước đi vững chắc. Mỗi khi chị cười rộ lên lại lộ ra hai hàm răng đều đặn, đẹp đẽ, khiến tôi bất giác nhớ đến Kira.
- Grisha của mình đang oanh tạc Berlin đấy, Katya có đọc báo không? – Chị thở dài nói.
Chúng tôi nói chuyện với nhau khá lâu, chị khuyên tôi hãy xin vào công tác tại bệnh viện thực hành Răng Hàm Mặt thuộc Học viện Quân y.
Thấy tôi suy nghĩ, chị Varya liền nói: “Trước hết hãy xét xem công tác này như thế nào đã”, nếu không thì sẽ như một bà trước đây cũng được chị giới thiệu “chỉ làm việc được vài ngày là bỏ đi vì bà ấy không thích các mùi vị ở trong bệnh viện”.
Varya rất ghét “các hạng bà”, ngay trong chuyến đi Saratov cùng với chị trước đây, tôi đã nhận ra đặc điểm ấy của chị.
Quả là cái mùi vị của bệnh viện rất khó chịu. Khi tôi vừa bước vào dãy hành lang hai bên toàn là những phòng bệnh nhân, tôi liền cảm thấy ngay điều đó. Cái mùi ấy khiến tôi lập tức buồn nôn. Trong lúc chị Varya giới thiệu tôi với các chị y tá, với bác sĩ phòng điện quang, với bà vợ của bác sĩ trưởng cùng những người khác thì tôi chỉ chực nôn thốc ra.
Ở đây toàn là những bệnh nhân bị thương ở mặt. Sau khi tôi đến một lúc liền thấy đưa đến một thanh niên bị mìn làm cho nát cả mặt.
Sau hai ba ngày đầu làm việc, tôi học được cách chăm sóc loại bệnh nhân này. Cần phải luôn luôn củng cố lòng tin cho họ, khuyên họ chớ suy nghĩ buồn phiền. Dầu có vết sẹo thì cũng chẳng có gì là ghê gớm, chỉ cần chịu đựng một thời gian vết sẹo sẽ mất dần. Sau này tôi chuyển sang công tác tại một bệnh viện ngoại khoa dã chiến. Ở đây không tồn tại cái tâm lý u uất trên kia mà mọi người chỉ lo lắng một điều là sẽ bị tàn phế…
Có khi chúng tôi phải dùng câu “sau này sẽ mất hết vết tích” để an ủi họ. Từ trước tôi chưa bao giờ nghĩ rằng có người sẽ phải làm mũi mới, hoặc phải ghép da lên mặt. Có những thương binh lúc đến bệnh viện bị băng bó trông rất dễ sợ, nhưng sau hai ba tháng điều trị, khi anh ta xuất viện trở về đơn vị, những vết thương tưởng chừng sẽ làm anh ta đau khổ suốt đời đã biến mất.
Trong thời gian công tác tại bệnh viện Răng Hàm Mặt, nhất là trong thời gian đầu, tôi gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng chính vì công tác trong điều kiện khó khăn như thế, nói mỗi câu mỗi chữ đều phải đắn đo suy nghĩ, nên tôi lại cảm thấy rất thích thú.
Đơn vị của Petya đóng trên phố Đại học bờ sông. Sau khi tiễn con đi rồi, anh liền ghi tên tham gia vào đội tự vệ thành. Hễ lúc nào rỗi rãi là tôi chạy lại thăm Petya. Chúng tôi hoặc ngồi trên đống gỗ tròn cạnh tường nhà hoặc đi bách bộ từ Học viện Ngôn ngữ đến chân tượng mặt người thân sư tử. Tất cả những kỷ niệm có tính chất văn hóa đều đã được đưa đi giấu hoặc được vùi dưới nhiều lớp bao cát. Thế mà không biết vì sao những tượng mặt người thân sư tử quý giá này lại vẫn còn trơ trơ ở đây như hồi còn hòa bình trước ngày hai hai tháng Sáu năm 1941. Chúng nằm phục trên bờ sông Neva nhìn thế sự xoay vần. Chúng mở to hai mắt, giương móng vuốt ra ngoài. Khi nhìn kỹ pho tượng, sắc mặt Petya phút chốc bỗng trở nên hết sức dịu dàng, tuồng như mải theo đuổi những suy tư riêng.
- Nặn được một chiếc vuốt như thế này có chết cũng không tiếc, – có một lần Petya nói với tôi như thế, sau đó anh ta thao thao bất tuyệt giải thích cho tôi hiểu rằng tại sao nói chiếc vuốt này là một tuyệt tác.
Tôi và Rozaliya Naumovna đem tất cả quần áo lót của Petya ra khâu lại, nhưng anh chẳng lấy cái nào cả, mặc dù những quần áo lót mà anh lĩnh ở tiểu đoàn xấu hơn rất nhiều. Xem ra anh ta rất mong muốn được sớm trở thành một chiến sĩ thực thụ.
❀ ❀ ❀
[1] Nước giải khát có men của người Nga. – N.D.