Làm sao có thể diễn tả được hết những giây phút gặp gỡ đầu tiên như say như dại của chúng tôi? Tôi ngắm nghía nàng, ôm nàng hôn say đắm rồi lại ngắm nghía. Vừa hỏi nàng, tôi vừa tự ngắt đứt câu hỏi của mình, vì hầu như tất cả những việc tôi hỏi nàng đều đã xảy ra rất lâu, từ hàng nghìn năm về trước vậy. Nàng đã phải chịu đựng trăm ngàn khổ ải, đã từng giãy giụa bên miệng hố của cái chết ở Leningrad và đã mất hết hy vọng gặp lại tôi… Tất cả những việc ấy dù có đau lòng đến đâu đi nữa thì giờ đây cũng đã là chuyện của quá khứ rồi. Giờ đây nàng đang đứng trước mặt tôi, và tôi có thể ôm lấy nàng. Ôi, thật khó mà có thể tin được đây là sự thật!
Nét mặt nàng xanh xao, vàng võ. Trên bộ mặt đã mất đi những nét đau buồn của ngày qua, đang hiện lên một cái gì rất mới mẻ.
- Katya, em cắt tóc ngắn rồi ư?
- Vâng, em cắt lâu rồi, từ hồi bị ốm ở Yaroslavl cơ.
.jpg)
Chẳng những nàng đã cắt ngắn tóc, mà hầu như đã biến thành một người khác. Nhưng lúc này tôi không muốn nghĩ tới những thứ đó, tất cả mọi thứ chung quanh tôi, kể cả chúng tôi và cả căn phòng này đều như đang bay lên, bay về một hướng nào đó. Khi tôi gõ vào cửa sổ, nắp chiếc làn mà nàng đang tìm lấy một vật gì trong đó đang để mở. Trong phòng còn có bác sĩ, thì ra ông đứng nép vào một góc phòng, phủ khăn lên đầu, về sau ông rón rén định lảng ra ngoài, nhưng bị tôi bắt gặp và nhất định giữ lại. Cái chính nhất lúc này (mà sao tôi lại cứ quên!) là Katya đang ở trong thành phố Bắc cực. Nàng xuất hiện ở Bắc cực nghĩa là làm sao?
- Ôi trời, em vẫn viết thư cho anh từng ngày một đấy! Hồi ở Moskva, chúng ta đã trượt nhau chỉ có một tiếng đồng hồ. Khi anh đến nhà Valya Zhukov thì em đang xếp hàng mua bánh mì ngoài phố.
- Không thể như thế được!
- Anh để lại cho anh ấy một bức thư, em liền chạy bổ đi tìm anh, nhưng tìm đâu bây giờ? Ai ngờ rằng anh lại đến nhà Romashov!
- Làm sao mà em biết được rằng anh đã đến nhà Romashov?
- Em biết hết, cái gì em cũng biết, anh yêu dấu ạ!
Nàng hôn tôi.
- Em sẽ kể hết cho anh nghe.
Và nàng bắt đầu kể rằng lão Vyshimirsky hốt hoảng chạy đi tìm bác Korablyov để báo tin rằng tôi đã bắt Romashov như thế nào.
- Đồng chí thiếu tướng hải quân mà anh gọi là R. ấy là ai nhỉ? Em viết một bức thư gửi đi, nhờ đồng chí ấy chuyển cho anh. Sau đó em có viết cho chính đồng chí ấy một bức thư. Nhưng em chẳng nhận được một bức thư trả lời nào cả! Lúc ấy anh chưa biết sẽ đến đây ư? Tại sao anh lại cứ bắt em phải viết thư nhờ đồng chí ấy chuyển cho anh?
- Vì bản thân anh không có địa chỉ thư tín… Sau khi rời khỏi Moskva là anh lập tức đi tìm em.
- Anh đi những đâu?
- Yaroslavl. Anh đã đến Yaroslavl. Và khi nhận được lệnh mới, anh đã chuẩn bị để đến Novosibirsk.
- Tại sao sau khi đến đây anh không viết mấy chữ cho bác Korablyov?
- Anh không biết. Trời ơi, chẳng lẽ em đấy ư? Chính em là Katya đây ư?
Chúng tôi tựa người vào nhau, đi đi lại lại, chân cứ bị vấp hết thứ này đến thứ khác, cả hai đứa đều tranh nhau đặt câu hỏi, chưa hết câu này đã hỏi sang câu khác, cứ tại sao, tại sao hoài? Những câu hỏi “tại sao” ấy nhiều như những nguyên nhân khiến chúng tôi có thể bất ngờ gặp lại nhau ở giữa thành phố Bắc cực xa xôi này, nơi tôi vừa được đặt chân đến lần đầu tiên mà trước đây nửa giờ tôi vẫn còn mù mịt không biết Katya lưu lạc ở nơi nào.
Về tin tôi đã tìm được đội thám hiểm, nàng đã đọc qua bản tin của TASS. Nàng liền liên lạc với bác sĩ, và ông đã giúp nàng xin được giấy thông hành đến thành phố Bắc cực. Đương nhiên là lúc ấy cả hai người đều không biết tôi ở đâu để gửi thư. Song, nếu có biết đi nữa, thì thư từ và điện báo của họ cũng không thể đến nơi đóng trại của thuyền trưởng Tatarinov được.
Bác sĩ đi ra ngoài một lát, lúc vào cầm theo một ấm nước trà. Hành động này của ông tuy chưa thể nói là đã ngăn chặn được mọi tốc độ đang lao về phía trước, song có tác dụng là khiến chúng tôi cùng ngồi lại với nhau trên một đi-văng. Ông mang ra một ít bánh mì cứng như sắt mời chúng tôi ăn. Sau đó ông xách ra một bi-đông sữa loãng, nói mấy câu khách sáo về chỗ thức ăn không ra gì rồi đặt bi-đông sữa lên bàn.
Sau đó ông đi ra khỏi phòng. Lần này tôi không giữ ông lại nữa. Thế là bây giờ chỉ còn lại hai chúng tôi trong căn phòng lạnh lẽo này. Trong nhà bếp vứt bừa bãi các vỏ hộp thức ăn và bát đĩa bẩn, ở đây cũng lạnh tới mức tuyết cũng không tan được. Tại sao lại ở trong căn phòng này nhỉ? Qua cửa sổ của căn phòng này có thể nhìn thấy những dãy núi lửa trùng điệp và dòng nước kết băng trôi nặng nề giữa hai bờ phủ đầy tuyết trắng. Nhưng đây là một cái “tại sao” mà tôi không định đi tìm lời giải đáp.
Khi sắp bước ra khỏi cửa, bác sĩ dúi vào tay tôi một thứ đồ chơi bằng điện, tôi cầm lấy và sau đó liền quên biến nó ngay. Sau một hồi cười nói thỏa mãn tôi mới chợt nhận ra mình như một chú ngựa phi trong giá lạnh, hơi ấm thở ra bắt đầu đóng thành băng ở quanh mũi và miệng. Lúc ấy tôi mới nhớ ra cái vật nằm trong tay. Đây là cái lò sưởi điện loại nhỏ, xem ra thì nó được sản xuất ngay tại đây. Căn phòng ấm dần lên. Katya định thu xếp các thứ trong phòng cho ngăn nắp, nhưng tôi không cho nàng làm. Tôi nhìn nàng chăm chú và cầm chặt lấy hai tay nàng, như sợ nàng biến mất đột ngột như lúc gặp nhau…
Trên đường đến nhà bác sĩ, tôi cảm thấy thời tiết đương thay đổi. Lúc này kém mười lăm phút là đúng mười giờ, tôi bước ra khỏi phòng và nhìn ra ngoài, những cơn gió lúc nãy còn vần vũ lồng lộn giờ đã lặng im, không khí cũng trở nên dễ chịu, những bông hoa tuyết mềm xốp rồi khó nhặt – đó là dấu hiệu báo trước của cơn bão tuyết.
Điều khiến tôi ngạc nhiên là các đồng chí ở Bộ Tư lệnh đã biết tin Katya đến đây. Có lẽ chính đồng chí Tư lệnh cũng đã biết, nếu không thì sao hôm nay đồng chí ấy tiếp tôi đặc biệt vui vẻ, khác với thường ngày? Tôi báo cáo vắn tắt với đồng chí ấy quá trình bắn chìm tàu giặc, đồng chí không hỏi kỹ mà chỉ dặn tối hôm ấy hãy kể rõ trong cuộc họp quân sự. Còn cái mà lúc này đồng chí thích thú lại là đội thám hiểm của tàu buồm “St. Maria”.
Lúc mới bắt đầu kể, tôi nói không được tự nhiên và thoải mái lắm, tuy đối với người hiểu rõ tôi thì việc tôi tìm được đội thám hiểm trong khi đang thi hành nhiệm vụ chiến đấu là không có gì kỳ lạ lắm. Nhưng làm sao có thể nói thật ngắn gọn như yêu cầu trong quân đội là nói rõ được ngay tất cả với đồng chí Tư lệnh đây? Ông lắng nghe hết sức chăm chú, để lộ rõ niềm hứng thú và nhiệt tình thường thấy ở lứa tuổi thanh niên. Vì thế về sau tôi không nói theo kiểu “ngắn gọn” trong quân đội nữa, mà bắt đầu kể theo giọng tự nhiên, tất cả trình tự của sự việc đã xảy ra.
Cuối cùng, vì đồng chí Tư lệnh sực nhớ ra Katya đang chờ tôi, nên chúng tôi mới chia tay nhau…
Tôi không rõ là mình đã tiêu tốn bao nhiêu thời gian ở nhà đồng chí Tư lệnh, hình như hơn một tiếng đồng hồ thì phải. Nhưng khi tôi bước ra khỏi cửa thì thành phố Bắc cực đã bị che mờ trong cơn bão tuyết ồn ào dữ dội.
May mà hôm ấy tôi mang ủng cao cổ, thế là cần phải kéo cổ ủng lên cao tận đầu gối. Trước mặt tôi giờ đây là một màu trắng của tuyết, thật khó mà có thể tưởng tượng được rằng tại đây đang có nhà có cửa. Thật chỉ có đầu óc viển vông mới nghĩ rằng trong màn tuyết hỗn loạn, mù mịt này có thể có nhà có cửa, và trong đó có ngôi nhà số bảy, dãy nhà số Năm và Katya đang ung dung làm theo ý tôi, đem nướng những chiếc bánh mì đã cứng như thép. Đương nhiên là tôi sẽ phải mò mẫm để tìm về ngôi nhà đó. Lúc này, khó khăn lớn nhất là tìm cho được ngôi nhà. Chỉ trong một tiếng rưỡi đồng hồ, ngôi nhà to lớn ấy đã biến thành chiếc chòi tranh nhỏ trong truyện cổ tích, nó bị gió đẩy lệch sang một bên, và tuyết đã phủ kín cả cửa sổ. Tôi lao đầu vào nhà như thần bão tuyết. Trên vai tôi đông kết một lớp băng tuyết dày cộm, Katya phải phủi cho tôi từ đầu đến chân.
… Hình như mọi chuyện đã đem ra nói hết và đã hai lần, chúng tôi đụng chạm đến bức thư vĩnh biệt của thuyền trưởng. Bức thư ấy tôi có mang đến đây, định bụng sẽ đưa cho bác sĩ xem. Còn các thứ tài liệu khác của đoàn thám hiểm thì đều để lại ở trung đoàn. Nhưng cả hai chúng tôi đều cố ý tránh không bàn đến bức thư ấy cùng những gì có liên quan đến nó. Vì hình như cả hai đều cảm thấy rằng tạm thời chưa thể nói đến nó trong giờ phút gặp gỡ đầy hạnh phúc này.
Katya kể cho tôi nghe về tình hình hiện tại của Petya con – thằng bé lớn phổng lên, tròn trùng trục, mắt hơi xếch và khuôn mặt rất giống người em gái đã quá cố của tôi. Chúng tôi lại bàn tới chuyện phải đối xử như thế nào với bà ngoại Katya. Sau một trận cãi nhau với viện trưởng Peryshkin, bà đi thuê một gian phòng của nông trường và tách ra ở riêng. Tôi cũng được biết tình hình của Petya bố. Chú ấy bị thương, được thưởng Huân chương và nay đã trở lại mặt trận. Tiểu đoàn trưởng của chú ấy là Anh hùng Liên Xô, Katya có quen ông ta trong một trường hợp ngẫu nhiên tại Moskva. Người tiểu đoàn trưởng ấy nói rằng, Petya hoàn toàn “không coi cái chết ra gì”, khiến Katya rất lo lắng. Tôi cũng được biết tình hình của chị Varya Trofimova, rằng “nếu tất cả mọi thứ đều giống như Katya tưởng tượng thì hai người hạnh phúc xiết bao!” Căn phòng đã thay đổi ít nhiều. Các thứ đồ đạc được bày biện lại ngăn nắp gọn gàng, tất cả chúng như có ý muốn cám ơn Katya đã làm ấm và đẹp lại căn phòng lạnh lẽo khô khan này của bác sĩ. Cuộc sống gia đình của chúng tôi, sau những tháng năm dằng dặc rời bỏ chúng tôi, giờ đã trở về. Sự thay đổi vô cùng quan trọng và kỳ lạ đối với tôi đó đã trôi qua năm, sáu tiếng đồng hồ rồi, mà giờ đây tôi vẫn chưa quen với cảm giác có Katya ở bên cạnh.
- Em có biết anh thường nghĩ những gì không? Anh cảm thấy anh yêu em thực chưa đủ và có khi anh đã bỏ qua không quan tâm đến những khó khăn mà em đã phải chịu đựng trong cuộc sống.
- Còn em thì em chỉ nghĩ đến những khó khăn mà anh phải trải qua. Mỗi lần anh ra đi là mỗi lần em lo lắng, ăn ngủ không yên, có điều những cái đó cũng là một thứ hạnh phúc.
Chúng tôi nói chuyện và nàng tiếp tục dọn dẹp đồ đạc. Bất kể ở đâu, trong khách sạn, trên tàu hỏa, hễ hai chúng tôi ở chung với nhau là nàng lại tất tưởi luôn tay luôn chân như thế. Đấy âu là thói quen của những người vợ thường xuyên theo chồng hết vào Nam lại ra Bắc. Nhìn Katya làm, lòng tôi xốn xang bao niềm yêu thương, cảm mến và ân hận!
Lát sau, người láng giềng của chúng tôi trở về. Đó là anh thủy thủ đã có nhận xét rằng tôi không có khả năng phân biệt rõ ràng các thứ đồ vật trong bóng đêm Bắc cực. Anh ta béo, lùn và có bộ mặt đỏ gay. Sau đôi phút ngỡ ngàng, chúng tôi vỡ lẽ rằng anh ta là một nhân vật khá đặc biệt.
Anh ta bước vào phòng làm quen với chúng tôi, câu đầu tiên anh ta tự giới thiệu là đồng sự của bác Ivan Ivanych, đến đây để thí nghiệm một loại khí cụ cấp cứu mới trên tàu ngầm. Đáng lẽ tối nay anh ta đi Murmansk, nhưng cơn bão tuyết chết tiệt đã làm đảo lộn toàn bộ kế hoạch đã định.
- Không được phép đi, – anh ta thở dài đánh thượt một cái và nói. – Nên ngoài việc ăn nhậu, chờ đợi ra, chẳng biết phải làm gì nữa.
Trong nhà bác Ivan Ivanych đã có rượu nho và đồ hộp, nhưng anh ta bảo không đủ và trở về phòng mang thêm rượu nho cùng đồ hộp của mình đến. Anh ta thở hổn hển, mở đồ hộp ra rồi xắn cao tay áo, đặt chúng lên bếp lò hâm nóng, cả ngày hôm đó tôi và Katya ăn rất no, nên chúng tôi khước từ bữa tiệc rượu của anh ta. Người thủy thủ không vì thế mà mất hứng, anh ta ngồi một mình vào bàn và chén một mạch hết sạch các thứ. Qua lời của bác sĩ, anh ta biết rằng chúng tôi bị lạc nhau và vừa mới gặp lại, liền chúc mừng chúng tôi. Sau đó anh ta nói rằng chính anh ta được biết hàng vạn trường hợp tương tự như thế.
- Trường hợp của hai anh chị là còn tốt lắm, cả anh và chị đều kiên trì cuộc sống độc thân một cách tốt đẹp! – Anh ta nói giọng kẻ cả. – Vâng, đúng thế, đời sống là lắm chuyện lắm!
Tôi không nhớ rõ chúng tôi còn nói những gì với nhau nữa. Tôi chỉ còn nhớ rằng lúc ấy tôi càng cảm thấy sâu sắc hạnh phúc của mình vì ngoài hai chúng tôi ra, còn có những người khác cùng chung với chúng tôi.
Lát sau anh ta ra về. Hầu như cả buổi tối anh ta chỉ có gọi điện thoại ra cảng, hỏi đã được phép xuất phát chưa. Nhưng lúc này cơn bão tuyết đang bắt đầu tràn đến vùng biển Barents thì làm sao có thể nói đến chuyện xuất phát được! Cơn bão mạnh đến nỗi làm rung cả những lần cửa kính bên trong, tựa như có người nào đó đứng ngoài, lúc thì đẩy nhẹ, lúc lại đập lên dồn dập.
Lúc này chỉ còn lại hai chúng tôi. Tôi ngắm nhìn Katya mãi mà không biết chán. Tôi thương nhớ nàng quá đỗi. Tôi không còn nhớ gì nữa! Ngay cả cái thói quen dùng khăn quấn tóc lúc ngủ của nàng trước đây tôi cũng quên mất. Tóc nàng giờ đây chưa mọc dài nên hai cái bím thắt hai bên tai nom rất buồn cười.
Nhưng nàng vẫn tết thành hai cái bím, để lộ hai cánh tai đỏ hồng mà tôi cũng đã quên mất.
Chúng tôi lại bắt đầu nói chuyện, nhưng lần này chỉ nói thủ thỉ với nhau. Sau một lúc lâu im lặng, câu chuyện chuyển sang một đề tài mới. Đề tài mới đó là chuyện về Romashov.
Tôi không nhớ rõ là đã học ở đâu câu chuyện về quyển vở chép tay cổ xưa bằng da dê. Những người ghi chép đời sau đã xóa chữ trên trang da dê và ghi vào đó những chữ mới của mình. Nhưng qua nhiều năm sau, các học giả lại phát hiện ra mặt chữ cũ trước kia, đó là những dòng chữ viết bằng bút lông ngỗng của một nhà thơ thiên tài.
Câu chuyện về Romashov giống như chuyện của quyển vở cổ xưa nọ. Katya kể cho tôi nghe sự việc đã xảy ra trong khu rừng bạch dương theo lời Romashov nói với nàng. Sau đó tôi xóa bỏ tất cả những lời bịa đặt đó đi như một kẻ nào đó đã xóa đi những dòng chữ gốc trên trang da dê. Và từ bên dưới những lời bịa đặt, hiện lên một sự thật khác hẳn. Tôi vỡ lẽ và liền nói cho Katya biết những gì đê tiện và phức tạp trong thủ đoạn của Romashov.
Hắn đã diễn cái thủ đoạn ấy hai lần: lần thứ nhất hắn cố gắng chứng minh với Katya rằng chính hắn đã cứu sống tôi và lần thứ hai hắn tìm hết cách làm cho tôi tin rằng Katya sống được là nhờ bàn tay của hắn.
Tôi kể lại cho Katya nghe đúng từng chữ một về cuộc nói chuyện giữa tôi với Romashov tại quảng trường Sobachy. Những lời tự thú của hắn khiến Katya rất đỗi kinh ngạc. Những lời tự thú đó cũng nói rõ căn nguyên của tất cả những điều bất hạnh mà tôi gặp phải, và nó cũng giải thoát khỏi đầu óc Katya cái điều mà nàng vẫn nhiều ngày băn khoăn đau khổ.
- Anh đã ghi lại tất cả những điều hắn nói chứ?
- Anh đã ghi lại như một biên bản, và đã ép được hắn ký tên ở dưới.
Tôi kể lại cho Katya nghe những gì tôi đã ghi lại được. Ngay từ những ngày còn học ở trường tiểu học, nỗi ghen ghét đã bắt đầu gặm nhấm cái tâm hồn trống rỗng bất an của hắn. Và rồi cả đời hắn, hắn cứ chĩa mũi nhọn vào tôi bởi cái nỗi ghen ghét kia giày vò. Nhưng riêng việc hắn treo một tấm ảnh đẹp của Katya trên tường cạnh bàn làm việc của hắn, thì tôi không đả động đến. Tôi không đả động đến là vì tôi cảm thấy rằng tình yêu của hắn đối với Katya thực chất chỉ là một sự lăng mạ.
Khi lắng nghe tôi nói, sắc mặt nàng tối lại, nhưng hai mắt thì cháy rực lên… Nàng cầm chặt bàn tay tôi và áp vào sát ngực mình. Mặt nàng trắng bệch vì xúc động. Nàng căm ghét Romashov, và có lẽ càng căm ghét hơn bởi những điều về hắn mà tôi không muốn nói đến. Song đối với tôi, hắn xa xôi và không đáng kể chút nào, nghĩ đến việc đã chiến thắng hắn, tôi bất giác cảm thấy phấn chấn…
Người bác sĩ béo trên tàu vẫn hỏi đi hỏi lại cái việc tàu đã được phép xuất phát chưa. Vì cơn bão đang hoành hành, gió gào rú, tuyết rơi ào ạt nên chưa thể cho phép tàu nhổ neo được. Gió tuyết làm tan hoang những lán đánh cá của chúng ta và cũng làm tan hoang những vùng đóng quân của bọn Đức. Nó làm cuộn lên những làn sóng biển hung dữ và xô đẩy những tàu bè nằm trốn trong vịnh Na Uy. Không được phép nhổ neo, cảng phải đóng cửa hoàn toàn, gió cấp chín đang hoành hành.
Vợ tôi gối má lên bàn tay ngủ say. Nàng đẹp và thông minh vô cùng, tôi thật không hiểu vì sao nàng lại yêu tôi mãi như thế. Nàng đã ngủ say, tôi có thể ngắm nhìn nàng thật lâu và tha hồ nghĩ ngợi, lúc này chỉ có hai chúng tôi. Tuy cái đêm hạnh phúc ngắn ngủi này sắp kết thúc, nhưng dầu sao thì đấy cũng là một diễm phúc, rằng chúng tôi đã cướp được nó từ trong cơn hoành hành điên cuồng của bão tuyết.
Sáng hôm sau tôi cần phải dậy trước sáu giờ, tôi nài Katya phải bằng lòng rằng lúc ấy tôi sẽ không đánh thức nàng dậy. Thậm chí ngay tối hôm nay, chúng tôi đã nói với nhau trước những lời từ biệt. Nhưng khi tôi vừa mở mắt ra thì đã thấy nàng mặc áo khoác đang rửa thìa bát và dựng chiếc mâm ướt bên cạnh bếp lò. Nàng biết tôi phục vụ trong binh chủng nào, nhưng chưa bao giờ chúng tôi nói với nhau về chuyện đó. Chỉ khi tôi vội vội vàng vàng đặt chiếc cốc chưa kịp uống hết xuống bàn và vừa đứng lên thì nàng liền hỏi là có mang dù theo không, như trước đây nàng đã từng nhiều lần hỏi như vậy.
Tôi đi ra khỏi nhà cùng với người bác sĩ to béo nọ. Cơn bão đã lắng. Cả thành phố chìm trong những bờ tuyết dài chạy dọc theo các đường phố và bị chia đôi như do một con dao khổng lồ nào đó cắt ra.