Mãi đến bây giờ, mỗi khi nhớ lại những ngày ấy là trong tôi lại tràn ngập một thứ tình cảm đau đớn đầy bất lực và nặng nề. Ngày nào chúng tôi cũng đến bệnh viện Shreder ba lần và lần nào cũng đứng rất lâu trước bảng theo dõi nhiệt độ có che một lớp mi-ca: “Skovorodnikova – 37; 37,3; 38,2; 39,9”. Song bệnh của Sasha không giống như bệnh viêm phổi mà tôi đã từng bị khi còn học ở trường. Qua ngày thứ chín, nhiệt độ của Sasha bắt đầu giảm xuống… Theo lời giáo sư nói thì Sasha bị bệnh “cúm biến chứng”. Có mấy hôm thân nhiệt của cô ấy tương đối ổn định, những ngày ấy chúng tôi vui như mở hội và bắt đầu bàn tới chuyện chuẩn bị đón Sasha về nhà. Bà Rozaliya Naumovna, vợ của nhà nhiếp ảnh, nói rằng bà cũng đã từng bị viêm phổi, nhưng bệnh này nếu đem so sánh với bệnh viêm màng phổi có mủ mà chị của bà là bà Berta đã mắc phải thì chẳng thấm vào đâu. Petya có lúc hứng khởi nói về nghề điêu khắc của mình. Có một lần tôi đã thuyết phục được để anh chàng dẫn tôi đi xem Viện bảo tàng Ermitazh. Nhưng đến sáng ngày hôm sau, chúng tôi lại buồn bã đứng trước tấm bảng theo dõi nhiệt độ đọc đi đọc lại mãi mà vẫn không thể nào tin nổi… Tôi bắt gặp có một lúc Petya nhắm nghiền hai mắt lại, rồi lại mở to ra, tuồng như làm như thế là có thể nhìn thấy những kết quả khác hẳn mà anh ta mong chờ, như hồi còn bé anh vẫn thường làm. Nhưng những gì mà anh nhìn thấy vẫn không hề thay đổi, vẫn là những con số mà chúng tôi rất không muốn đọc: “Skovorodnikova – 38,1: Skovorodnikova – 39,3; Skovorodnikova – 40”.
Có đến ba ngày liền nhiệt độ của Sasha vẫn ở mức 40 độ, sau đó hạ xuống một cách dữ dội rồi lại lên cao… Lần này cao đến 40°5. Tôi khẳng định rằng đấy không phải là bệnh viêm phổi, nên vội vã đến nhà riêng tìm giáo sư mà không nói cho Sanya biết. Nhưng ông tỏ ý rất tin tưởng vào kết quả chẩn đoán. Tiếng bệnh lý của phổi rất rõ, không phải chỉ có ở một số chỗ mà ở nhiều chỗ, cả hai bên phổi đều có. Ông còn cho biết rằng loại bệnh này không nằm trong phạm vi điều trị của ông, Sasha đã được đưa sang khoa Nội để theo dõi điều trị.
- Rút cục lại là thế nào ạ?
- Cô ấy bị cúm biến chứng vào phổi nên bệnh tình có phức tạp thêm.
Tôi biết rằng hằng ngày ông đi lại thăm bệnh cho Sasha có đến hàng trăm lần. Tóm lại là các thầy thuốc trong bệnh viện đều rất tận tâm đối với Sasha. Nhưng tôi vẫn hỏi thêm ông rằng có cần mời một bác sĩ nội khoa nữa đến giúp sức bệnh viện không?
- Hay là mời bác sĩ Gabrichevsky?
- Được, để tôi gọi điện thẳng đến ông ấy xem.
Nhưng sau khi được bác sĩ Gabrichevsky theo dõi điều trị, nhiệt độ của Sasha vẫn không chịu thuyên giảm.
Trong những ngày này hầu như tôi không được trông thấy Sanya. Chỉ thỉnh thoảng anh mới gọi điện cho tôi một lần vào ban đêm và tôi có đến Viện nghiên cứu về việc trang bị cho đội tìm kiếm Bắc cực để tìm anh. Anh ngồi trước chiếc bàn vuông. Trên bàn chất đầy vũ khí, máy chụp ảnh, găng tay, bít tất bằng da có lông. Một người đàn ông mặc áo khoác bằng da, râu ria đầy mặt, có vẻ nghiêm nghị đang cầm khẩu súng hai nòng trên bàn, miệng càu nhàu không ngớt rằng nòng súng không lắp khớp vào báng súng.
- Cô ấy thế nào rồi? Em có trông thấy cô ấy không? Các bác sĩ nói thế nào?
Chốc chốc lại có tiếng chuông điện thoại réo. Anh cầm ống nghe lên một lát rồi ném lên bàn.
- Vẫn một giọng ấy.
- Nhiệt độ bao nhiêu?
- Sáng sớm hôm nay là bốn mươi độ hai.
- Khỉ thật, chẳng lẽ không còn cách nào nữa hay sao?
Mấy hôm nay trông anh gầy sút hẳn đi. Anh có vẻ mệt mỏi, dễ cáu bẳn. Tóm lại, anh chẳng còn giống anh chút nào, nhất là với ngày đầu khi hai chúng tôi gặp nhau.
- Trông em gầy xọp đi, em không ngủ được à? – Anh cất tiếng hỏi. – Anh thật không biết rồi mọi việc sẽ ra sao?
- Không có gì nguy hiểm trực tiếp đâu anh ạ.
- Cái gì?
- Bác sĩ Gabrichevsky nói rằng không có gì nguy hiểm trực tiếp đâu.
- Thôi mặc kệ họ! – Sanya hét lên. – Bệnh chỉ có thế mà cũng không trị được! Cô ấy vốn là người khỏe mạnh, có bệnh gì đâu!
Tôi nói cho anh biết rằng bắt đầu từ hôm nay tôi sẽ phải xa anh một thời gian, vì mọi người đã bằng lòng để tôi được vào bệnh viện chăm sóc Sasha. Ngay tối hôm nay tôi sẽ dọn vào bệnh viện. Anh nắm chặt tay tôi và nhìn tôi đầy biết ơn. Sau đó anh tiễn tôi ra cửa và chúng tôi chia tay nhau…
Sasha nằm trên giường bệnh, mắt nhìn chăm chăm lên trần nhà, chốc chốc lại liếm lưỡi vào đôi môi khô bỏng. Cô không nhận ra tôi ngay, có lẽ vì tôi mặc áo bơ-lu và mang khẩu trang che kín cả mặt. Nhưng tôi biết là cô đã nhận ra tôi là một người mới đến.
Rõ ràng là đã rất lâu rồi cô không ngủ. Mọi việc đối với cô đều rối cả lên, buổi sáng buổi tối cũng không phân biệt rõ. Đối với cô hầu như thời gian là vô nghĩa.
Bộ mặt rám hồng kiểu người Tatar của cô trước kia giờ đây trở nên trắng nhợt, đôi mắt thụt sâu vào trong. Mắt cô trước đây vốn hơi lé, rất hợp với cô, nó làm cho cô có cái nhìn tự nhiên đáng yêu. Nhưng bây giờ không biết vì sao, đặc biệt là vào buổi tối, ánh mắt nhìn nghiêng của cô khiến tôi rất sợ. Cô ngồi thẳng lưng trên giường, sắc mặt luôn luôn thay đổi, hai chiếc đuôi sam lủng lẳng trước ngực, chẳng hề mở miệng nói một lời nào. Tôi hết sức khuyên bảo mà vẫn không tài nào làm cho cô nằm xuống được. Một lần Sanya cũng có mặt ở đấy, dáng vẻ của Sasha khiến anh nhớ tới mẹ và thế là anh cứ ngẩn ngơ mãi.
Hầu như chưa bao giờ tôi làm hộ lý chăm sóc người bệnh, nhất là đối với những người bị bệnh trầm trọng như Sasha. Nhưng bây giờ tôi đã học được cách rồi. Công việc này thực là khó nhọc vì hầu như chẳng lúc nào Sasha ngủ được, mà nếu có ngủ thì cũng chỉ rất ngắn ngủi rồi tỉnh giấc ngay. Đồng thời lại phải thường xuyên theo dõi nhịp thở của cô.
Cũng có được mấy ngày, sức sống tràn trề bỗng trở lại với Sasha. Tôi còn nhớ có một ngày như thế, đó là ngày thứ tư sau khi tôi dọn vào ở hẳn trong bệnh viện. Tối hôm ấy cô ngủ rất say và sáng hôm sau, vừa tờ mờ đã đòi ăn. Tôi cho cô ăn một quả trứng gà và uống một cốc sữa. Khi tôi đắp chăn thật kỹ cho cô để tránh gió, đột nhiên cô hỏi:
- Katya, chị ở bên cạnh em mãi thế này ư? Tối chị ngủ ở đây ư?
Hình như lúc ấy da mặt tôi giật lên mấy cái, cô ngạc nhiên nhìn tôi.
- Chị làm sao thế? Em ốm nặng lắm phải không? Có đúng thế không?
- Sashenka, bây giờ chúng ta sẽ mở cửa sổ ra cho thoáng, cô hãy chịu khó nằm im, đừng nói, đồng ý không? Mấy hôm trước cô mệt nhiều, nhưng hôm nay khá rồi. Mọi việc rồi sẽ qua cả thôi.
Cô nghe lời tôi, không nói nữa. Chỉ đến khi tôi xoa kem thơm lên mặt và tay cô thì cô cầm chặt lấy tay tôi hồi lâu. Sau đó một lúc cháu bé được đưa đến, chúng tôi chăm chú nhìn cháu bú sữa. Cháu mở to đôi mắt, bú ngon lành.
- Giống anh ấy quá phải không chị? – Sasha hỏi qua khẩu trang.
Cô tỏ vẻ rất vui mừng thấy con rất giống Petya. Tuy mới ra đời có hơn mười ngày mà cháu đã có một vẻ mặt riêng khiến ai cũng nhận ra. Nhưng tôi thì lại thấy cháu giống hệt Sanya, giống Sanya của tôi chứ không giống mẹ cháu. Cái nết ăn của cháu đã có vẻ giống bác nó ở chỗ quả quyết và bất chấp tất cả.
- Anh Petya thế nào hả chị? Chắc là anh ấy lo lắng lắm phải không? Hôm nay em nằm chiêm bao thấy anh ấy đến đây, ngồi ngay trong phòng này này. Nhưng mọi người lại đem anh ấy giấu đi không cho em nhìn thấy. Rõ ràng là em đã trông thấy anh ấy mà Maria Petrovna cứ bảo là anh ấy không hề đến đây.
Maria Petrovna là cô hộ lý mà tôi đã nói ở trên.
- Anh ấy ngồi ngay ở cái chỗ hiện giờ chị đang ngồi đấy, ngồi im chứ không nói gì cả. Anh ấy chẳng làm sao nói chuyện được với em, vì mọi người đã cố ý đem giấu anh ấy đi, để em không nhìn thấy được. Trời ơi, nhưng em quên mất, chị hầu như chưa quen biết anh ấy kia mà!
- Tôi cảm thấy tôi đã quen Petya từ hàng trăm năm nay rồi.
- Còn anh Sanya thì sao? Chừng nào thì anh chị đi?
- Khoảng hai tuần lễ nữa. Con tàu “Pakhtusov” của chúng tôi đang sửa chữa. Đến cuối tháng Sáu này mới có thể ra ụ được.
- Ụ là cái gì hở chị?
- Mình cũng chẳng biết nữa.
Sasha cười vang lên.
- Anh chị hạnh phúc thật! Đáng yêu thật!
Chúng tôi chuyện trò đến một tiếng đồng hồ, thuận miệng chúng tôi bàn cả đến bức tượng “Pushkin” của Petya. Sasha cũng nói rằng cô cảm thấy đó là một tác phẩm rất khá.
- Tinh lực của anh ấy bị phân tán nhiều quá, – cô nói giọng buồn buồn. – Hiện nay anh ấy chuyển sang điêu khắc, thoạt đầu em không tán thành đâu. Nhưng về mặt hội họa anh ấy cũng chẳng tập trung được sức lực.
Sasha hồi tưởng lại những ngày chúng tôi quen nhau ở Ensk. Lần ấy tôi đến nhà cô chơi. Dì Dasha nhận xét về tôi như sau: “Chà, dễ thương, xinh đẹp và khỏe mạnh. Có điều là trông hơi buồn buồn”.
- Bây giờ dì Dasha ở đâu nhỉ? – Tôi hỏi. – Tại sao không thấy dì ấy đến thăm thằng cháu trai đầu tiên nhỉ? Đấy là một chuyện lớn chứ chơi à?
- Chẳng lẽ chị không biết dì đang bị ốm nặng ư? Tim của dì ấy tồi lắm, trước đây ít lâu bác sĩ có khuyên dì ấy nghỉ ngơi khoảng nửa năm. Em và Petya thường về Ensk. Hầu như mùa hè nào chúng em cũng đi một chuyến như thế cả.
Cô nói còn có vẻ mệt nhọc lắm, trong khi đang nói thường phải ngừng lại để thở. Nhưng dù sao, tình trạng sức khỏe của cô cũng đã khá hơn nhiều so với mấy hôm trước đây.
- Còn ông chánh án ở đâu?
- Ông chánh án nào?
- Chị kìa, ông chánh án nhà em ấy mà.
Sasha cho tôi hay, ông chánh án Skovorodnikov – bố của Petya vừa được thưởng huân chương “Quang vinh”.
- Ensk là nơi rất đẹp, phải không chị? – Cô nói sau một hồi im lặng. – Ở Ensk, anh chị có về đấy không?
- Tất nhiên là có chứ!
Chờ khi bác sĩ đã khám hết lượt, Petya liền gọi tôi ra. Tôi chạy phóng ra ngoài, báo cho anh ta biết tình hình sức khỏe của Sasha đã khá lên nhiều. Giữa lúc ấy tại phòng đón tiếp xảy ra một chuyện: có một thanh niên mặc áo cổ bẻ xiên đầu đội mũ lưỡi trai đang cùng Petya đứng chờ bác sĩ khám xong cho các người bệnh. Vì sáng nào anh ta cũng vào bệnh viện cùng một giờ với chúng tôi, nên tôi quen mặt anh ta. Tôi biết người mà anh đến thăm là Alekseeva, nhiệt độ của chị này cũng rất cao. Trong toàn bộ bản thông báo nhiệt độ của các người bệnh trong phòng chỉ có cô này và Sasha là cao hơn cả. Khi tôi tìm gặp được Petya và hai người đang đứng trong phòng đón tiếp thì đột nhiên có một cô y tá đi ra, nói vội với anh ta:
- Có phải anh đến thăm chị Alekseeva không? Thôi đi đi, đi đi!
Và cũng ngay lúc ấy chúng tôi nghe cái giọng hạ thấp hẳn xuống của cô nói với người trực ban ở phòng gửi áo:
- Đem áo bơ-lu đến đây nhanh lên… Có thể anh ấy còn kịp gặp mặt…
Thực đáng sợ, người thanh niên vội vã mặc áo bơ-lu, cố kiềm chế mình để mặc cho nhanh, nhưng mãi vẫn không xỏ được tay vào áo. Cuối cùng một chị hộ lý đã phải giật phắt lấy chiếc áo, choàng lên vai anh như khoác áo bành-tô.
Chúng tôi vẫn tiếp tục nói chuyện, nhưng bắt đầu từ đó Petya chẳng còn tâm địa nào mà nghe tôi nói nữa. Mặt anh chàng bỗng tái nhợt đi khiến tôi giật mình cầm lấy tay anh.
- Anh làm sao thế?
- Không sao, không sao cả.
Tôi để anh ngồi xuống rồi chạy đi tìm nước sôi. Nhưng anh đã bị ngất mất rồi.
Ngày hôm đó tôi gặp ông giáo sư khoa Nội và nói chuyện với ông. Ông cho biết sẽ không dùng thuốc trợ tim loại mạnh nữa và nói thêm: “Chúng ta cho Sasha uống nhiều thuốc quá rồi”. Khi sắp sửa bước đi, ông nói rằng gần đây ông thấy có một loại thuốc mới chữa bệnh viêm phổi rất tốt, đó là thuốc sulfidine, một thứ thuốc vừa mới được các nhà bác học phát hiện ra.
Đến tối bệnh trạng của Sasha có phần nặng hơn nhưng tôi không lo lắm, vì chiều tối cô ấy vẫn thường khó chịu hơn. Tôi cầm một quyển sách đứng tựa vào chiếc bàn kê ở đầu giường để đọc. Tôi lấy khăn quàng che ánh sáng đèn cho khỏi chói mắt người bệnh. Trước đấy mấy hôm Sanya gửi vào cho tôi mấy quyển sách, đến nay tôi vẫn còn nhớ rõ đó là quyển “Bắc cực hiếu khách” của Stefansson. Đã có quyết định cuối cùng về việc tôi tham gia vào đội thám hiểm, tôi sẽ tham gia với tư cách là một nhà địa chất. Giáo sư V. được chỉ định lãnh đạo các mặt nghiên cứu khoa học của cuộc thám hiểm. Chỉ vài hôm nữa tôi sẽ phải gặp ông ta. Dĩ nhiên là tôi không giấu giếm rằng hiện tại kiến thức của tôi về Bắc cực còn rất nông cạn. Toàn bộ những sách vở Sanya gửi vào cho tôi đều là những tài liệu cơ bản, rõ ràng là phải đọc thật kỹ từ đầu đến cuối mới được.
Khoảng hơn hai giờ sáng, tôi đứng dậy để xem Sasha ngủ thế nào, tôi thấy cô ấy đang nằm yên, hai mắt mở trừng trừng.
- Sasha, cô làm sao thế?
Sasha im lặng một lúc.
- Chị Katya, em chết mất, – cô thì thào.
- Sasha, cô sắp khỏi rồi đấy. Hôm nay khá lắm rồi.
- Thực ra thì cái chết cũng chả có gì đáng sợ, chỉ có điều là mỗi khi nghĩ đến cháu bé, em cảm thấy khủng khiếp quá.
Nước mắt giàn giụa trong hố mắt cô. Cô cố quay đầu đi chùi nước mắt vào gối.
- Không biết sau này cháu có được vào đại học không nhỉ?
- Sasha, chớ có nghĩ lẩn thẩn như thế, vào đại học nào?
Tôi lau nước mắt cho cô rồi hôn lên trán cô. Trán cô nóng như một lò than đỏ.
- Đến khi cháu vào đại học thì em không thể nào nhận ra cháu nữa, nó sẽ thay đổi nhiều lắm… Sao Petya vẫn không vào thăm em chị nhỉ? Sao người ta không để cho anh ấy vào nhỉ? Họ có quyền gì ngăn cấm anh ấy? Ai cũng cho rằng em không được phép nhìn thấy anh ấy ư? Anh ấy kia kìa, kia kìa!
Cô định vùng ngồi dậy, nhưng tôi đã kịp ngăn lại. Giữa lúc ấy cô hộ lý trực ban vào và tôi cho Sasha thở ô-xy…
Từ buổi tối hôm ấy, việc đáng sợ nhất bắt đầu xảy ra.
Cứ cách một tiếng đồng hồ lại phải tiêm cho cô một mũi thuốc hồi sinh. Thời gian cô tự thở không tiếp ô-xy mỗi lúc một ngắn đi, nhiệt độ hạ dần xuống, cả thuốc hồi sinh, thuốc trợ tim loại mạnh cũng đều bất lực trước nhịp đập mỗi lúc một yếu đi của trái tim cô. Cô nằm thẳng người, các đầu ngón tay tím lại, sắc mặt vàng bệch như màu sáp. Mặc dù thế, các bác sĩ vẫn ra sức cứu chữa tấm thân đáng thương đã phải chịu đựng bao nỗi giày vò đau đớn của cô.
Tôi không rõ tình trạng này kéo dài trong bao lâu, hình như lâu lắm thì phải, vì cho mãi đến tối ngày hôm sau công việc cấp cứu vẫn còn tiếp diễn. Một bác sĩ lạ tôi chưa gặp mặt bao giờ nhẹ nhàng từ trong phòng bệnh đi ra hành lang và tiến lại phía chúng tôi. Chúng tôi: Sanya, Petya và tôi đang đứng chờ tin tức giữa hành lang bệnh viện. Không hiểu bởi cớ gì trước đây ít lâu họ xua tất cả chúng tôi ra khỏi phòng bệnh. Người bác sĩ ấy thoáng dừng lại ở cửa phòng rồi chậm rãi đi tới trước mặt chúng tôi.