Tôi vẫn thường hình dung Quân y viện như thế này: bó hoa hồng trên chiếc bàn đêm, những căn phòng sáng trưng, những cô y tá điềm tĩnh đi lướt qua giữa các giường bệnh như những bóng tiên. Chính tôi cũng không rõ ấn tượng ấy đã từ đâu đến với tôi, có lẽ từ một quyển tiểu thuyết nào đó chăng. Trong thực tế, Quân y viện giản dị hơn nhiều.
Đây là một tòa nhà lớn, trong đó đầy những bệnh nhân. Trên hành lang, thậm chí cả trong nhà ăn (tuy nhà ăn là một gian phòng xép) đều chật ních các giường bệnh. Trước kia đây là trường Đại học Y khoa, bây giờ trên tường vẫn còn treo những bức vẽ phân bố thần kinh trong cơ thể con người. Bộ mặt của những con người trong bức vẽ trông thực đáng sợ, một nửa mặt bị lột mất da, để lộ những sợi thần kinh chằng chịt. Trong tủ kính còn giữ lại bảng thời khóa biểu và tờ in mệnh lệnh của đồng chí chủ nhiệm khoa.
Tôi nằm ngay trong gian phòng trước dùng làm hội trường. Đây là một phòng bệnh khá lớn một chút. Tôi cảm thấy như đầu bên kia của gian phòng bị che mờ bởi một làn sương loãng và xa đến nỗi không sao nhìn rõ được. Mà thực ra cũng đúng như vậy. Những tia ánh sáng mặt trời rọi vào căn phòng rộng có vẻ run rẩy e ngại, như bị trùm trong sương mù dày đặc. Có đến gần một trăm con người nằm trong phòng này, hầu hết là chiến sĩ. Tôi không mang giấy tờ gì theo người và trong khi đơn vị chưa gửi chứng minh thư đến chứng nhận rằng trên đời này còn có một đại úy là tôi; nên tôi phải nằm chung với anh em chiến sĩ. Song chỗ khác biệt duy nhất là chúng tôi được phát thuốc lá rời, còn các sĩ quan thì được nhận thuốc lá vấn.
Trong phòng bệnh của chúng tôi, có rất nhiều người từ khắp các mặt trận đến. Không ít người đã từng chiến đấu ở mặt trận Leningrad. Mùa đông năm ấy, câu chuyện kể của những người đến từ mặt trận Leningrad làm cho người ta lo lắng.
Trên đường về đây tôi gửi cho Katya một bức thư, và sau khi vào viện, hầu như ngày nào tôi cũng biên thư cho nàng. Tôi không gửi về nhà Berenstein ở phố Petrogradskaya, mà gửi cho Petya qua đường dây bưu điện quân đội, hoặc gửi thẳng đến Học viện Quân y; vì hồi giữa tháng Bảy, trong một bức thư gửi cho tôi, Katya nói rằng cô ấy và Varya Trofimova cùng công tác trong Học viện Quân y. Đường tàu hỏa tuy không nối liền với Leningrad nhưng thư từ thì có thể dùng máy bay chuyển đi. Tôi không rõ là tại sao thư tôi gửi không đến nơi. Tôi không biết rằng trại nhi đồng của Viện bảo tàng nghệ thuật đã sơ tán về vùng Sibir, nên thư gửi về nhà cho bà tôi toàn phải gửi qua người khác, rồi nhờ chuyển hộ. Chỉ có một điểm tôi có thể tự an ủi được, là nếu Katya gặp điều không may thì thế nào cũng có người viết thư báo cho tôi biết…
… Ngày hai mốt tháng Hai năm 1942, đấy là một ngày rủi ro mà tôi sẽ mãi mãi ghi vào tâm khảm. Một chị hoạt động xã hội (tất cả mọi người trong quân y viện đều gọi những người phụ nữ tự nguyện đến chăm sóc chúng tôi bằng một cái tên chung như thế) chạy đến, kể cho chúng tôi nghe cảnh đón tiếp học sinh trường kỹ nghệ vừa được tàu hỏa đưa từ Leningrad đến. Chị ta có vẻ rất nghiêm nghị. Một lần, chị ta nói rằng chồng và con của chị đều đã hy sinh ngoài mặt trận. Khi nói những câu ấy thái độ của chị vẫn rất bình thản, khiến tôi rất đỗi ngạc nhiên. Nhưng khi kể rằng chị đã bế con từ trên tàu hỏa xuống, thì lại khóc òa lên.
Ngày hôm ấy tôi phải cố gắng lắm mới tự buộc được mình ăn hết một bữa cơm. Chân bị thương của tôi đã bó bột hơn một tháng nay, hôm nay đột nhiên nhức nhối không tài nào chịu nổi. Bác sĩ quyết định soi điện cho tôi.
Một là, kết quả soi điện chỉ rõ rằng xương chân của tôi nối lại không khớp, nên cần phải bóc thạch cao ra, và nắn lại xương, nghĩa là phải làm lại từ đầu. Hai là, đưa tôi vào nằm một tiếng rưỡi đồng hồ trong phòng mổ lạnh cóng để mổ lại chân, và có lẽ vì thế, tôi bị cảm lạnh. Đến tối, thân nhiệt của tôi lên cao và tôi bắt đầu nói nhảm.
Nói tóm lại là tôi bị viêm phổi. Và thế là rất trở ngại cho cuộc mổ lần thứ hai, các bác sĩ đều lo tôi bị què.
Tôi đã viết quá lộn xộn về tình hình bệnh tật của mình. Thực ra đấy là một đề tài quá khô khan và vô vị, nhất là khi nghĩ rằng mới sau ba tháng khai chiến, mình đã bị thương, chưa kịp làm nên công cán gì.
Tôi chưa kịp làm nên công trạng gì. Nhưng trong thời gian ấy, như báo chí nước ngoài nói, xuất hiện “một chuyện lạ bên thành phố Moskva”. Cách Moskva ba trăm cây số về phía tây, một cái chân người mang giày đinh đã lạnh cứng bị vùi trong tuyết. Tôi chưa kịp làm nên công trạng gì, nhưng công việc của các đội hàng không hải quân tầm xa vừa được tổ chức lại vẫn tiến nhanh; trong những công việc đó không có phần của tôi. Tôi có cảm giác như đã mười lăm năm rồi tôi chưa được bay trên mặt biển! Tôi chưa kịp làm nên công trạng gì, tôi cảm thấy dường như cái cảm giác chiến tranh trong con người tôi đang ngày một mai một đi, và bao nhiêu việc vô nghĩa của cuộc sống bệnh viện đương ngày một tăng lên.
Ở những trang trước tôi đã viết về chuyện đơn vị gửi giấy chứng minh đến cho tôi. Sau khi nhận được chứng minh thư, tôi nhận được thư của Misha Golomb. Anh ta là bạn cũ của tôi. Trước đây khi còn học ở trường Hàng không, sau khi thành lập ngành hóa học hàng không quốc phòng, chúng tôi đã từng cùng nhau lái loại máy bay “quan tài”. Khi đọc đến tên ký ở cuối thư, tôi thực không tin ở mắt mình. Nhưng đây đích thực là Misha, hiện nay cậu ấy đương phục vụ trong trung đoàn của chúng tôi. Cậu ấy đến trung đoàn sau hai ngày khi báo chí đăng tin tôi hy sinh.
“Sanya, cậu làm tớ hết cả hồn! – Cậu ta viết. – Cậu nên nhớ rằng điều làm cho tớ kinh ngạc không phải là bức thư của cậu gửi đến, tỏ rõ cậu vẫn còn sống: mà là cái tin cậu bị hy sinh vì máy bay bị cháy trước đây. Bởi vì một con người như cậu tớ tin là không thể hy sinh dễ dàng như thế. Và cậu thử nghĩ xem, bây giờ đây, tất cả mọi người, trong đó kể cả cậu, sẽ không có ai phản đối mẩu tin đã từng được đăng trên báo trước đây. Hồi ấy ai cũng viết một dòng chữ trên lựu đạn của mình “Trả thù cho Grigoriev”. Cho nên tuy đã chết rồi, cậu vẫn còn tiếp tục chiến đấu. Đồng chí đại tá có nói rằng sẽ đề nghị tặng huân chương Cờ đỏ cho cậu. Cậu hãy cho mình chúc mừng cậu, chúc cậu hạnh phúc, hạnh phúc mãi mãi”.
Đầu mùa xuân, tôi bắt đầu tập đi, hay nói một cách chính xác, tôi bò ra ngoài vườn hoa nhỏ của bệnh viện để chơi. Đến lúc này tôi mới được nhìn thấy bộ mặt của thành phố mà tôi đang sống ở đó hàng nửa năm qua. Tuy tôi chỉ nhìn thấy con đường rợp bóng cây bồ đề ở trước mặt, nhưng từ con đường này, hầu như tôi nhìn thấy được bộ mặt của toàn thành phố. Về sau, khi được phép ra phố chơi – lúc đầu tôi phải chống nạng, sau chỉ cần một chiếc gậy – tôi mới biết rằng những điều tôi hình dung trước đây rất gần với sự thật. Đây là một thành phố quang quẻ, yên tĩnh. Tất cả những đường phố tương đối đẹp đều như cất lên, vươn ra phía bờ sông M. Nhìn những cảnh này tôi lại nhớ đến những bờ đá bên dòng sông Peschinka và sông Tikhaya ở nơi quê nhà. Trước đây tôi có bay qua bầu trời của thành phố này đôi ba lần, nhưng chưa có dịp nào ghé lại.
Sau khi đoàn ca kịch và đoàn múa ba-lê của Leningrad sơ tán về đây, tôi có đến nhà hát xem họ biểu diễn. Khi tấm màn kéo lên, nhìn thấy các diễn viên nam nữ ăn mặc đẹp đẽ, ung dung và uyển chuyển trong các động tác biểu diễn, tuồng như không hề có chiến tranh xảy ra. Một cảm giác kỳ lạ xâm chiếm tâm hồn, khiến tôi nghĩ rằng thời gian đang chảy ngược lại.
Lẽ ra việc tôi xem hát không đáng viết ra trong sách này. Nhưng có một sự việc trong cuộc sống lại cứ móc xích vào nhau như những bánh xe trong lòng chiếc đồng hồ. Trong khi xem vở “Hồ thiên nga”, tôi chợt nhìn thấy Ilina Anya, vợ của một bạn đồng ngũ của tôi khi còn ở Viễn Đông. Tôi và Katya rất mến Ilina. Cả hai người đều rất điềm đạm, lịch sự, sống cởi mở, chồng cũng như vợ đều say mê sân khấu và thể thao, đặc biệt là môn quần vợt. Tôi còn nhớ mãi hình ảnh Ilina mặc chiếc áo liền váy màu trắng và trong tay cầm chiếc vợt. Nhưng cũng vì hai người quá lễ độ, đối với ai cũng thưa hay gửi giống như một đôi vợ chồng lý tưởng trong tiểu thuyết nên nhiều người không gần gũi và ít tin tưởng ở họ. Song tôi và Katya thì bao giờ cũng nghĩ rằng họ là những người hoàn toàn xứng đáng được hưởng hạnh phúc lý tưởng. Nhiều người bàn luận rằng Ilin[1] gặp vận đỏ. Quả thế thực, chuyện gì anh ta cũng gặp may. Cái vận đỏ ấy kéo dài mãi cho đến thời kỳ chiến tranh. Khi chiến tranh nổ ra, anh ta là trung tá, nhưng đến mùa xuân năm 1942 thì đã trở thành thiếu tướng rồi.
Khi gặp nhau trong rạp hát, tôi và Ilina đều hết sức mừng rỡ, hẹn sẽ gặp lại nhau vào ngày hôm sau ở nhà chị ấy. Chị là người chính gốc địa phương này. Sau khi chiến tranh bùng nổ, chồng chị đã đưa chị cùng đứa con gái về nhà mẹ.
Đây là một gia đình chưa hề bị tang tóc vì chiến tranh. Sau thời gian ra mặt trận và nằm bệnh viện, đây là lần đầu tiên tôi gặp một gia đình như thế. Chúng tôi ngồi trong phòng ăn. Trên bàn ăn trải một tấm khăn. Trên tường treo mấy bức phù điêu tinh vi. Mặt đi-văng phủ tấm dạ khâu tay. Rõ ràng là tất cả những thứ này đều còn lại từ trước chiến tranh và được giữ gìn, xếp đặt như cũ. Tôi nhìn người thiếu phụ hồn nhiên đôn hậu xinh đẹp ngồi trong gian phòng lộng lẫy này mà trong lòng nhói lên nỗi nhớ thương Katya của tôi.
- Nếu được trở về Leningrad, dù chỉ vài ba ngày, nhất định tôi cũng sẽ tìm được Katya. Tôi tin là cô ấy vẫn ở Leningrad. Nhưng nghiệt nỗi là họ không cho phép tôi. Dmitry đang ở Moskva phải không nhỉ?
- Vâng.
Người thiếu phụ hiểu ngay dụng ý của tôi khi tôi hỏi chồng chị.
- Anh ấy có thể giúp anh được đấy. Tôi sẽ viết thư cho anh ấy ngay bây giờ. Cần anh ấy làm cái gì nhỉ?
- Bảo anh ấy điều tôi về Moskva vậy, – tôi nói. – Nếu không thì Hội đồng giám định Y khoa sẽ ném tôi về hậu phương mất.
- Bao giờ hội đồng giám định y khoa đến đây?
- Tháng Năm.
- Thế thì tốt rồi. Tôi sẽ có đủ thì giờ nhận thư trả lời của Mitya. Việc này anh ấy sẽ phải liên hệ với ai?
- Với Phòng Cán bộ tổ chức quản lý phi công thuộc Hội đồng Nhân dân hải quân.
Người thiếu phụ ghi vào quyển sổ tay: “Phòng Cán bộ tổ chức…”
- Đáng tiếc là anh không thể bay trực tiếp từ đây đến Leningrad được. Trên tuyến đường này, trước có loại máy bay “Douglas” vẫn chở khách đi về. Nhưng hiện nay không còn nữa. Song có lẽ sắp tới sẽ có trở lại. Chỉ cần sân bay khô ráo là có thể khai trương. Lúc ấy thế nào tôi cũng sẽ tìm cách giúp anh.
Tôi cám ơn chị và tỏ ý rằng nếu được như vậy thì không còn gì hơn nữa. Song trên đời này lại có một quyển “điều lệnh” tai ác, mà trong đó quy định rõ ràng rằng tất cả các phi công sau một thời gian tương đối dài không lái, nay muốn lái lại thì phải qua kiểm tra và được cơ quan chuyên môn phê chuẩn.
Thế nhưng, thực hoàn toàn không ngờ, chỉ sau đó mấy ngày, tôi đã thoát ra khỏi sự ràng buộc cứng nhắc của quyển điều lệnh ấy, tha hồ muốn bay đi đâu thì bay.
❀ ❀ ❀
[1] Ilin là chồng của Ilina. – N.D.