Thuyền Trưởng Và Đại Úy

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 227 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 16 Xin Chào – Leningrad
Chương 16 Xin Chào – Leningrad

❊ ❊ ❊

Tháng Giêng năm 1942, tôi được đưa ra khỏi Leningrad. Cơ thể tôi bị suy nhược quá thể nên bác sĩ không cho phép đi tàu hỏa. Vì vậy chị Varya đã tìm đủ mọi cách để tôi được đi máy bay.

Trước ngày tôi lên đường một hôm, Quân y viện phân loại gọi điện thoại cho tôi, cho biết trung úy Skovorodnikov bị thương phải vào điều trị và nhờ họ gọi điện hỏi thăm tôi.

- Cô là chị của trung úy phải không?

- Vâng, – giọng tôi run lên. – Vết thương cậu ấy có nặng không?

- Xoàng thôi. Anh ấy mong được gặp cô lắm đấy.

Tôi định đi thăm cậu ấy, nhưng Varya cản lại không cho đi. Nếu không thì tôi cũng bị chết dọc đường rồi. Sức sống trên cơ thể tôi dường như chỉ còn thoi thóp, mà bệnh viện thì lại ở xa lắc, tận ngoài đảo Vasilievsky, tưởng chừng như ở tận đầu bên kia trái đất vậy! Varya hy vọng rằng trung úy Petya sẽ được chuyển sang điều trị ở Học viện Quân y, tất nhiên không phải về khoa Răng Hàm Mặt, vì vết thương của cậu ấy ở ngực và ở tay trái, mà là về khoa Ngoại. Nhưng được cái khoa này ở rất gần Varya. Chị ấy có hứa với tôi là hằng ngày sẽ đến thăm Petya, chăm sóc thường xuyên sức khỏe cậu ấy. Rõ ràng là lúc ấy Varya cũng không ngờ rằng lời hứa đó, về sau có tầm quan trọng biết chừng nào, chẳng những đối với Petya mà còn đối với bản thân chị ấy nữa.

Tôi mơ hồ nhớ ra một công trình kiến trúc bằng gỗ, hình ảnh của nó xa mờ như trong giấc mơ. Có phải là kho chứa máy móc không nhỉ? Tôi cũng như rất nhiều người khác, lặng lẽ ngồi chen chúc nhau trên sàn cái công trình kiến trúc này. Sau đó chúng tôi được dẫn vượt qua một khoảng đất ngập tuyết trắng xóa, lại qua một đường truông hẹp đến một nơi nào đó. Hai bên đường đầy những hố bom sâu hoắm. Rải rác khắp đó đây, hiện lên những mảnh xác máy bay bị tan nát. Dọc bên đường còn có những bức thành thấp màu đỏ chưa bị tuyết phủ kín, ngay lúc ấy tôi không đoán ra được rằng đó chính là thịt bò ướp từ các nơi vừa được máy bay chở tới cho Leningrad. Cuối cùng, chúng tôi lần theo bậc thang leo lên máy bay. Trong ruột máy bay trống không, lạnh buốt, hai bên sườn đặt hai dãy ghế dài. Một khẩu súng máy đã bỏ áo bọc đặt chắc trên giá thép.

Mọi thứ diễn ra là như vậy. Một phi công người thấp bé, mặt hằm hằm tức giận, mang giày bay bước vào khoang máy. Tiếng máy nổ dội lên. Cánh đồng rộng, không bao giờ quan tâm đến thế sự loang loáng lướt qua dưới cánh máy bay. Lúc này tôi đã tỉnh lại. Thôi xin chào Leningrad!

Hiện giờ tôi đang bay trên mặt hồ Ladoga. Chỉ vài ngày nữa, đoàn ô-tô đầu tiên sẽ chở dân Leningrad tản cư ra ngoài, đi về phía “đại lục”, rồi sau đó sẽ chở bánh mì và bột mì trở về Leningrad. Dọc vùng này có rất nhiều biển chỉ đường, có tấm biển đề là “con đường sống”. Mọi người đang làm việc hết mình ở trong tuyết.

Tôi bay bên trên tấm bản đồ chiến tranh vĩ đại. Người ngồi trước vòng lái bây giờ không phải là người phi công nhỏ bé hằm hằm giận dữ khi nãy nữa, mà là một “vị thần thời gian”.

Lúc nào thời gian cũng nhìn về phía trước, và trước mắt nó đang mở ra một bức tranh hùng vĩ, rộng lớn vô cùng. Từng đoàn tàu chở phụ tùng đã bị tháo tung ra của các nhà máy nối tiếp nhau chạy về phía đông. Mặc dù tuyết chưa hề tan, nhưng ánh mặt trời mùa đông đã bắt đầu có lúc le lói. Trên những thảo nguyên không một bóng người ấy, nơi xưa kia chỉ thấy loáng thoáng đôi chiếc xe trượt do ngựa kéo chạy qua hết ngôi lều này đến ngôi lều khác; nơi những người Kazakh chăn súc vật đã từng gảy đàn tung-bu-la, nay đã mọc lên những ngôi nhà cao lớn và mỗi ngày một được cao thêm. Đất nước của chúng ta bị kẻ thù đẩy lùi lại một bước, nay đang lấy hơi chuẩn bị lao mạnh về phía trước…

Khi được đưa vào phòng “Bệnh nhân Leningrad” ở Yaroslavl thì tôi thực sự chỉ còn thoi thóp, ở đây có một số người rất thư sinh, họ luôn cố hãm mình lại, không nghĩ đến chuyện ăn uống. Các bác sĩ khuyên họ chớ nên thắt lưng buộc bụng quá và dẫn họ vào kho để xem lương thực thực phẩm còn rất nhiều như thế nào.

Bà tôi tìm được tôi ngay trong bệnh viện. Bà đến đứng ở cửa phòng bệnh nhân lưỡng lự nhìn vào, bà nhìn tôi nhưng không nhận ra tôi nữa. Tôi cảm thấy buồn cười liền vẫy bà vào, trong lòng vừa vui vừa buồn thấm thía…

Tiến lên, hãy tiến lên! Hết ngày lại đêm. Hết đêm lại ngày!

Và rồi ngày đêm như nhập lại làm một, đến nỗi mặt trời không biết nên mọc lên vào lúc nào và ở đâu.

Một tên lính Đức nằm gục trong tuyết, để ló ra ngoài đôi chân cứng đờ. Tay hắn vốc đầy đất, miệng hắn ngậm đầy đất, chừng như vì tham lam ăn nhiều quá mà hắn bị tắt thở vậy.

Một người lính Nga vùng dậy, lao về đằng trước xung phong, trong tay anh lăm lăm quả lựu đạn, giữa lúc ấy một viên đạn đã xuyên qua tim anh. Anh tựa người vào một gốc tùng và sau đó bị chết cóng trong rét buốt khủng khiếp. Anh kiêu hãnh ngẩng cao đầu, lộ rõ vẻ hăng hái quên mình do lòng hăng say chiến đấu tạo nên. Anh đứng đó như một bức tượng đắp bằng tuyết trắng.

Ấy là mùa đông năm 1941.

Nhưng đây cũng là một mùa đông đáng ghi nhớ. Trên đất nước của Liên bang Xô Viết rộng lớn, sức mạnh mới bắt đầu trỗi dậy, như một luồng gió thổi vào phòng điều dưỡng “Leningrad”. Trái tim mọi người lại ngùn ngụt sức sống, khiến cho ta phải tự oán giận mình, oán giận cái cơ thể yếu nhược chẳng làm gì được của mình. Những tình cảm đó giày vò và khích động tâm hồn chúng tôi rất nhiều…

Đến tháng Ba tôi được ra viện. Bà tôi dẫn tôi ra ga tàu hỏa. Dọc hai bên đường, tuyết tan chảy thành rãnh ánh lên dưới ánh nắng mặt trời. Bầu không khí trong lành mới mẻ, dòng người và xe cộ chảy trên đường phố… Tất cả những cái đó làm cho tôi choáng ngợp lảo đảo. Chúng tôi đi về làng Gniloy Yar.

Trước đây tôi cứ nghĩ rằng trẻ con sống trong cái làng không tên tuổi và bất tiện này chắc hẳn là không lấy gì làm tốt lắm. Nhưng bây giờ đến đây tôi mới hay rằng ý nghĩ ấy là không có căn cứ chút nào. Các cháu sống ở đây rất thoải mái. Bé Petya lớn hẳn lên và trông chắc nịch đáo để, giống hệt như con nhà nông vậy. Đỉnh mũi cháu bị bóc một lớp da vì nắng hun. Trên đôi chân đen sạm của cháu đã mọc lên một lớp lông tơ màu vàng óng.

Khi tôi hôn cháu trước mặt các cháu khác, cháu đã biết ngượng. Cháu đang mải mê chơi tem. Và cháu đã biết coi khinh bạn Vitka Kotelkov vì bạn hay khóc và động một tí là đòi “mách” mẹ. Cháu thường xuyên liên lạc với bố bằng thư và trong bức thư nào bố cũng thay mặt cho một người nào đó gọi là dì Varya hỏi thăm và chúc sức khỏe cháu.

- Dì ấy nhiều tuổi lắm phải không ạ?

- Không, còn trẻ thôi.

- Thế dì ấy hỏi thăm cháu để làm gì ạ? Có phải là để làm quen với cháu không ạ?

- Chắc là như thế đấy…

Nghĩa trang của làng nằm trên sườn đồi cao. Những ngày trời trong, từ xa có thể nhìn thấy các giá chữ thập và ngôi sao vàng ở trên đó. Chúng tôi dạo chơi trên vạt cỏ nằm giữa nghĩa trang với đường đi. Đằng sau vạt cỏ ấy là những cánh đồng cỏ mênh mông một màu xanh chỗ đậm chỗ nhạt.

- Khi chết, mẹ cháu cũng còn rất trẻ phải không ạ?

- Phải, mẹ cháu còn trẻ lắm.

Cháu lại bứt đọt cỏ, một con rùa bò qua rãnh nước rồi biến mất. Cháu đang nghĩ gì nhỉ?

- Bác Sanya có giống mẹ cháu không ạ?

- Giống như đúc ấy.

Cháu nhìn tôi vẻ rụt rè, cháu mân mê bàn tay tôi rồi hôn lên đấy. Tôi òa khóc, nước mắt chảy xuống đỉnh mũi bị bóc da vì nắng hun của cháu. Hai bác cháu ôm nhau ngồi im lặng hồi lâu trên đám cỏ dại. Thần chết độc ác, tàn bạo đã cướp mất sinh mạng của Sasha như đang trố mắt ngồi quanh đâu đây.

Tiến lên, hãy tiến lên! Chớ có quay đầu lại, cũng đừng luyến tiếc quá khứ mà chùn bước!…

Ấy là mùa hè năm 1942. Trại trẻ của Sở bảo tàng nghệ thuật chuyển về tỉnh Novosibirsk. Tôi trở về thành phố Moskva buồn lặng, trên các nóc nhà đều có đặt pháo cao xạ và giữa các quảng trường lại vẽ đầy những nóc nhà giả.

Qua một năm chiến tranh, đường tàu điện ngầm vẫn hết sức sạch sẽ, mới mẻ và không có chút gì thay đổi. Trên đại lộ Gogol, vẫn thấy các toán trẻ em đi dạo chơi cùng các bà bảo mẫu. Trong ngõ Sivtsev Vrazhek, có hai ngôi nhà vừa được sửa chữa, từ trên tầng cao có thể nhìn xuống thấy những ngôi nhà chung quanh đã mục nát, song đó vẫn là cái ngõ hẹp quanh co quen thuộc từ lâu đời của tôi. Chiếc cầu thang bẩn thỉu quen thuộc hiện ra trước mắt tôi. Dòng chữ viết trên tấm biển bằng đồng: “Giáo sư Valentin Nikolaevich Zhukov”. A ha! Giáo sư, anh ấy trở thành giáo sư rồi! Một tin hoàn toàn mới mẻ đây. Tôi ấn nút chuông rồi gõ cửa. Cánh cửa mở ra. Một sĩ quan có râu, đeo kính hiện ra trước khung cửa.

Tôi nhận ra anh ngay. Không phải anh ta thì còn ai mà cứ nhìn tôi bằng cái vẻ rụt rè khách sáo thế kia? Tôi hỏi anh:

- Giáo sư Valentin Nikolaevich Zhukov ở đây phải không ạ?

Không phải anh ấy thì còn ai mà cứ nghiêng nghiêng cái đầu và chớp mắt lia lịa thế kia? Không phải anh ấy thì còn ai mà lại dám hét ầm lên, chạy bổ về phía tôi, vụng về hôn lên tai tôi và giẫm vào chân làm tôi đau điếng cả người như thế?

- Katya, ôi Katya! Mừng quá đi mất, thật không ngờ chị lại đến tìm tôi!

Anh đỡ lấy va-li của tôi, hai chúng tôi cùng đi vào “nhà bếp chung” trước kia đã từng là phòng làm việc, phòng ăn kiêm phòng nuôi trẻ. Trời đất! Căn nhà bếp có đầy đủ tiện nghi đến thế kia mà nay đã trở nên thế này! Trên bàn đang để một chiếc làn, trong đó đựng một bát cháo, sàn nhà lâu nay không được lau, cửa sổ lõng thõng những mảnh giấy xanh rách nát.

Valya bắt chặt tay tôi.

- Tôi biết cả rồi, biết hết cả rồi, – các thớ thịt trên mặt anh khẽ động đậy, đôi mắt sau lần kính trắng khẽ nheo lại. – Sanya thân yêu… nhưng dù sao vẫn còn hy vọng. Bác Ivan Pavlych có đọc thư của chị cho tôi nghe. Tôi có nói chuyện với một đồng chí thượng tá, đồng chí ấy cũng cho biết rằng có rất nhiều binh sĩ của ta bị thất lạc nay đã trở về.

Tôi đáp: “Vâng, có rất nhiều binh sĩ như thế” và anh ôm chầm lấy tôi.

- Tôi sẽ không để cho chị đi đâu cả, – anh nói giọng quả quyết. – Ở đây có phòng trống. Chị ở lại đây sẽ cảm thấy dễ chịu ngay. Nghe bác Ivan Pavlych nói chị sẽ về nên tôi đã chuẩn bị sẵn rồi. Bây giờ phải lau sàn nhà một chút nhỉ, – anh hỏi giọng lưỡng lự.

Tôi không nén được cười. Anh ngồi trên giường cũng bật cười theo.

- Thôi, bây giờ không có thì giờ đâu. Tôi sẽ không thường xuyên ở đây đâu, phải dành nhiều thời gian ra mặt trận chứ. Mùa đông mà được ở đây thì thực là tuyệt lắm. Ở Sở nghiên cứu lạnh quá nên tôi phải chuyển các vật thí nghiệm về đây.

Cố nhiên là Valya không thể chuyển hết tất cả các con vật hiện có về nhà, mà chỉ chuyển một số giống quý. Cũng lạ, những giống chuột bạch hiếm có của nước ngoài trước nay không chịu sinh đẻ, nhưng sau khi được chuyển về nhà Valya ít lâu thì chúng liền sinh con đẻ cái. Thế mới biết môi trường sống ảnh hưởng đến chúng như thế nào! Các thứ dụng cụ gia đình đều bị Valya đốt phá, vứt đi hết. Thực ra làm như thế cũng tốt thôi, nếu không để Kira trông thấy những thứ của quý ấy bị hư hỏng, gãy nát, cô ấy sẽ giận lắm.

- Nhưng trong số đồ dùng cần thiết, tôi chỉ đốt có mỗi chiếc bàn trong nhà ăn thôi, – Valya nói giọng đắn đo. – Nếu có thể nói rằng những thứ chủ yếu đã được giữ lại cả. Đấy chị xem, chiếc ghế này, chiếc tủ con được Kira yêu thích nhất kia, và cả cái chốt cửa kia nữa…

Đến mùa xuân các con vật thí nghiệm lại được chuyển trở về Sở nghiên cứu. Lúc này Valya được phong hàm đại úy và về công tác tại Tổng cục quân y. Tôi hỏi anh rằng ở mặt trận có ai cần đến anh và đàn vật thí nghiệm của anh không. Anh trả lời một cách nghiêm túc:

- Đấy là bí mật quân sự.

Nói tóm lại cái gì cũng tốt đẹp cả. Chỉ có một việc duy nhất không được như ý là hồi mùa đông năm ngoái anh đã dùng điện vượt quá “mức nguy hiểm”, bị công ty quản lý điện cử người đến cắt điện, nên mãi đến bây giờ vẫn cứ phải chịu tối.

Nhưng có điều may là lúc này ngày rất dài, ban đêm Valya làm việc nhờ một chiếc đèn cồn.

- Có thể nấu nước bằng chiếc đèn cồn này được không nhỉ?

Valya ngơ ngác nhìn tôi.

- Trời ơi, thế mà tôi quên biến đi mất. Chị đi đường xa, mà tôi quên pha nước chè cho chị uống.

- Không, tôi cần rất nhiều nước ấm cơ, – tôi nói, – cần nhiều kia, anh có thùng không?

Khi tôi cởi giày, vén váy bắt đầu cầm bao tải lau sàn nhà thì Valya cứ ngồi đờ người ra và thở rất ghê.

Anh ta lấy tay vuốt vuốt sống mũi, ngạc nhiên nhìn tôi dồn hàng đống vỏ khoai tây từ dưới gầm giường ra, nhìn tôi xé những mảnh giấy xanh rách nát lòng thòng bên cửa sổ, rồi lại nhìn tôi dồn tất cả chúng lại thành một đống tướng gồm có cả vụn bánh mì đã bị thiu thối ngay giữa nhà.

Tôi vén váy, đứng chân không trên bàn, dùng vải ướt lau mạng nhện trên tường. Giữa lúc đó, có tiếng gõ cửa. Valya vội xách thùng nước bẩn đầy ắp chạy ra buồng trước.

Tôi nghe tiếng anh nói khẽ với một người nào đó: “Khá lắm, chị ấy biết tự kiềm chế nên mọi việc đều ổn cả”. Những lời sau đó tôi không nghe rõ nữa.

Một bóng người cao lớn lướt qua trước cửa. Ông lấy mũ xuống, rút bao tay ra rồi bước đến trước gương, lấy lược chải bộ ria đã bạc. Người khách ấy từ cửa ngoài bước vào, rồi ông dừng lại sững sờ nhìn tôi.

- Ôi, bác Ivan Pavlych!

Lâu nay tôi vẫn thường xuyên gửi thư cho bác, nên việc bác đến nhà Valya để gặp tôi là việc có chủ định. Song riêng tôi thì tôi vẫn cảm thấy hết sức đột ngột. Cuộc gặp gỡ như diễn ra trong giấc chiêm bao vậy. Hai bác cháu ôm chầm lấy nhau, nghẹn ngào. Hai mắt rưng rưng, bác đưa tay vào túi rút khăn tay.

- Sao không đến thẳng chỗ bác? – Giọng bác có phần giận dỗi. Bác cầm khăn không ngớt lau nước mắt và lau râu.

- Bác Ivan Pavlych ạ, cháu định hôm nay đến đằng bác đây ạ.

Tôi đứng sau cánh cửa tủ thay áo. Chúng tôi nói chuyện với nhau liên hồi kỳ trận. Tôi kể về chuyện tôi đáp máy bay đến đây, về bệnh tình của tôi, về tình hình Leningrad bị phong tỏa, về cuộc tiến công của quân đội chúng ta ở ngoại ô Moskva… Bây giờ tôi mới chợt nhận ra bác Ivan Pavlych đã già đi nhiều. Trên vầng trán rộng của bác nổi lên rất nhiều nếp nhăn và trên mặt có nhiều nốt đồi mồi mà những người có tuổi thường có. Song bác vẫn giữ được một vẻ ngoài hết sức đường hoàng nhanh nhẹn.

Lần cuối cùng hai bác cháu gặp nhau là vào năm 1940. Nhưng sao tôi cảm thấy ngày ấy xa xôi đến thế! Hôm ấy, tôi và Sanya đột nhiên rất nhớ bác. Thế là hai đứa liền mang trứng và rượu tìm đến ngôi nhà độc thân lạnh lẽo của bác. Hôm ấy bác rất vui, bác phấn chấn uống rượu nho và cùng Sanya say sưa nhắc tới Grisha Faber cùng với vở bi kịch “Thời gian đã đến”. Trong vở kịch này, Grisha Faber đóng vai chính, đứa con nuôi của một người Do Thái. Chúng tôi ngồi quanh lò sưởi đến tận khuya. Đấy là một thời đã qua, khác hẳn với bây giờ.

- Trông bác già lắm phải không? – Thấy tôi cứ nhìn bác chăm chăm, bác liền hỏi.

- Ai cũng già hơn trước cả, bác Ivan Pavlych ạ, bác trông cháu thế nào?

Bác im lặng một lúc lâu chẳng nói chẳng rằng. Mãi sau bác mới nói, giọng buồn buồn:

- Cháu ấy à, Katya, cháu càng lớn lên càng giống hệt mẹ cháu…

Lúc này trời đã tối. Valya thắp chiếc đèn cồn của anh lên nhưng liền bị chúng tôi thổi tắt ngay. Ánh hoàng hôn chan màu sáng mát dịu từ ngoài ngõ vào nhà. Được ngồi trước cửa sổ mở toang, không che màn phòng không mà nhìn ra ngoài vào lúc này thì không còn gì thú vị bằng! Ngoài ngõ vẫn còn sáng nhờ nhờ, nhưng trong nhà Valya thì đã tối hẳn. Tôi không còn nhìn rõ bác Ivan Pavlych nữa mà chỉ trông thấy chòm râu bạc của bác. Tôi cũng không nhìn rõ Valya nữa mà chỉ trông thấy ánh kính đeo mắt loang loáng luôn luôn động đậy của anh. Trong giây phút im lặng này, tôi cảm thấy rất mãnh liệt rằng mình đang sống giữa những con người chân chính, trung thực và sống chết có nhau. Tôi tự nhủ: “Thời kỳ gian khổ nhất chắc đã qua rồi, nếu không sao những người này thương yêu mình đến thế? Nếu không, sao họ lại có thể mãi mãi sống bên cạnh mình, làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn?”

ồ chôn Hitler”. Đội lao động này hầu như toàn là phụ nữ: cô đánh máy, cô sửa bông, cô làm biên tập. Điều làm tôi ngạc nhiên là hầu hết các đội viên đều ăn mặc rất tươm tất. Tôi tò mò hỏi một cô biên tập khá xinh đẹp có làn da bánh mật tại s
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Veniamin Kaverin

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.