Rozaliya Naumovna kê giường của Romashov vào trong nhà ăn. Khi chúng tôi đi ra khỏi nhà thì anh ta vẫn còn đang ngủ say. Chiếc chăn bị tụt sang một bên. Anh ta mặc bộ quần lót sạch sẽ. Varya đi qua, cúi xuống kéo chăn đắp lại cho anh ta bằng một động tác quen thuộc. Anh ta cắn chặt răng, thở phì phò, hai mắt mở trừng trừng để lộ hai lòng mắt trắng dã. Giờ đây cái gã Romashov này không thể nào lẫn lộn với bất cứ một Romashov nào khác trên trái đất!
- Có thực hắn ta tồi tệ nhất trên đời này không? – Varya hỏi khẽ.
- Đúng thế.
- Nhưng mình thấy hắn ta có gì đâu.
- Chị sắp điên rồi đấy!
- Thật thà mà nói, mình thấy lão ta cũng chẳng có gì. Cô có biết tại sao lão ta lại ngủ như thế không? Chỉ vì cái mặt của lão ta ngắn quá đấy thôi.
Tại sao tôi lại cứ nghĩ rằng hễ tối đến là Romashov nên tan biến đi như một ảo ảnh? Nhưng trong thực tế thì anh ta vẫn cứ tồn tại như thường. Tôi gọi điện thoại về nhà, người nghe điện thoại không phải là bà Rozaliya Naumovna mà lại là anh ta.
- Katya, tôi rất cần nói chuyện với cô, – anh ta nói bằng một giọng tôn kính và chắc nịch. – Lúc nào cô sẽ về nhà? Nếu cô không về thì tôi xin đến chỗ cô, được chứ?
- Anh đến đây.
- Tôi e rằng ở bệnh viện không tiện lắm.
- Thế thì thôi vậy. Nhưng phải đến mấy hôm nữa tôi mới về nhà được.
Anh ta im lặng một lúc lâu.
- Tôi biết là cô chẳng muốn gặp mặt tôi chút nào. Nhưng việc xảy ra đã lâu rồi… Nguyên nhân cô không muốn gặp tôi…
- Không, chưa lâu lắm đâu…
- Cô muốn nói việc tôi nhờ bác sĩ Ivan Pavlov đưa giúp bức thư đến phải không? – Anh ta sôi nổi hỏi. – Cô nhận được bức thư ấy rồi à?
Tôi không trả lời.
- Hãy tha lỗi cho tôi.
Lại một hồi im lặng.
- Chúng ta gặp nhau ở đây không phải ngẫu nhiên đâu. Tôi đến đây là chỉ cốt để tìm cô thôi. Khi đi qua nhà hầm, vì nghe có người thét lên rằng trong đó có các em nhỏ nên tôi lao vào và bị nạn. Nhưng cái đó chẳng có quan hệ gì. Tôi cần được gặp cô vì việc tôi muốn nói có liên quan đến cô.
- Việc gì?
- Một việc rất quan trọng. Tôi muốn nói lại với cô toàn bộ tình hình.
Tim tôi rộn lên, tựa như tôi không biết ai đang nói chuyện với tôi vậy.
- Anh nói đi.
Lần này anh ta im lặng rất lâu, đến nỗi tý nữa thì tôi đặt ống nghe xuống.
- Thôi, không cần nói nữa. Tôi sẽ đi đây. Sau này cô chẳng bao giờ trông thấy tôi nữa đâu. Tôi thề như vậy đấy.
Anh ta còn lẩm bẩm mấy câu gì nữa mà tôi không nghe rõ. Tôi mường tượng thấy anh ta đứng đó, hai hàm răng nghiến chặt, mắt nhắm nghiền, tay cầm ống nói mà thở hổn hển. Nhưng những lời nói đầy vẻ kiên quyết vừa rồi của anh ta khiến tôi tin; nên tôi báo cho anh ta biết rằng tôi sẽ về ngay rồi đặt ống nói lên máy.
Tôi dùng chìa khóa riêng mở cửa nhà, đi thẳng đến phòng ăn, tôi nhìn thấy trên bàn có phó-mát và bơ. Thực khó có thể tin được rằng có thể có phó-mát và bơ thật sự, phó-mát Hà Lan, đỏ rực, chính cống và bơ cũng chính cống vào lúc này. Thậm chí còn có cả kem[1] để trong một cái đĩa tráng men to. Một chiếc bánh mì rất hiếm thấy, không sản xuất ở Leningrad được cắt ra thành nhiều miếng. Khi tôi bước vào, Romashov đang dùng dao nhà bếp để mở đồ hộp. Trong cái ba-lô để trên mặt bàn còn thò ra một chai…
Bà Rozaliya Naumovna từ trong buồng ngủ đi ra, đầu tóc rối bù nhưng nét mặt tràn ngập hân hoan.
- Katya, chị xem thế nào, – bà hỏi khẽ. – Tôi đi gọi bà Berta nhé?
- Tôi không biết.
- Ôi lạy Chúa, cô giận rồi sao? Chẳng qua là tôi muốn hỏi…
- Misha, – tôi nói lớn, – bà Rozaliya Naumovna muốn nhờ tôi hỏi là có được mời bà chị của bà ấy đến cùng ăn không?
- Sao lại không? Bà ấy ở đâu để tôi đi mời cho.
- E bà ấy sẽ sợ anh đấy.
Anh ta cười gượng.
- Cứ mời đi, cứ mời đi.
Bữa cơm tối hôm ấy thực là vui. Bà Rozaliya Naumovna đáng thương khi quệt bơ vào bánh mì hai tay cứ run bắn lên. Bà ngồi ăn với vẻ nghiêm trang và sùng kính như tín đồ tôn giáo. Bà Berta, chị của bà Rozaliya Naumovna với tấm thân thấp bé, tóc bạc trắng, mũi nhọn, ánh mắt dịu dàng, mỗi khi ăn một tiếng bánh mì lại lầm rầm khấn mấy câu. Romashov ngồi dằm xé thức ăn liền tay, vừa ăn vừa uống rượu.
Lúc này tôi mới ngắm nghía anh ta kỹ một chút!
Đã có đến mấy năm chúng tôi không gặp nhau. Trước kia anh ta khá béo tốt. Trên bộ mặt và trong dáng đứng của anh ta đương bắt đầu hình thành những nét đặc biệt của kẻ phát phì. Cũng giống như tất cả bọn người ăn chơi, trơ tráo, lúc nào anh ta cũng mặc những bộ quần áo hết sức sặc sỡ, khác kiểu.
Bây giờ anh ta gầy tọp đi, hai lưỡng quyền nhô hẳn lên. Anh ta mặc áo sĩ quan có đính quân hàm mang hai gạch đỏ, bên ngoài thắt thắt lưng da. Chẳng lẽ anh ta đã lên đến chức thiếu tá rồi ư? Trong đôi mắt luôn luôn mở to của anh ta như có một cái gì khác lạ, phải chăng đó là một sự mệt mỏi?
- Tôi thay đổi nhiều lắm rồi phải không? – Anh ta thấy tôi ngắm nghía mãi, bèn hỏi. – Chiến tranh đã làm tôi thay đổi nhiều. Tâm hồn, cơ thể… tất tần tật!
Nếu đích thực mọi thứ trong con người anh ta đã thay đổi thì chắc chắn là anh ta đã không đến đây để thanh minh với tôi nữa.
- Misha, anh lấy những thứ ngon lành này ở đâu ra thế? Ăn trộm à?
Rõ ràng là anh ta không nghe rõ câu hỏi cuối cùng của tôi.
- Xin mời, xin mời! Tôi còn có thể kiếm được nữa. Ở đây cái gì cũng có thể kiếm được. Chỉ vì các vị không biết cửa mà vào đấy thôi.
- Thật thế ư?
- Cố nhiên rồi. Chỉ cần có người là được.
Tôi không hiểu hết ý nghĩa những lời anh ta nói, nhưng tôi bất giác đặt vội miếng bánh vừa quết bơ xuống đĩa.
- Anh đến Leningrad lâu chưa?
- Hôm nay là ngày thứ ba, ở Moskva tôi được điều đến công tác trong một cửa hàng ăn của quân nhân. Thoạt tiên tôi ở mặt trận phía nam. Có một lần bị bọn Đức vây chặt, may mà phá được vòng vây chạy thoát ra ngoài.
Đấy là sự thực mà tôi rất ghê sợ. Tôi ngồi nghe anh ta kể với cái cảm giác đã quên lãng từ lâu là bao giờ anh ta cũng phục tùng mọi đòi hỏi của tôi.
- Chúng tôi rút về hướng Kiev. Lúc ấy chúng tôi không được biết là Kiev đã bị vỡ tung mặt trận rồi, – anh ta nói. – Chúng tôi nghĩ bụng, có quỷ mới biết được là bọn Đức ở đâu, nào ngờ chúng nằm ngay bên cạnh vùng Khristinovka. Chúng tôi đã chạm trán với bọn chúng ở một nơi cách mặt trận chừng hai trăm ki-lô-mét. Thực là thảm hại, – anh ta dừng lại cười rồi nói thêm. – Nhưng thôi, những chuyện ấy để sau bữa ăn hẵng kể. Bây giờ tôi muốn báo cho cô biết rằng tôi có gặp Nikolai Antonovich ở Moskva. Thực lạ, ông ta chẳng đi đâu cả.
- Thực ư? – Tôi hỏi giọng lơ đãng.
Rồi chúng tôi im lặng một lúc.
- Misha, hình như anh có câu chuyện gì định nói với tôi phải không? Xin mời anh vào phòng tôi vậy.
Anh ta đứng lên, vặn lưng, ngáp dài một cái rồi sửa lại chiếc thắt lưng da.
- Được, thì đi. Cho phép tôi mang rượu theo chứ?
- Tùy anh.
- Loại nào nhỉ?
- Tùy anh. Tôi không uống.
Anh ta cầm chai rượu và chiếc cốc để trên bàn, xin phép bà Rozaliya Naumovna rồi đi theo sau tôi. Chúng tôi cùng ngồi xuống. Tôi ngồi vào đi-văng, còn anh ta ngồi bên cạnh bàn. Đấy là chiếc bàn riêng của Sasha trước kia. Trên bàn còn đặt một chiếc cốc cao chân, trong đó có cắm chiếc bút vẽ của cô ấy. Từ trước tới nay không ai chạm đến.
- Câu chuyện này nói ra thì dài lắm…
Anh ta có vẻ rất xúc động. Tôi thì lại hết sức bình tĩnh.
- Dài lắm đấy. Cô có hút thuốc không?
- Không.
- Nhiều bà nhiều cô trong thời kỳ chiến tranh này đều đâm ra nghiện thuốc lá cả.
- Đúng thế. Ở bệnh viện người ta đang chờ tôi đấy. Tôi dành cho anh hai chục phút để nói.
- Được, – Romashov chậm rãi nói. – Cô biết đấy, tôi rời khỏi mặt trận Leningrad hồi tháng Tám. Thực ra lúc ấy tôi chưa muốn đi vì còn muốn gặp mặt cô một lần nữa. Nhưng mệnh lệnh là mệnh lệnh!
Sanya thường hay dùng câu này nên khi nghe câu ấy phát ra từ mồm Romashov, tôi cảm thấy khó chịu.
- Tôi không định kể tỉ mỉ tôi đã đến mặt trận phía nam như thế nào. Chúng tôi chịu trách nhiệm bảo vệ vùng Kiev, nhưng sau ở đó bị vỡ mặt trận.
Anh ta dùng hai chữ “chúng tôi”.
- Tại Khristinovka, tôi gặp một đoàn cứu thương của quân đội đi qua Kiev, liền xin đi nhờ đến Uman. Đoàn tàu gồm mấy toa thông thường có thiết bị sưởi ấm, nhiều thương binh phải nằm trên sàn tàu, trong đó có nhiều thương binh nặng. Đoàn tàu chạy liền trong hai, ba, bốn rồi năm ngày giữa bụi, khói và hơi nóng không sao chịu nổi.
Tiếng bà Berta rì rầm tụng kinh ở phòng bên cạnh vọng sang.
Romashov khó chịu, đứng dậy đóng cửa phòng lại.
- Trước khi lên tàu hai ngày tôi bị một vết thương ở bên trong. Vết thương nhẹ thôi, chỉ thỉnh thoảng mới cảm thấy đau nhói ở phía trái cơ thể. Cả vùng thịt ấy đã biến thành một màu nâu xám xịt, – Romashov gượng cười nói tiếp. – Đến bây giờ nó cũng vẫn như thế thôi.
Tối hôm nọ, chị Varya thay quần áo cho Romashov, chị có nói rằng hông bên trái của anh ta bị thương. Có lẽ đó là vết thương mà anh ta gọi là đã biến thành một màu nâu xám xịt.
- Tôi buộc phải ra tay gánh vác những công việc có tính chất sự vụ trên đoàn tàu chở thương binh ấy. Trước hết phải lo cho tốt khâu ăn uống. Tôi có thể nói một cách tự hào rằng, trong suốt tuần lễ ấy – chúng tôi đi mất tất cả là hai tuần lễ – không có một người nào bị chết vì đói. Nhưng câu chuyện hôm nay không phải để nói về tôi.
- Thế anh định nói ai?
- Cùng đi với chúng tôi có hai cô gái, họ là sinh viên trường Đại học Sư phạm ở Stanislav. Hai cô mang cơm, thay băng cho các thương binh và làm tất cả mọi việc có thể làm được. Một lần, một trong hai cô rủ tôi đến thăm một phi công bị thương đang nằm ở toa trước.
Romashov rót rượu vào cốc.
- Tôi hỏi cô gái có xảy ra việc gì không – “Anh định nói chuyện với anh ấy chứ?” – “Nói chuyện gì bây giờ nhỉ?” – “Anh ấy muốn tự sát, lúc nào cũng khóc”. Thế là chúng tôi tìm đến chỗ người phi công nọ. Anh ta đang ngồi gục đầu xuống ngực, chân băng qua loa. Các cô gái ngồi vây quanh anh ta.
Romashov ngừng lại một lúc.
- Katya, cô không uống một chút à? – Anh ta hỏi giọng khản đặc. – Tôi uống một mình mãi, nếu say thì làm thế nào?
- Thì tôi sẽ tống anh ra khỏi nhà ngay. Thôi hãy kể nốt câu chuyện của anh đi.
Anh ta uống từng ngụm hết cốc rượu rồi đứng dậy đi một vòng rồi lại ngồi xuống. Tôi cũng tợp vài hớp, trong bụng nghĩ: phi công trên thế giới này nhiều biết bao nhiêu mà kể!
❀ ❀ ❀
[1] Cũng là một loại bơ, làm bằng váng sữa. – N.D.