Thuyền Trưởng Và Đại Úy

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 227 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1 Năm Năm
Chương 1 Năm Năm

❊ ❊ ❊

Tôi không còn nhớ rõ đã đọc bài thơ ấy ở đâu, bài thơ so sánh năm tháng như chiếc đèn lồng treo trên “sợi dây thời gian”.

Có những chiếc đèn cháy rất sáng, tỏa ánh huy hoàng ra khắp chung quanh, nhưng cũng còn những chiếc đèn chỉ leo lét hun khói trong bóng tối.

Chúng tôi đã sống qua ở Krym và ở Viễn Đông. Tôi là vợ một phi công nên có rất nhiều bạn mới. Chị em cũng toàn là vợ của các phi công ở Krym và ở Viễn Đông. Mỗi khi trong đơn vị có máy bay mới, tôi cũng hồi hộp chẳng khác gì chị em. Và mỗi lần Sanya ra đi, đến giờ mà chưa trở về thì cũng như chị em, tôi luôn tay gọi điện thoại đến Ban tham mưu, khiến cho nhân viên trực ban đến phát bẳn lên. Tôi cũng như tất cả chị em đều nghĩ rằng sẽ không bao giờ mình có thể quen với nghề nghiệp của chồng. Nhưng rồi sau đó cũng như tất cả chị em, tôi quen dần với nghề nghiệp của Sanya. Song tôi vẫn không rời bỏ công việc địa chất của tôi (điều này hầu như không thể nào tồn tại được).

Tuy bà giáo già của tôi cho đến bây giờ vẫn còn gọi tôi là “bé con”, nói một cách vũ đoán rằng “nếu tôi chưa lấy chồng thì thế nào tôi cũng đoạt được bằng tiến sĩ từ lâu rồi”. Nhưng đến cuối mùa thu năm 1937, khi tôi mang bảng thành tích của tôi từ Viễn Đông về Moskva thì bà đành phải rút lui ý kiến cũ. Công tác của chúng tôi lúc này là khảo sát từ tính bằng máy bay. Từ trên máy bay chúng tôi đi tìm mỏ sắt.

Bây giờ bác Ivan Pavlych không thể nói rằng: “Cô không hiểu cậu ấy” nữa rồi. Từ nơi sâu kín của tâm tư Sanya, tôi nhìn thấy ánh sao rọi sáng thời niên thiếu của anh. Nó gần giống như một ngôi nhà bỏ hoang, không người trông coi, một luồng ánh sáng thần bí từ trong đó rọi qua cửa sổ ra ngoài.

- Anh Sanya, bây giờ thì em đã hiểu anh là một con người như thế nào rồi.

Chúng tôi ngồi trên toa tàu liên vận đi từ Vladivostok đến Moskva. Đây là việc khó tưởng tượng được, song đúng sự thực là chúng tôi đã ở chung với nhau trong một toa tàu những mười ngày mười đêm liền. Chúng tôi cùng ăn sáng, ăn trưa và ăn tối với nhau bên một bàn ăn. Ban ngày lúc nào chúng tôi cũng có thể nhìn thấy nhau. Nhiều phụ nữ không cảm thấy kỳ lạ trước một hạnh phúc tràn trề như thế.

- Anh là người như thế nào nhỉ?

- Anh là một nhà đi du lịch.

- Đúng thế, từ Vladivostok đi Irkutsk, cất cánh từ sân bay Primorsky chỉ mất bảy giờ bốn mươi tư phút.

- Cái đó chẳng có nghĩa lý gì. Dù sao người ta cũng không nhả anh ra đâu. Chẳng gì anh cũng là một nhà du lịch chính cống, kể cả mặt tài năng lẫn mặt yêu thích. Chỉ có nhà du hành mới có thể hỏi cá mấy tuổi trong khi đang ăn cá.

Anh bật cười.

- Chỉ có nhà du hành như anh mới ngượng ngùng khi được người ta tặng hoa. Chỉ có nhà du hành như anh mới sợ giấy tờ hành chính. Chỉ có nhà du hành như anh mới lúc nào cũng huýt sáo mồm và buổi sáng nào cũng đem bài thể dục gồm hai mươi bốn động tác ra hành hạ vợ.

- Còn thiếu môn tắm nước lạnh đấy.

- Đúng thế. Chỉ có nhà du hành mới trẻ lâu.

- Nhưng anh đã già rồi.

- Anh có biết không, em luôn luôn cảm thấy rằng mỗi người đều có đặc điểm tuổi tác riêng. Có người vừa đẻ ra đã như người bốn mươi. Nhưng lại cũng có người suốt đời lúc nào cũng như chàng thanh niên mười chín tuổi. Đồng chí Ch. là người thuộc loại ấy. Và anh cũng vậy. Nói chung lại thì hầu hết các phi công đều như vậy. Đặc biệt là những phi công thích bay qua trùng dương.

- Em ghép anh vào loại phi công thích bay qua đại dương phải không?

- Đúng thế. Sau khi vượt qua biển cả trở về, anh không bỏ rơi em chứ?

- Không bao giờ. Nhưng anh chắc là khi bay đến giữa đường anh đã bị người ta triệu về.

Tôi im lặng. “Anh đã bị người ta triệu về” – anh đã nói đến một khía cạnh khác hẳn. Rõ ràng là anh muốn ám chỉ đến việc anh đã tốn rất nhiều công sức thu thập các tin tức về bố tôi rải rác từ Ensk đến Taymyr. Nhưng giữa chừng lại bị lọt vào tay người khác. Ở Hội địa lý học và ở Viện nghiên cứu Bắc cực đều có treo ảnh thuyền trưởng Tatarinov. Nhiều nhà thơ viết bài ca ngợi ông, trong đó số lớn viết chẳng hay lắm. Trong từ điển Đại bách khoa toàn thư của Liên Xô có đăng bài bình luận về cuộc đời hoạt động của ông, bên dưới ký tên tắt bằng những chữ đầu là NT. Cuộc thám hiểm của ông được ghi vào lịch sử khai phá Bắc cực của người Nga cùng với những cuộc thám hiểm của Sedov, Rusanov, Tolya vv…

Tiếng tăm của ông càng lừng lẫy thì người anh họ của ông, một người đã hy sinh toàn bộ tài sản của mình để tổ chức cuộc thám hiểm cho con tàu “St. Maria”, lại càng hăng hái đem hết sức lực còn lại để nghiên cứu sâu hơn nữa sự nghiệp vĩ đại của con người đáng kính ấy, và qua đó tên tuổi của ông cũng được nhiều người nhắc đến.

Với địa vị của mình, thành tích của Nikolai Antonovich rất được trọng thị. Quyển sách “Trên mặt băng” hầu như năm nào cũng được tái bản một lần để thỏa mãn đòi hỏi của các độc giả tí hon và cả người lớn nữa. Các báo chí không ngớt đưa tin về cuộc “Hội nghị học thuật” do ông ta chủ trì. Ông thường xuyên phát biểu ở “Hội nghị học thuật”. Qua các bài phát biểu đó, tôi tìm thấy dấu vết những cuộc tranh luận đã qua. Các cuộc tranh luận đó đã bị đình lại khi có một người đàn bà mặt mày nhợt nhạt bị khiêng đặt lên mặt bàn đá lạnh buốt và sau đó bị mãi mãi khiêng ra khỏi ngôi nhà. Không, cuộc tranh luận đó chưa hề được kết thúc! Vị học giả đáng kính kia đã từng nhấn mạnh trong cuốn sách của mình rằng kẻ chịu trách nhiệm về cái chết của thuyền trưởng Tatarinov là các “chủ xưởng”, và một phần do một người tên là von Vyshimirsky nào đó. Vị học giả đáng kính ấy đã từng dùng một số chứng cứ, mưu đồ quật lại một cậu học sinh đã phát giác ra điều bí mật của ông ta. Bây giờ ông ta bày các thứ chứng cứ ấy ra không phải là không có mục đích gì.

Hiện nay cậu học sinh kia giữ thái độ im lặng, nhưng tất cả đều còn đang ở phía trước.

Sanya lặng im chẳng nói năng gì, anh làm việc suốt ngày đêm không mệt mỏi. Anh đang phun thuốc trừ sâu ở khu vực sông Volga. Anh đang vận chuyển bưu kiện trên tuyến đường Irkutsk đi Vladivostok và thực sự cảm thấy hạnh phúc khi có thể tranh thủ vận chuyển báo chí ở Moskva đến Vladivostok trong hai ngày hai đêm. Anh đã giành được danh hiệu phi công cấp hai. Anh đã nhiều lần đưa đơn xin ra Bắc cực, nhưng lần nào cũng được trả lời là anh cần phải tiếp tục làm “phu xe trên không”. Lần này người ta lại điều động anh về tuyến Simferopol và Moskva. Bản thân anh chẳng có phản ứng gì, nhưng riêng tôi thì tôi hết sức bất bình trước quyết định đó. Tuồng như có một bóng đen thần bí luôn luôn chắn ngang trên con đường đi tới của Sanya. Tôi không biết. Mà anh cũng không biết.

Anh cặm cụi làm việc. Mọi người đều khen anh công tác rất tốt. Chỉ có riêng tôi mới biết được rằng anh rất mệt nhọc trên những tuyến bay giống hệt nhau, như hàng nghìn anh em…

Tôi mặc chiếc váy liền áo trắng tinh, cùng đứng sánh vai với Sanya trên boong một con tàu sơn trắng, sáng màu tinh khiết. Chuyến này Sanya được đi phép. Tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc bởi chuyến đi phép này và bởi cái quyết định đột ngột đi Sevastopol của chúng tôi. Còn sau đó sẽ đi đâu nữa, chính chúng tôi cũng chưa biết đến.

- Con tàu của Amundsen được đặt tên là “Tiến lên”. Ông ta đặt cái tên ấy cho con tàu cũng là để tự nhắc nhở mình “tiến lên”… Đó là lời bình luận của Nansen đối với Amundsen… Đó là phương châm của anh hồi anh mười bốn tuổi. Hay quá có phải không? Thế mà bây giờ thì vừa tiến lên vừa quay lại. Lúc thì Moskva, lúc thì Simferopol.

… Chiếc đèn lồng khi tỏ khi mờ, dưới quầng sáng chao đảo của nó, khi là niềm hoan lạc, lúc là nỗi buồn đau. Thời gian cứ lao về phía trước không quay lại, chỉ có một buổi tối, đúng cái buổi tối Sanya kể về cuộc đời mình (không phải kể cho tôi nghe) thời gian mới dừng lại đôi chút. Cuộc nói chuyện quan trọng này được tiến hành trong vườn hoa của câu lạc bộ phi công ở một làng Tatar. Vườn hoa nằm trên một sườn dốc, con đường nhỏ giữa vườn hoa chạy xuyên qua đám hoa sặc sỡ đang độ nở rộ, đổ thẳng xuống bờ biển. Đá cuội kêu lên sào sạo dưới bước chân thận trọng của các phi công. Một cơn gió nhẹ chợt thoảng qua, mang theo hương hoa và vị ngọt ngào của hoa quả từ vườn hoa Ay Vasilya, ở đây đang có một cuộc hội nghị công khai của Đảng, nói là công khai, một phần vì cuộc hội nghị đó được tiến hành trên quảng trường trước thềm nhà hát dưới bầu trời sập tối của phương nam.

Sanya phát biểu rất bình tĩnh, liên tục. Nhưng lần nào cũng vậy, hễ sắp sửa kết thúc là anh lại đột nhiên ngừng bặt lại. Chỉ có tôi mới hiểu hết ý nghĩa của động tác đặc biệt ấy. Anh đang xúc động. Chẳng phải thế đó sao!

Tôi nghe Sanya kể, trước mắt hiện lên một thời niên thiếu đã bị lãng quên. Tựa như chiếu phim, khi giọng một người nào đó nói thong thả rành rọt về mình thì trên màn ảnh hiện lên cảnh mây bay và một dòng sông trông tựa như một dải mây mù nằm trải xa xa trên cánh đồng bát ngát. Đó là cảnh êm đềm của một buổi sáng. Thời niên thiếu còn sống trong ký ức của tôi không phải là mây mù mà là cả một nguồn hạnh phúc.

Tôi chợt nhớ đến người đoàn viên thanh niên cộng sản vừa đen vừa gầy có mớ tóc cứ dựng đứng lên đang kết án Evgeny Onegin ở trường học số bốn. Lần đầu tiên anh ta nói với tôi ở trên sân trượt băng rằng anh sẽ đi học trường Hàng không. Tôi bắt gặp cảnh anh ta xúc động bàng hoàng như khi anh ta đọc lại những bức thư cũ trước kia trong vườn hoa Nhà thờ ở thành phố Ensk. Bất kể là ở Moskva, ở Bắc cực hoặc sau khi trở lại Moskva, lúc nào anh ta cũng chuẩn bị để bảo vệ sự đúng đắn của mình trước toàn thế giới.

Nhưng hồi tưởng như thế đủ rồi! Hãy nghe xem người ta nói về anh như thế nào.

Nhà trường đã đào tạo ra anh. Xã hội Xô Viết đã giáo dục anh nên người. Đấy người ta nói về anh như vậy đó. Đặc điểm của anh là tích cực học tập, tác phong đúng mức. Là một phi công ngay từ năm 1934 anh đã hoàn thành nhiều chuyến bay gian khổ ở Bắc cực và đã được khu dân tộc tự trị Nenets khen thưởng. Về sau anh đã tiến một bước rất dài trên con đường nắm vững kỹ thuật lái, kể cả kỹ thuật lái ban đêm. Tất nhiên anh cũng còn có nhược điểm, ví dụ như nôn nóng, dễ nổi khùng, thiếu kiên nhẫn. Nhưng khi trả lời câu hỏi: “Đồng chí Grigoriev có đạt được tiêu chuẩn đảng viên chưa” thì chúng tôi đều đáp: “Đạt rồi, đạt tốt rồi!”

… Mùa đông năm 1937, Sanya được điều động đến Leningrad. Chúng tôi sống nhờ nhà ông bà Berenstein. Tôi cảm thấy mọi việc đều khá tốt lành, chỉ có điều là trong đêm khuya, lúc nào thức dậy, tôi cũng thấy Sanya trằn trọc không ngủ, nằm đây nhưng hai mắt mở thao láo. Tuần nào chúng tôi cũng đến rạp chiếu phim tài liệu thời sự ở trên đại lộ Nevsky để xem phim thời sự về cuộc chiến tranh ở Tây Ban Nha. Đây là cảnh những thanh niên tay cầm súng trường, mặc áo kẻ ô vuông đi lại lẩn quất, giữa cảnh đổ nát của khu vực trường đại học Tổng hợp ở Madrid. Kia họ đã vùng đứng lên đi tấn công. Đây là cảnh trung đoàn số Năm xếp hàng lĩnh súng. Đây là cảnh các cháu bé rút ra khỏi khu vực bị bao vây của Madrid, các bà mẹ chạy theo sau đoàn xe ô-tô khóc lóc thảm thiết, còn các cháu thì vẫy tay chào lại. Những cảnh đó có thật không? Đúng là có thật như thế! Mong rằng những cảnh đau thương ấy sẽ không bao giờ diễn lại ở một nơi nào khác nữa.

Hai tuần sau, tôi và Sanya đứng trong phòng treo áo chật chội của gia đình Berenstein, giữa đống áo khoác da lông và mũ cũ, chúng tôi đứng lặng im. Đây là những phút cuối cùng của một lần từ biệt mới! Lần này anh ra đi với bộ quần áo thường. Chiếc áo bành-tô rộng vai và chiếc mũ mềm làm thay đổi hẳn hình dạng của anh.

- Sanya, có phải anh đây không? Hay không phải là anh?

Anh cười nói:

- Cứ coi như không phải là anh. Em đang khóc đấy à?

- Không. Anh yêu quý, anh thân yêu, anh phải giữ gìn sức khỏe đấy.

Anh nói “Nhất định anh sẽ trở về” cùng bao lời đẹp đẽ linh tinh khác. Tôi không nhớ rõ tôi đã nói với anh những gì lúc đó, chỉ biết tôi có nhắc đi nhắc lại là anh chớ coi thường tác dụng của dù vì anh rất ít khi mang dù theo chuyến bay.

Anh đi đâu? Tôi chẳng biết gì cả. Anh thì anh nói là đi về Viễn đông. Nhưng tại sao anh lại ăn mặc thường phục? Và tại sao khi tôi hỏi một số chi tiết trong chuyến đi này anh không trả lời? Tại sao đêm khuya người ta gọi điện thoại từ Moskva về cho anh, anh chỉ trả lời cộc lốc “có” hoặc “không” thôi? Tại sao sau đó anh đi đi lại lại trong phòng rất lâu? Tại sao anh hút thuốc liên miên và có vẻ vô cùng xúc động, lại vô cùng vui sướng? Tại sao có lúc anh lại tỏ ra rất mãn nguyện? Anh mãn nguyện cái gì? Tôi không biết và cũng không nên biết. Tại sao tôi không thể tiễn anh ra ga? Chẳng phải anh đi Viễn đông đó sao?

- Như thế rất không tiện, – anh trả lời trước yêu cầu đi tiễn của tôi. – Anh không phải chỉ đi có một mình. Cũng rất có thể là anh chưa đi xa đâu. Nếu không có gì trở ngại, khi đến ga anh sẽ gọi điện thoại cho em.

Từ ga xe lửa anh đã gọi điện thoại về cho tôi, bảo là mười phút sau tàu sẽ chạy. Anh dặn tôi chớ có lo lắng, mọi việc rồi sẽ tốt đẹp cả. Ngày hôm sau anh gửi cho tôi một bức thư và hứa sau này sẽ không coi thường tác dụng của dù nữa…

Tôi thường xuyên nhận được thư có đóng dấu bưu điện Moskva. Từ những bức thư đó, tôi đoán Sanya cũng nhận được thư tôi rất đều đặn. Một số người tôi chưa hề quen biết thường gọi điện thoại đến hỏi thăm tình hình sức khỏe của tôi. Trên chiếc bàn nhỏ tôi dùng để đọc sách ban đêm trải rộng một tấm bản đồ có đính nhiều lá cờ nhỏ. Đất nước Tây Ban Nha xa xôi và thần bí đột nhiên trở nên hết sức thân thiết, gần gũi như dãy phố tôi đã từng sống qua hồi niên thiếu.

Một ngày tháng Ba dầm dề mưa xuân, hầu như toàn bộ máy bay của nước Cộng hòa, như người ta nói “tất cả những cái gì có cánh” đều xuất kích để oanh tạc quân phiến loạn, hòng cắt đứt mối liên lạc giữa Valencia với Madrid. Cuộc chiến đấu đã giành được thắng lợi dưới chân đồi Guadalajara. Sanya của tôi cũng có mặt ở đấy ư?

Tháng Bảy, quân đội của nước Cộng hòa đánh lui quân phiến loạn ra khỏi Brunet. Sanya của tôi có mặt ở đấy không? Basconia đã bị cắt đứt, phải lái những chiếc máy bay dân dụng cũ kỹ vượt qua mây mù, qua các khe núi để đến tiếp tế cho Bilbao. Sanya của tôi có mặt ở đó không?

“Thời gian phục vụ bị kéo dài”, – anh viết trong thư gửi cho tôi. – “Chưa chừng sẽ có việc bất ngờ đến với anh. Em hãy nhớ lấy một điều là em hoàn toàn tự do, không bị ràng buộc bởi một nghĩa vụ nào hết”.

Tôi mua được một quyển tự điển Nga – Tây Ban Nha in năm 1836 trong một hiệu sách cũ nằm trên phố Volodarsky. Vì quyển tự điển này đã rách nát, bìa bị long cả ra, nên tôi phải đưa đến cho thợ đóng sách đóng lại. Tối nào tôi cũng cậy cục học từng câu Tây Ban Nha rất dài: “Phải, em là người tự do, em không có nghĩa vụ gì với anh hết. Nếu anh không trở về được thì em nguyện sẽ chết cùng” hoặc là “Anh thân yêu, sao anh lại viết những bức thư đau lòng như vậy”.

Tôi lẩm rẩm đọc các câu tiếng Tây Ban Nha, có lẽ trong đêm tối, những câu đó nghe rất kỳ quái nên “bà bảo mẫu khoa học” ngỡ tôi nói mê, phải vội vàng trở dậy làm dấu thánh cho tôi.

Một việc hầu như không thể có được đã đột ngột xảy ra. Việc đó hết sức bình thường, nó làm cho vạn vật – thời tiết, cơ thể sống, công việc đều trở nên tốt đẹp gấp trăm ngàn lần…

Nửa đêm hôm ấy bỗng có điện thoại từ Moskva gọi về báo tin Sanya sẽ trở về nhà. Bà Rozaliya Naumovna mừng quýnh lên, vội vàng chạy vào đánh thức tôi dậy. Tôi lật đật đến bên máy nói. Mấy hôm sau, quả nhiên anh đã hiện ra trước mặt tôi. Trông anh có vẻ gầy và đen hơn trước và hình như có cái gì đó giống người Tây Ban Nha. Tôi tự tay gắn tấm huân chương Cờ đỏ lên ngực áo anh.

… Mùa thu, hai chúng tôi cùng trở về thành phố Ensk. Năm nào Petya cũng đưa con và bà bảo mẫu về Ensk nghỉ mát.

Trong các bức thư gửi đến, lần nào dì Dasha cũng mời chúng tôi về chơi Ensk. Bây giờ chúng tôi đã thực sự ra đi. Buổi sáng quyết định xong, buổi tối tôi đã ngồi ở trong toa tàu trách móc Sanya vì chỉ còn năm phút nữa tàu chạy mà anh cứ mải miết đi mua bánh làm tôi sốt cả ruột. Tàu chuyển bánh, anh mới chạy theo nhảy lên, miệng vừa cười vừa thở hồng hộc.

- Loại bánh ngọt này ngon lắm, ở Ensk không có đâu!

- Muốn bao nhiêu có bấy nhiêu!

- Kẹo ngon thế này mà không mua thì phí lắm!

Quả là ở Ensk không có loại kẹo ngon như thế này, ngay cả hộp đựng cũng làm rất cầu kỳ, mới nhìn qua đố biết mở bằng cách nào. Trên chiếc huy hiệu nhỏ màu đỏ có ghi hàng chữ vàng “Chúc bạn mạnh khỏe, sống hạnh phúc!”

Chúng tôi ngồi rất lâu trong toa có giường nằm tranh tối tranh sáng mà chẳng chịu bật đèn sáng.

Hồi nào đã diễn ra một sự kiện tương tự như thế này nhỉ? Ấy là cái lần hai chúng tôi cố làm ra vẻ như người lớn đi từ Ensk trở về Moskva. Mấy bà hư vô chủ nghĩa dùng sợi dây rất mảnh buộc đôi găng tay vừa to vừa lạ mắt đi tiễn chúng tôi. Một chàng trai để râu ria xồm xoàm ra sức đoán quan hệ giữa chúng tôi: Anh em ư? Chẳng giống! Vợ chồng ư? Còn trẻ quá! Còn những quả táo mùa đông vừa đỏ vừa chắc kia nữa! Tại sao chỉ thời niên thiếu mới có thể được ăn những quả táo ngon như thế nhỉ?

- Chính hôm ấy là ngày anh bắt đầu yêu em.

- Không đúng. Anh còn nhớ cái hôm chúng ta từ sân trượt băng đi ra, anh mời em ăn hạt hướng dương, em từ chối, anh đành phải đem cho một em bé gái. Chính hôm đó mới là hôm anh bắt đầu yêu em.

- Chính lúc ấy là lúc em bắt đầu yêu anh.

- Không phải. Em biết chính anh bắt đầu yêu em vào lúc ấy. Nếu không thì anh chẳng đem hạt hướng dương cho người khác.

Anh nghĩ ngợi có vẻ rất nghiêm túc.

- Thế thì, em bắt đầu từ lúc nào?

- Em không biết… Tất cả mọi lúc.

Chúng tôi cùng đứng trên lối đi của toa tàu, và cũng như lần ấy, cùng đưa mắt nhìn dãy cột điện nối nhau lao vút về phía sau. Mọi sự vật đều biến dời đổi thay, duy có niềm hạnh phúc là vẫn y nguyên như xưa. Một ông già rậm râu phục vụ trên tàu đưa mắt nhìn chúng tôi – hay là nhìn tôi chăng? – Rồi ông thở dài, lẩm bẩm rằng ông cũng có một người con gái đẹp…

Thành phố Ensk. Trời còn sớm quá. Tàu điện chưa chạy nên chúng tôi đành phải cuốc bộ khắp thành phố. Một người rất lịch sự xách hộ chúng tôi đồ đạc. Chúng tôi tự giới thiệu chính quê hương chúng tôi là Ensk, nhưng hình như anh ta không buồn nghe mà cứ nói thao thao bất tuyệt. Hầu như ai anh ta cũng quen biết. Anh ta biết tất cả những người trong gia đình Bubenchikov đã quá cố, biết dì Dasha, biết ông chánh án, đặc biệt là ông chánh án bởi vì chính anh ta đã đến gặp ông rất nhiều lần.

- Ở đâu?

- Ở tòa án quận Lenin.

Trên quảng trường, bên cạnh một chiếc xe mà những người nông dân của nông trang tập thể đem bán táo và cải bắp, dì Dasha già nua, gầy gò cầm trên tay một cái bắp cải lớn và đang suy tính xem có nên mua hay không.

Sanya lên tiếng gọi dì. Dì đưa mắt nhìn chúng tôi qua cặp kính trắng với vẻ trang nghiêm đặc biệt của người già. Đột nhiên không kìm chế được nữa, dì buông tay làm rơi cây cải bắp xuống đất.

- Sanechka! Các cháu thân yêu của dì! Sao lại thế này? Các cháu đi chợ đấy à?

- Không đâu dì ạ. Chúng cháu đang đi về nhà đây. Dì Dasha, đây là nhà cháu đây ạ.

Anh kéo tôi tới trước mặt dì Dasha. Thế là mọi việc buôn bán của chợ Ensk đều bị dừng lại. Ngay cả đến con ngựa ở góc chợ cũng rút mõm ra khỏi giỏ cỏ, thú vị nhìn tôi và dì Dasha hôn nhau…

Đây là ngôi nhà của gia đình Marcuse trên đại lộ Gogol. Hai bên cửa ra vào đều có tượng sư tử. Bữa ăn sáng được tổ chức theo khẩu vị của dì Dasha. Sau một bữa ăn như thế mà nghĩ đến bữa ăn trưa và bữa ăn chiều có thể có trên thế giới là một việc đáng sợ. Chúng tôi đã nói chuyện với ông chánh án một lần qua dây nói. Lúc ấy ông đang dự một cuộc họp ở quận. Nghe giọng nói yếu ớt xa xôi của ông, tưởng như ông đang ở tận bên kia trái đất. Petya con thế là đã được ba tuổi, lẽ nào những cuộc bàn cãi, những vấn đề chủ yếu như có nên cho bé ngậm vú cao su hay không và nên ru bé ngủ trên tay hay trên giường đã thành chuyện xa xưa và trôi vào quá khứ rồi ư?

Chúng tôi tìm gặp được Petya cha ngay trong vườn hoa Nhà thờ, ở nơi mà trước đây Sanya và Petya đã từng nằm chờ xem mặt trăng và các vì sao giữa ban ngày, ở đây hai người đã cùng đọc quyển “Những bức thư mẫu”. Và cũng ở nơi đây hai người đã từng “trích máu ăn thề” với nhau.

Petya ngồi xếp hai chân như một người Thổ Nhĩ Kỳ chính cống, trên đùi để một quyển an-bom rất to. Anh ta đang vẽ cảnh Reshetki, tức là chỗ mà hai con sông Peschinka và Tikhaya gặp nhau, và nhà thờ Pokrovsky, sạch sẽ, trang nghiêm in hình lên bầu trời xanh mênh mông tràn ngập ánh nắng. Đằng sau nhà thờ, ở bờ sông bên kia là những cánh đồng nối tiếp nhau.

- Xin lỗi, ông có trông thấy người thợ vẽ không?

Anh ta quay đầu lại và sửng sốt nhìn chúng tôi.

- Có một anh thợ vẽ đi qua đây, – Sanya nói tiếp. – Anh ta mặc áo vét, mặt có nốt ruồi…

Petya lập tức nhảy chồm lên. Anh ta vừa gầy vừa cao, các cử chỉ đều hết sức vụng về.

- Trời ơi, đến rồi ư? Cả chị Katya nữa kia à? Ôi, hay quá! Tôi mừng lắm! Này Sanya, hãy kể chuyện đi, rốt cuộc anh từ đâu đến?

- Mình từ nơi ấy đến.

Chúng tôi ngồi bên cạnh tượng đài Martyn chừng hai tiếng đồng hồ, sau đó đi ra phía bờ sông rồi cứ dọc theo các vườn hoa, đi khắp thành phố. Thành phố trở nên xinh xắn vô cùng giữa những ngày thu. Lá cây phong trong vườn Bách thảo đỏ rực. Bên dưới vách đá, từng hàng cây ăn quả bị quét vôi trắng xóa ở dưới gốc để chống sâu, đóng thành từng hàng thẳng tắp. Đi dọc theo lối mòn mát mẻ đã bị nhiều người lãng quên này cũng là một điều thú vị.

- Hồi nào chúng mình thường chui vào khu vườn này hái trộm táo. Cậu dọa mình là cây súng của bác gác vườn bắn ra toàn muối hạt.

- Không phải dọa, mà đúng như thế thật. Quả là thú vị, lúc ấy chúng mình là những đứa trẻ như thế nào, chẳng hạn như cậu, cậu có nhớ không? Mình thì mình quên tiệt cả rồi.

- Hồi ấy cậu là một ông oắt con thật là đặc biệt. Cậu có nhớ, có lần cậu đã phịa ra câu chuyện là loài chuột cũng có một con chuột chúa không? Còn cái câu chuyện về nước Thổ Nhĩ Kỳ thì đúng là một câu chuyện hoang đường. Ngay hồi ấy cậu đã có vẻ là một nhà họa sĩ, ít ra thì cũng có thể gọi là một người làm nghệ thuật.

- Nhưng mình thì lại cảm thấy rằng chính cậu sẽ trở thành nhà nghệ thuật. Chẳng phải cậu đã nặn những con giống rất đẹp đó sao? Tại sao nửa chừng cậu lại quăng đi thế?

Tôi nhìn Sanya, trong bụng phân vân không biết có nên vạch cái bí mật anh đang giấu kín ra không, nhưng như đã biết được ý nghĩ của tôi, anh lừ mắt đe dọa, thế là tôi đành lặng im. Cho đến bây giờ, những lúc rỗi rãi anh vẫn say mê nặn tượng – tất nhiên là nặn để chơi vui thôi.

Mãi đến tối mịt ông chánh án mới trở về nhà. Tất nhiên đến giờ ấy thì chúng tôi đã đi nghỉ rồi. Đột nhiên từ bên ngoài vọng vào tiếng động cơ của ô-tô con, sau đó là tiếng bước chân của ông già thong thả nện ngoài hành lang. Ông đội chiếc mũ màu trắng, không vành, dính đầy bụi bẩn và ôm trên tay hai chiếc cặp da.

- Này, những khách nào đến thế kia? Chờ tôi đi rửa mặt cái đã rồi sẽ vào hôn các vị sau nhé.

Sau đó ông vào nhà bếp rửa ráy rất lâu. Dì Dasha kêu lên là ông làm nước tung tóe ướt cả sàn nhà, nhưng ông cứ rửa rất hăng, miệng không ngớt nói: “Khoái quá, dễ chịu quá!” Cuối cùng ông đã rửa xong, đầu tóc chải mượt, chân trần đi dép lê, mặc áo ngủ kiểu Tolstoy đi ra khỏi nhà bếp. Ông lôi hai chúng tôi ra cửa ngắm nghía mãi, trước hết là ngắm tôi, sau đó tới lượt Sanya rồi lại chăm chú ngắm tấm huân chương.

- Khá lắm, – ông hài lòng nói. – Bốn sao à?

- Vâng, bốn sao ạ.

- Nghĩa là đã được thăng đến đại úy rồi?

- Vâng, đại úy ạ.

Ông bắt chặt tay Sanya.

Chúng tôi sống một đêm rất đẹp đẽ ở Ensk. Chúng tôi rất hiếm có cơ hội đoàn tụ cả nhà nhưng chúng tôi đối với nhau vô cùng thân thiết. Bây giờ khi cả nhà đã được đoàn tụ, ai cũng lấy làm ngạc nhiên là tại sao mỗi người lại có thể ở một thành phố cách xa nhau đến như thế.

Chúng tôi ngồi vây quanh bàn, nói với nhau tất cả những chuyện trên trời dưới biển cho mãi đến tận khuya. Chúng tôi cùng nhắc đến Sasha, bình phẩm một cách thoải mái tùy tiện về cô, tựa như cô ấy vẫn còn sống giữa chúng tôi vậy. Bé Petya càng ngày càng lớn, càng giống mẹ như đúc: cũng đôi mắt kiểu người Mông Cổ ấy, cũng những mớ tóc đen mềm và rất dày ở hai bên thái dương ấy và mỗi khi bé cúi xuống, hai hàng mi cũng hiện ra dài và mảnh như thế…

Sanya bắt đầu kể về câu chuyện ở Tây Ban Nha. Một cảm giác kỳ lạ, hầu như đã bị lãng quên bao vây lấy tôi. Tôi nghe anh kể về anh mà tưởng như nghe sự tích của một người nào khác. Một lần anh cất cánh bay đi trinh sát, chợt gặp năm chiếc Junkers[1], anh liền lao vào phía chúng mà không chút ngập ngừng. Lẽ nào con người đó lại là anh thực ư? Khi anh lọt vào giữa lũ Junkers kia, anh bắn tới tấp vì khoảng cách từ anh tới chúng đã quá ngắn. Lẽ nào con người đó cũng là anh thực ư? Áo kháng áp của anh đã bị bốc lửa, anh lấy găng tay che lấy mặt và lái chiếc máy bay đã bị thương hạ cánh an toàn. Sau đó một tiếng đồng hồ anh lại lái một chiếc khác đi làm nhiệm vụ. Lẽ nào con người đó là anh thực ư?

Ông chánh án ngồi nghe anh kể rất chăm chú. Phía dưới đôi lông mày điểm bạc, hai mắt ông sáng lên với một vẻ hết sức hài lòng. Ông cầm cốc đứng lên và bắt đầu diễn thuyết – khi còn ngồi trên tàu hỏa, Sanya đã bảo với tôi rằng thế nào ông chánh án cũng diễn thuyết.

- Sanya, chú không định tâng bốc cháu, mặc dù công tích của cháu rất đáng được đề cao. Cháu đã từng nói với chú rằng cháu thích làm một người lái máy bay giỏi. Lúc ấy chú có hỏi cháu: “Làm người lái máy bay quân sự phải không?” Thì cháu trả lời: “Cháu sẽ làm phi công lái máy bay Bắc cực. Và khi cần cũng có thể lái máy bay chiến đấu”. Đấy, bây giờ chẳng phải cháu đã trở thành một phi công toàn diện rồi đó sao. Cháu hãy ngồi ngay trước mặt chú đây để chú nhớ lại chuỗi ngày đã qua với một niềm tự hào chính đáng của gia đình chúng ta. Chú hoàn toàn có quyền được coi cháu như con trai của chú. Nhưng mỗi khi trông thấy mặt cháu, trong đầu óc chú lại nảy ra những ý nghĩ khác nữa. Chú muốn nói đến cái lý tưởng cao cả của cháu khi cháu tự đặt cho mình nhiệm vụ đi tìm đội thám hiểm của thuyền trưởng Tatarinov. Chính cái lý tưởng này đã sưởi ấm thời niên thiếu của cháu. Cháu đã tự đặt cho mình một nhiệm vụ cao cả là tác động vào lịch sử và sửa đổi nó theo khả năng của mình. Làm như vậy là rất đúng, chính vì vậy mà chúng ta mới là những người cách mạng Bolshevik. Bởi chú hiểu rõ cháu từ khi cháu còn bé xíu nên chú vững tin rằng không sớm thì muộn thế nào cháu cũng sẽ hoàn thành được nhiệm vụ to lớn ấy.

Khi chúng tôi chạm cốc, Sanya nói một câu bằng tiếng Tây Ban Nha:

- Salud[2]!… “Cuộc du hành vào cuộc sống” coi như chỉ mới được bắt đầu, – anh nói. – Bây giờ mới biết hôm qua chiến hạm đã rời khỏi căn cứ. Tháp đèn ở phương xa hãy còn nhìn thấy rõ nó vừa đánh tín hiệu gửi lời chúc chiến hạm ra đi “Thuận buồm xuôi gió!” Trước kia tuy chúng cháu còn ít tuổi và bé bỏng nhưng đều dũng cảm. Chúng cháu đã từng bình thản bước trên những con đường tăm tối và tĩnh mịch của cái thành phố này. Vũ khí của hai chúng cháu chỉ là một con dao con kiểu Phần Lan, tức là con dao mà Petya đã khâu cái bao dao bằng miếng da của chiếc ủng cũ ấy. Song chúng cháu có những thứ vũ khí bên trong tốt hơn nhiều. Chúng cháu tiến bước, bởi vì chúng cháu đã thề cùng nhau: “Đấu tranh và tìm tòi, quyết đạt mục đích chứ không đầu hàng!”. Chúng cháu tiến bước bởi vì con đường chúng cháu đi còn chưa kết thúc.

Sanya nâng cao cốc, ngửa cổ uống một hơi hết sạch rồi ném mạnh chiếc cốc vào tường. Một tiếng “choang” vang lên, những mảng thủy tinh văng ra tứ phía…

Năm 1939 chúng tôi sống ở Moskva. Chúng tôi thường đến chơi nhà Valya và Kira ở ngõ Sivtsev Vrazhek. Căn nhà Sivtsev Vrazhek bây giờ đã trở nên chật chội.

Một em bé gái béo trắng tết tóc đuôi sam đang nằm ngủ ở gian “bếp chung”. Bé cũng có chiếc mũi to và thô cứng như của Kira – mẹ bé. Trong gian nhà kho mà trước đây đã có dạo Valya dùng làm phòng rửa ảnh, bây giờ đang phơi đầy quần áo trẻ con. Ở gian “bếp riêng” tí nữa thì Sanya ngồi lên một cái bọc lớn, trong đó có chú bé con có mái tóc đen rủ xuống trán. Một bộ mặt nhỏ xíu khá nghiêm trang và bệ vệ lộ ra ngoài. Xem chừng chỉ cần đeo vào cho chú bé một chiếc kính gọng đồi mồi là lập tức bé có thể đứng dậy đi nghe bài giảng về phương pháp lai giống cáo đen nâu xám.

Cháu gái đã có thể ngâm thơ “thể hiện tình cảm”. Từ các cử chỉ và tư thái của cháu, ta cũng có thể thấy được kết quả giáo dục tận tâm của bà mẹ Kira. Cách giáo dục của bà về nguyên tắc, hoàn toàn ngược lại với lối giáo dục mang nặng tính chất chủ quan tự phụ của bà Varvara Robinovich.

Những khi ở trong ngôi nhà đáng yêu ở ngõ Sivtsev Vrazhek, giữa các bạn nhỏ dễ thương ấy, hai kẻ lưu lạc và du hành chúng tôi đã suy nghĩ những gì?

Tất nhiên là chúng tôi nghĩ đến hoàn cảnh không nhà cửa, chỉ chuyên đi sống nhờ của mình, ngay đến một gian phòng chật hẹp, chen chúc như của Valya và Kira đây cũng không có.

Vì vậy, chúng tôi quyết định phải tìm cho được một chỗ ở trong thành phố Leningrad này…

Ngọn đèn lồng lúc tỏ lúc mờ, dưới quầng sáng chao đảo của nó, lúc sung sướng, khi khổ đau.

Một ngày mùa đông trong trẻo, chúng tôi đứng trước một tảng đá hoa to tướng dưới chân tường điện Kreml[3], trên tảng đá hoa đó khắc tên một người chúng tôi hằng yêu mến. Sanya nhớ lại một lần gặp ông ấy. Trên suốt đường đi anh suy nghĩ miên man và cố ghìm nỗi xúc động ở trong lòng. Khi đi tới chỗ trước kia anh đã có lần gặp ông, chợt anh nói bật ra như nói trong điện thoại:

- Đồng chí Ch. đấy phải không? Tôi là Grigoriev đây.

Tên ông được lấy đặt cho một thành phố lớn, trong đó có hàng trăm đường phố, nhà hát, vườn hoa đẹp đẽ. Việc làm ấy đã qua một năm rồi. Song tôi và Sanya cứ cảm thấy lạ lùng thế nào ấy, lẽ nào mãi mãi chúng tôi không bao giờ còn được nghe giọng nói trầm lắng quen thuộc của ông nữa sao?

Năm 1941, chúng tôi dọn đến Leningrad. Nếu có thể được, mong rằng đây là chuyến di chuyển cuối cùng. Chúng tôi thuê một biệt thự có ba phòng. Trong vườn nhà có giếng riêng. Ngoài ra còn có một ông già chủ nhà còn khá tráng kiện. Ông lão tự xưng là một xạ thủ cũ của nước Nga cổ xưa. Thế là Petya liền mời ông lão ra ngồi để vẽ. Năm nay hai bố con Petya và bà bảo mẫu không về Ensk. Tất cả chúng tôi đều đến ở trong khu nhà mới này. Chúng tôi thường kéo nhau ra hồ bơi lội, dùng ấm xa-mô-va chính cống đúc bằng đồng để đun nước chè. Có một số phụ nữ không cảm thấy hết cái tuyệt diệu của cuộc sống yên tĩnh và đầy hạnh phúc như thế, thật tôi rất lấy làm lạ.

Thứ bảy nào chúng tôi cũng đi đón Sanya. Cả nhà đều ra ga xe lửa chờ anh, trong đó cháu Petya là người nóng ruột chờ gặp bác Sanya nhất. Lần này cháu hy vọng sẽ được bác cho một chiếc thiết giáp làm bằng tôn hẳn hoi. Hy vọng của cháu đã đạt được. Sanya cầm trên tay một chiếc chiến xa xinh xắn nhảy xuống sân ga khi con tàu chạy chậm qua trước mặt chúng tôi. Nhưng không hiểu vì sao anh vẫn cứ đi theo con tàu mãi. Đoàn tàu dừng lại, anh chìa tay ra đón một bà cụ gầy bé từ trên toa tàu bước xuống. Bà cụ có vẻ sợ sệt nhưng phong thái khá ung dung. Bà cụ cầm trong tay một chiếc ô, tay kia xách một chiếc túi du lịch nhỏ bằng vải bạt. Tôi thật không tin ở mắt mình nữa. Bà cụ ấy chính là bà tôi. Bà mặc chiếc áo vét bằng vải tuýt-xo, đầu đội chiếc mũ cói sặc sỡ. Sanya cẩn thận và lễ phép đỡ bà, không để cho dòng người huyên náo đang cuồn cuộn chảy trên sân ga va phải…

❀ ❀ ❀

[1] Một loại máy bay quân sự của Đức (Caruri).

[2] Salud – cạn cốc. – N.D.

[3] Tên điện này vẫn thường được phiên âm thông dụng là Kremlin (Caruri).

ồ chôn Hitler”. Đội lao động này hầu như toàn là phụ nữ: cô đánh máy, cô sửa bông, cô làm biên tập. Điều làm tôi ngạc nhiên là hầu hết các đội viên đều ăn mặc rất tươm tất. Tôi tò mò hỏi một cô biên tập khá xinh đẹp có làn da bánh mật tại s
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Veniamin Kaverin

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.