Nếu có thể ví cuộc đời là một con đường dài như các nhà thơ thường nói, thì trên con đường dài ấy, hễ cứ mỗi lần gặp một chỗ rẽ ngoặt, nguy hiểm, tôi đều tìm thấy một người chỉ đường rất chính xác. Chỗ rẽ ngoặt lần này trong cuộc đời tôi, sở dĩ khác với những lần trước, chỉ vì người cứu tôi là một người bẻ ghi đường sắt, nghề nghiệp, chức trách của ông là bảo đảm an toàn giao thông, điều chỉnh tàu xe chạy đúng đường.
Tôi nghỉ lại trong nhà ông hai ngày hai đêm, lúc tỉnh, lúc mê. Lần nào mở mắt ra tôi cũng nhìn thấy người đàn ông có vẻ mặt buồn buồn, không bao giờ chịu rời khỏi chỗ nằm của tôi một bước. Có lúc ông lại biến thành chú bé có đôi mắt sáng rực đã từng đón tiếp tôi lúc đầu. Chú bé ấy cũng ngồi liên miên bên cạnh tôi, giữ chặt tôi lại trong ngôi nhà bé nhỏ và thấp kín này. Không ai chịu buông tôi ra, để tôi đi sang thế giới bên kia. Nếu đúng như lời tường thuật của báo “Chim ưng đỏ” thì hầu như tôi đã đi dạo một lượt trong cái thế giới ấy.
Tất cả mọi thời gian, lúc tỉnh cũng như lúc mê, tôi đều không nghĩ đến Romashov. Đó là điều hết sức tốt đối với tôi. Phải chăng đó là bản năng tự vệ? Có lẽ đúng thế. Vì nghĩ tới hắn tôi sẽ càng bị kiệt sức hơn.
Sau khi đường sắt được khôi phục, người bẻ ghi đường sắt dùng xe kiểm tra (rõ ràng đây là chiếc xe mà hai cô gái Stanislav không thể nào tìm ra) đưa tôi đến Zaozerye. Ba đôi mắt xanh lam cùng ánh lên, ngượng nghịu từ biệt tôi. Tôi lại một lần nữa được đi tàu cứu thương, và lần này mới đích thực là tàu cứu thương, có nhà tắm, có loa phóng thanh, có phòng đọc sách. Tôi tắm xong, được thay băng mới, ăn một bụng thật đẫy rồi gác chân bị thương lên băng treo, đánh một giấc dài qua hết miền trung nước Nga. Tóm lại là được hưởng đúng chế độ điều trị khoa học. Khi tôi tỉnh dậy thì con tàu đã đến một vùng nào đó ở ngoại vi thành phố Kirov. Ở miền hậu phương này, như ở một thế giới khác, điều đầu tiên khiến tôi ngạc nhiên là các cửa sổ không có tấm rèm đen che ánh đèn. Trong giây phút đó tôi chợt nhớ tới một việc gì đã từng xảy ra giữa tôi với Romashov.
Tôi nhớ tới cuộc nói chuyện giữa hai người trong ngày đầu tiên sau khi xe tăng bọn Đức tấn công vào đoàn tàu chở thương binh.
- Cậu cần phải tự nhận thấy rằng, trong đời cậu, cậu đã làm nhiều việc đê tiện, – tôi nói. – Những việc đó, đối với riêng cậu cũng hết sức đê tiện.
- Cứ cho là như vậy cũng được, – hắn đáp lời một cách lạnh lùng. – Nhưng đê tiện là cái gì kia chứ? Tôi coi cuộc đời như một trò đùa. Ngay lúc này đây cũng thế thôi. Chẳng phải vị thần vận mệnh đã trao tận tay chúng ta tấm thẻ số phận đó sao?
Nếu không có cuộc rút lui này thì hắn làm sao có thể đánh cắp được tài liệu giấy tờ cũng như súng lục của tôi, và bỏ rơi tôi trong giữa rừng bạch dương hoang vắng.
Tôi phân tích các hành vi của hắn từ các góc độ khác nhau, như kiểu một quan tòa.
Tôi nhớ lại toàn bộ mối quan hệ từ trước đến nay giữa tôi với hắn. Đấy là một câu chuyện hết sức phức tạp, đặc biệt là việc hắn đã từng thực tâm định cưới Katya làm vợ (bây giờ nghĩ lại cũng thấy việc ấy không thể nào xảy ra được).
Hắn đã cam tâm để mất Katya rồi ư? Điều đó tôi không rõ. Hắn đã lấy một người phụ nữ tên là Alevtina Sergeevna làm vợ. Bà Nina Kapitonovna kể lại rằng, trong lễ cưới hắn đã uống rượu đến say nhèm và khóc nức nở. Khi nghe bà Nina Kapitonovna kể lại câu chuyện này, Katya có vẻ rất khó xử, mặt đỏ lên. Tại sao như vậy? Phải chăng qua câu chuyện ấy nàng đoán rằng Romashov vẫn còn yêu mình chăng?
Khi hắn chĩa súng lục vào tôi và gầm lên: “Mày nên biết rằng kẻ nào cứu sống mày là kẻ đê nhục!” thì có lẽ hắn đã quên hết mọi thứ trên đời.
Song rốt cuộc ai là kẻ đê nhục?
Rõ ràng là tòa án quân sự sẽ không khó khăn gì khi tìm ra một điều luật thích hợp để xử bắn tên sĩ quan hậu cần Romashov này.
Song, trên thế giới này, có thể nào tìm ra một tòa án mà lời phán quyết của nó lại không đếm xỉa gì đến lương tâm không? Trong phiên xử của tòa án ấy, bị cáo sẽ tự nhận rằng:
- Vâng, đúng là tôi đã có ý định giết nó.
Sau đó lại nói thêm:
- Nhưng tôi đã không giết nó, vì người đàn bà mà tôi yêu sẽ không thể nào chịu đựng nổi cái tin nó bị chết!
Không có một tòa án nào như thế! Hắn không giết tôi, chẳng phải vì tình yêu sâu nặng của hắn đối với Katya, mà chính vì hắn non gan thôi! Khốn khổ, tình yêu là gì lại như thế! Tình yêu khiến cho người ta trở nên cao thượng và trong sạch. Tình yêu đem đến cái mới mẻ và điều đẹp đẽ. Tình yêu không cần đến sự cầu xin, tự nó sẽ làm cho con người trở nên đáng yêu và lương thiện. Chẳng lẽ tình yêu của hắn lại như thế hay sao?
Không, đấy không phải là tình yêu. Có ai mà biết được cái thứ tình cảm phức tạp ấy của hắn là thứ tình cảm gì. Trong thứ tình cảm ấy, tình dục hòa lẫn với lòng hư vinh bị sứt mẻ cùng với những tính toán khác nữa. Tôi tin chắc rằng trong lòng của con người ti tiện này không có lúc nào không quanh quẩn với những tính toán ích kỷ. Song tôi vẫn cố tưởng tượng đến cái tòa án không thể có trong thực tế kia.
Tôi nghĩ rằng thầy Ivan Pavlych sẽ phán tội Romashov, vì nếu không phải là người thầy nghiêm khắc này của chúng tôi thì còn ai có thể phán xử được? Tôi mường tượng thấy cảnh thầy Ivan Pavlych mặc bộ quần áo làm việc dày cộp đang ngồi trong gian phòng cá nhân. Chòm râu bạc trắng của ông rung rung, đôi mắt nghiêm nghị nhìn về phía trước. Ông ngồi ở phía sau chiếc bàn, Romashov đứng ngay phía trước mặt ông, hai mắt hắn nhắm nghiền lại như kẻ đang ngủ say. Hắn đinh ninh rằng tôi đã chết từ lâu. Vì thế người thầy cũ của chúng tôi nói gì, hắn cũng trơ ra, bình chân như vại!
Nhưng trong phòng còn có một người nữa. Nàng luôn chân đi đi lại lại trong phòng, chốc chốc dừng lại hơ đôi tay vào lò sưởi. Người phụ nữ ấy là một nhân chứng. Nàng vừa hơ tay, vừa đăm chiêu suy nghĩ…
Nữ nhân chứng của tôi giờ đây sao mà ở cách xa tôi đến thế! Nào ai biết được rằng nàng có còn sống hay không. Đã hơn hai tháng nay tôi không được chút tin tức nào về nàng. Hai tháng của mùa thu năm 1941 ấy xiết bao gian khổ!
Nàng sống trong một thành phố đang bị bao vây kín bốn bề. Chúng tôi đã từng dự định với nhau rằng, nếu sau này có điều kiện, sẽ xây dựng cái tổ ấm của mình ở đấy. Giờ đây lũ giặc đương tìm cách phá tan thành phố này. Để bức những người dân kiên cường không chịu khuất phục của thành phố phải chết đói và chết rét, chúng mang xi-măng từ bên Đức sang xây công sự kiên cố và ngày đêm dồn dập nã pháo vào thành phố. Hầu như suốt ngày đêm mặt sông Neva được soi sáng bởi ánh pháo của giặc. Chúng cố tìm cách ngăn chặn những con tàu chở lương thực tiếp tế đến cho thành phố. Chúng chủ tâm làm cho Katya của tôi phải chết trong cái thành phố ấy.