Tôi không muốn để Katya ở lại trong nhà bác sĩ, điều chủ yếu là vì căn phòng ấy không phải của bác sĩ mà là của một sĩ quan đã bị hy sinh. Tất cả đồ đạc trong nhà đều là của người sĩ quan ấy. Mấy bức tranh mực nước vẽ phong cảnh thành phố Bắc cực được treo đối xứng trên tường. Một cái giá xếp rất ngay ngắn hàng chồng sách chuyên môn. Ngoài ra còn treo rất nhiều ảnh, tất cả đều là ảnh của một cô bé gái tóc dài mặc quần áo theo kiểu Ukraina và những bức ảnh chụp thời kỳ cô bé đã lớn hơn ôm con búp bê to tướng và bóng nhẵn. Mọi thứ đồ đạc trong phòng khiến ta bất chợt nhìn thấy rất rõ cuộc sống đã bị chấm dứt của người chủ cũ.
Sống trong một gian phòng như thế, nhất định là sẽ bị chìm ngập trong hàng đống những ý nghĩ linh tinh khác nhau và hoàn toàn không cần thiết. Đối với một phụ nữ mà chồng đang phục vụ trong Không quân thì rất khó thoát khỏi những ý nghĩ như vậy. Song Katya vẫn quyết định sẽ ở lại.
- Việc ấy có hề gì! – Nàng nói. – Đấy là việc rất bình thường.
Tôi không khăng khăng giữ ý kiến của mình. Số lần tôi trở lại thành phố Bắc cực không nhiều. Chỉ cần biết rằng Katya ở bên cạnh bác Ivan Ivanych và được trông thấy ông hằng ngày là tôi yên tâm và sung sướng rồi. Nàng đã xin việc để làm, thoạt tiên làm y tá trong bệnh viện, sau đó chuyển sang phòng khám của bác sĩ ở thành phố Bắc cực cũ. Hai tuần sau khi tôi đến đây, nàng đã tỏ rất hứng thú đối với cuộc sống mới đó nhanh hết chỗ nói.
Từ đây nhiều hạm tàu ra đi, đến các vùng biểu xa gần, cùng với các hạm tàu của quân Đồng minh tiêu diệt các đoàn tàu vận tải của giặc Đức. Vì vậy tất cả mọi sự kiện xảy ra trong cái thành phố bé nhỏ này đều có liên quan không nhiều thì ít đến cuộc chiến đấu đương diễn ra. Tên của người chỉ huy nổi tiếng được nhân dân hâm mộ, hầu như mọi người trong thành phố đều biết đến. Trong đó có không ít nhân vật mà tên tuổi đã vang lừng khắp Liên bang Xô Viết.
Khi sống ở thành phố N., tôi cảm giác rất rõ khoảng cách giữa hậu phương và tiền tuyến. Và ở đây, cảm giác đó lại càng rõ rệt hơn, bởi cuộc sống ở đây đa dạng, phong phú hơn ở N. nhiều. Cuộc sống này không phải từ trên trời rơi xuống mà là một sự thâm nhập dần dần từ ngoài vào. Từ mọi phương diện đều có thể nhận ra rằng tất cả mọi người của chúng ta, từ đồng chí tư lệnh đến anh chiến sĩ hải quân đều tỏ rõ quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng để bảo vệ vùng đất này. Vì sự căng thẳng luôn luôn thường trực nên nó đã ăn sâu vào từng sự việc nhỏ của cuộc sống thường ngày.
Tôi nghĩ rằng mùa đông giữa năm 1942 và năm 1943, có lẽ là mùa đông hạnh phúc và đầm ấm nhất của chúng tôi. Hồi ấy, cứ cách một ngày, tôi lại xuất phát đi oanh tạc các hạm tàu của địch một lần. Khi chưa biết rõ tin tức Katya, lúc bay tôi có một cảm giác khác. Nhưng khi đã biết rõ rằng nàng đang sống an toàn giữa thành phố Bắc cực và chỉ mấy ngày sau là tôi sẽ được chính mắt xem nàng pha nước chè ở bàn ăn, thì khi bay tôi có một cảm giác hoàn toàn khác hẳn. Bên trên bàn ăn treo một chiếc đèn có cái chụp màu xanh. Bác sĩ Ivan Ivanych dùng giấy cắt những cái hình rất ngộ nghĩnh dán lên cái chụp ấy. Trong trí tưởng tượng của tôi hình thành một bức tranh: tất cả những con người và sự việc làm cho tôi và Katya hân hoan phấn chấn đều tập trung vào trong vòng sáng của cái chụp màu xanh kia. Còn tất cả những người và sự việc khiến hai chúng tôi buồn phiền lo lắng đều lánh xa ra, vào cái góc tối ngoài kia.
Tôi còn nhớ một buổi gặp mặt của chúng tôi vào một buổi tối. Hôm ấy để bắt liên lạc với bác sĩ, sau nhiều lần tìm kiếm vô ích, cuối cùng tôi vớ được một chiếc thuyền máy và liền lái thẳng đến thành phố Bắc cực. Tuy lúc bấy giờ đã muộn nhưng mấy người bạn chúng tôi vẫn quây quần với nhau dưới cái quầng sáng này. Đêm khuya có hề gì, nếu không được ở bên nhau, thì ban ngày có khác gì là đêm khuya!
Ông bác sĩ mập mạp, trông rất đẹp dáng, mặc chiếc áo khoác dài và rộng thùng thình từ trong phòng riêng của mình lững thững đi đến cạnh bàn, chiếm một chỗ, nếu không phải là nổi bật nhất thì cũng là vị trí huyên náo nhất. Cái dáng hấp tấp của ông có vẻ như đang chờ đợi một sự kiện vui mừng nào đấy, hoặc ít ra thì cũng là chờ đợi một tin lành. Với cái dáng vẻ ấy, ông đã gây không khí nhộn nhịp cho mọi người, tuy ông không nói lời nào nhưng ai cũng có thể nghe rõ hơi thở ồ ồ hổn hển như thụt bễ của ông.
Nếu chia ngôi thứ theo âm thanh ồn ào thì tôi phải là người thứ hai đứng sau bác sĩ. Thực tình mà nói, từ trước tới nay chưa bao giờ tôi nói nhiều, uống nhiều rượu, cười nhiều và giòn như hôm nay. Cái cảm giác khó tả khi gặp lại Katya hình như vẫn còn đọng lại trong tâm hồn tôi, tất cả chúng như đều bay tới phía trước, về một nơi… Nơi nào nhỉ? Ai mà biết được. Tôi tin rằng chúng bay về chân trời hạnh phúc. Sau khi con trai yêu hy sinh, bác sĩ cảm thấy mình hoàn toàn như một người ốm. Nhưng đêm nay ông cũng vui vẻ, hoạt bát hẳn lên, ông thích dùng những câu danh ngôn của Kozma Prutkov để bàn về thời sự quốc tế.
Cậu hoa tiêu của tôi chiếm ghế cao nhất trong số những người im lặng. Hầu như từ đầu chí cuối cậu ta chẳng nói câu nào. Cậu ta chỉ ngồi trầm tư suy nghĩ, thỉnh thoảng hàng lông mày khẽ động đậy và cậu ta lấy tẩu thuốc ra khỏi miệng, phả những vòng khói tròn ra ngoài. Trên kia tôi có nói rằng tôi rất mến cậu ta, bởi cậu ta là một hoa tiêu xuất sắc và rất hợp với tính tôi.
Lúc này Katya loay hoay bận bịu với những công việc chủ nhân của mình. Tôi không biết là nàng đã biến căn phòng này thành nhà của chúng tôi như thế nào, khiến chúng tôi có thể tiếp khách một cách thoải mái và đầy đủ.
Rõ ràng là nếu như hằng ngày đài phát thanh không truyền đến những tin tức chiến thắng của quân ta thì không thể nào có được buổi gặp mặt vui vẻ này và tôi cũng không thể nào được hưởng cái hạnh phúc gặp mặt Katya. Sáng sớm ngày hôm sau, khi nàng tiễn chân tôi thì mặt trời đã nhô lên ở chân trời, nó to như quả bóng chúng tôi thường chơi thuở bé, nó sáng rực và tươi trẻ, tượng trưng cho sự bắt đầu của một ngày ở Bắc cực, nó bò dần lên phía trên dãy núi xa có vẻ mềm mại, tất cả những cái đó như để dành riêng cho chúng tôi… Nếu đài phát thanh ngày ngày không truyền đi các tin tức chiến thắng thì trong chúng tôi không thể nào có được những tình cảm hăng hái phấn chấn. Cái tình cảm hăng hái ấy mang trong mình nó tính chất phổ biến, nó chẳng những có ở đây – vùng tiền duyên cánh bên trái, mảnh đất trên bộ có người lính cuối cùng của chúng ta đóng giữ, nơi có những vách đá cheo leo hoang vắng bị biển cắt vụn, mà nó còn có ở bất cứ vùng nào của toàn bộ mặt trận.
Những phát đạn đại bác cuối cùng ở thành phố Stalingrad đã lặng tiếng. Các chiến sĩ vọt ra khỏi các hầm ngầm, họ nheo mắt tránh ánh nắng và ánh tuyết chói lọi, ngắm nhìn thành phố hoang tàn đã trải qua những cuộc vật lộn quyết liệt với quân thù. Tin thắng lợi vĩ đại này dội đến những tường đá hoa chắc đẹp của thành phố Bắc cực. Hầu như chúng tôi đã làm tất cả những gì có thể làm được để các tin tức chiến thắng vang đi xa hơn nữa dọc theo bờ biển Na Uy. Các đội tàu buôn của giặc đang lén lút đi từ nước này sang nước khác, hãy làm cho âm vang của chiến thắng theo chúng đến khắp mọi nơi. Giặc Đức đang đổ vũ khí của chúng xuống các quốc gia xa lạ và chuyển lên tàu chúng những sắt thép ăn cướp được. Chúng đang gấp rút ăn cướp quặng thép ở vùng biển Barents trong đám âm thanh thần bí, hãy làm cho âm vang của chiến thắng truyền đến những vùng chúng đang gây ra tội ác!…
Chúng tôi – bác sĩ, Katya và tôi – bỏ tất cả thì giờ cá nhân vào việc chọn lựa và nghiên cứu những tài liệu tìm được của đội thám hiểm tàu “St. Maria”.
Không biết việc in tráng số phim ảnh của đội thám hiểm với việc lựa chọn tài liệu, việc nào khó hơn. Mọi người đều biết rằng, thời gian càng dài, màu sắc của phim ảnh càng nhạt đi. Vì thế trên hộp chứa phim đều có ghi thời hạn bảo hiểm, quá hạn ấy, nhà máy sản xuất ra số phim ấy không chịu trách nhiệm nữa. Thời hạn bảo hiểm của những phim tàu “St. Maria” mang theo là đến tháng Hai năm 1914. Chẳng những thế, giấy bọc bị thấm nước, phim bị ướt sũng trong một thời gian rất dài. Ngay đến người thợ rửa ảnh giỏi nhất của hạm đội miền Bắc cũng nói rằng, ý định muốn dùng số phim này là một “mơ tưởng viển vông”, ngay đến những người có kinh nghiệm như họ cũng đành chịu bó tay. Nhưng cuối cùng tôi đã thuyết phục được họ. Kết quả trong bộ một trăm hai mươi kiểu ảnh được tráng rửa cẩn thận, có khoảng năm mươi kiểu được coi là có thể “xử lý thêm để dùng”. Qua nhiều lần phục chế, đã có được hai mươi hai phim rất rõ nét.
Tôi đã đọc được nhật ký của người hoa tiêu tên là Klimov. Nét chữ của ông nhỏ, láu, lại bị nước làm nhòe nên khó đọc. Đó là những tờ giấy rời được đóng gộp lại thành một quyển. Còn các thứ tài liệu của thuyền trưởng Tatarinov, ngoài bức thư vĩnh biệt cùng một số ảnh được bảo vệ tốt ra, các thứ khác đều bị dính chặt lại thành cục. Đương nhiên là bản thân chúng tôi không đủ khả năng gỡ tách chúng ra, biến chúng thành những văn bản và bản đồ có ích được. Do đó việc này được giao cho một đồng chí có kinh nghiệm lãnh đạo tách gỡ trong phòng thí nghiệm đặc biệt. Trong số tài liệu của thuyền trưởng Tatarinov vừa tìm được, có một quyển dày, nội dung khá phong phú, nhưng chúng tôi không dự định trình bày kỹ ở đây vì sự hạn chế về số trang của quyển sách này. Điều tôi muốn nói là ông dựa vào các kết quả bản thân quan sát được, đã đi đến một số kết luận, và căn cứ vào công thức ông đề ra, có thể tính toán được tốc độ và phương hướng chuyển động của các dòng băng ở bất cứ khu vực nào trên Bắc Băng Dương. Thoáng qua, đây là một thành tựu khó được tin cậy, vì căn cứ vào đoạn đường ngắn ngủi mà tàu “St. Maria” đã kinh qua thì ai cũng nghĩ rằng rất khó có thể đạt được một sự tổng kết rộng lớn như thế được. Song chân lý không cần nhiều biện luận.
“Tuy mình đã đọc hết sự tích của cả đời thuyền trưởng Tatarinov, nhưng mình vẫn chưa tìm thấy trang cuối cùng”, – tôi thường tự nhủ như thế.
“Công việc đã kết thúc đâu nào, – tôi tự trả lời như vậy. – Biết đâu sẽ có ngày mình sẽ tìm thấy và đọc được trang cuối cùng ấy”.
Ngày ấy đã đến. Tôi đã đọc được hết sự tích bất hủ của đời ông.