Máy bay đã cất cánh. Mưa phùn hòa lẫn trong sương mù, nếu ở trên mặt đất thì chúng tôi chẳng thèm đếm xỉa đến chúng. Nhưng bây giờ, chỉ mấy phút nữa thôi, chúng sẽ trở thành một bộ phận quan trọng trong chuyến bay của chúng tôi. Chuyến bay này cũng giống như những chuyến bay khác, chia làm hai phần: nhiệm vụ và những yếu tố cản trở việc hoàn thành nhiệm vụ.
Chúng tôi lượn một góc rất nhỏ, lọt vào tuyến bay.
Nhiệm vụ của chuyến bay này, hay nói theo cách của đồng chí thượng tướng “nhiệm vụ đặc biệt” của chuyến bay này là: một chiến hạm đặc biệt của bọn Đức (rõ ràng nó là một loại tuần dương hạm bổ sung) lọt vào vùng biển của ta, đánh phá cảng bí mật, hiện nay nó đang quấy rối ở phía đông. Nhiệm vụ của tôi là tìm ra nó và đánh chìm nó càng nhanh càng tốt. Vì có một đội tàu vận tải vật tư quân sự của ta đang tiến vào vùng biển phương Bắc và đang tiếp cận cảng bí mật. Tóm lại, trên vùng biển hòa bình, một chiến hạm to như thế có thể gây ra bao điều nguy hại là điều rất dễ nhìn thấy.
Tuy rất khó khăn, nhưng cuối cùng chúng tôi đã đưa máy bay lên độ cao năm nghìn năm trăm mét. Trên độ cao này, ngoài biển mây dày đặc bị khuấy nháo nhào lên như cháo, không còn một thứ gì khác.
Vấn đề ở chỗ: tìm và đánh đắm cho được nó. Nhiệm vụ trước phức tạp tới mức hầu như không thể nào so sánh được với nhiệm vụ sau. Khi tôi chữa lại vị trí toàn bộ các đảo ở phía đông trên bản đồ của thượng tướng, ông tỏ ra hết sức kinh ngạc.
- Trước kia đồng chí đã đến đây rồi à?
- Chưa bao giờ ạ.
Ông không hiểu được rằng, tôi có thể nói là đã đến, cũng có thể nói là chưa đến đấy. Bản đồ quần đảo Nordenskiöld này là do đội thám hiểm Norda hiệu chỉnh hồi trước chiến tranh. Tôi tuy chưa đến đây, nhưng thuyền trưởng Tatarinov đã từng đến đây. Vì thế, về mặt tư tưởng, tôi đã từng theo ông chu du hàng nghìn lần trên những hòn đảo ấy.
Bác sĩ Ivan Ivanovich nói rất chí lí: mọi sự cố gắng đều không vô ích! Cuộc sống như một dòng thác chảy ngầm trong lòng đất, nó xuyên qua bóng tối, qua sự yên tĩnh của đêm dài vô tận. Nó chảy lúc về hướng đông, lúc về hướng tây, lúc thẳng hướng, lúc lại như máy bay của chúng tôi đang xuyên qua các lớp mây, đột ngột lọt vào một khoảng trời trong, hướng về phía mặt trời và ánh sáng… Phải chờ đến khi lao được ra ngoài, mới cảm thấy hết rằng những sức lực bỏ ra là không vô ích!
Tôi luôn luôn nghĩ thế này: nếu tôi tìm được Katya, nếu chúng tôi chung sống ở phương Bắc thì rồi cuộc sống của chúng tôi sẽ như thế nào? Chắc chắn là những hôm như hôm nay trước khi tiến hành cuộc bay, vào lúc ba giờ đêm, tôi sẽ ghé qua nhà và nàng sẽ thức dậy đón tôi với bộ mặt hồng hào, với đôi mắt ngái ngủ đáng yêu. Có lẽ lúc đó tôi sẽ đến bên nàng, hôn nàng và trong giây lát nàng liền hiểu ngay rằng lần này thượng tướng đã giao cho tôi một nhiệm vụ quan trọng và lý thú như thế nào.
Những ý nghĩ như thế đã đến với tôi hàng trăm hàng nghìn lần, nhưng không biết rồi đây còn có dịp thực hiện được không?
Cũng như dạo sống ở Sarabuz, Leningrad, Vladivostok, sau khi bị tôi đánh thức, nàng ngồi cùng tôi uống cà phê. Nàng mặc chiếc áo khoác dài và tết tóc thành bím để tiện nằm. Trong lúc đang âu yếm nhìn tôi, nàng chợt đứng dậy và đi đâu đó, thì ra nàng đã để dành cho tôi một món ăn ngon – cả hai chúng tôi đều thích ăn quả anh đào cay hoặc quả ô-liu. Và sau đó cả tổ bay chúng tôi đều được ăn quả ô-liu hoặc quả anh đào cay và hết lời khen ngợi vợ tôi.
Đó là Katya của tôi. Nàng là một con người thanh tao lịch lãm và hết sức cao thượng, ở nàng có một tình yêu nồng nàn say đắm mà đến lúc chết tôi cũng không sao quên được. Thế mà giờ đây, về nàng, ngoài cái điều duy nhất tôi có thể biết được là nàng không còn ở bên cạnh tôi nữa, tôi không được biết gì hơn. Dầu sao, đấy cũng là một trong những nguyên nhân phải tìm cho ra tàu địch và tiêu diệt nó ngay.
- Đồng chí hoa tiêu, chú ý hướng bay.
Hướng bay của phi công và hướng bay của hoa tiêu lệch nhau ba độ. Khi chúng tôi bỏ ra khỏi túi những hộp sắt đựng thuốc lá, đèn pin, bật lửa, thì hướng bay hoàn toàn khớp nhau.
Tôi vừa mới nghĩ những gì nhỉ? À, nghĩ về Katya. Tôi đang nghĩ đến mảnh đất mà tôi đang bay ở bên trên nó, đó là nơi mà tôi và nàng đã từng chuẩn bị đi đến mà mãi mãi vẫn chưa đến được.
Lúc đầu chẳng phải là tôi đã từng đinh ninh rằng rồi sẽ có một ngày tôi ngồi máy bay đến nơi này đấy sao? Chẳng phải tôi đã từng vạch ra đường bay này một cách hết sức chính xác, chính xác tới mức không lệch quá nửa độ đó sao? Và tuyến bay này chẳng phải là hoàn toàn giống như cảnh trong một giấc mơ hồi còn nhỏ của tôi, rằng các thủy thủ trên tàu “St. Maria” đã phải nhắm nghiền hai mắt lại vì sợ ánh sáng chói chang ở vùng này đó sao? Họ bước đi, đằng trước họ là một người to lớn mang ủng lót lông…
Nhưng tất cả những cảnh tượng đó đều nằm trong một giấc mộng. Tôi cố gạt cơn mộng ấy đi. “Đất mới” không còn xa mấy nữa.
* * *
Nếu kể lại tỉ mỉ quá trình tìm kiếm chiếc hạm địch thì mọi người sẽ cảm thấy khô khan vô vị. Mặt biển Bắc cực chỗ nào cũng giống nhau, tìm cho ra một chiến hạm đã được ngụy trang kỹ giữa mặt biển mênh mông là việc rất khó khăn. Chúng tôi bay hết từ căn cứ này sang căn cứ khác, hầu như bay liền trong hai tuần lễ. Có lần chúng tôi bay liên tục bảy tiếng đồng hồ liền. Bay ít giờ sẽ đỡ vất vả hơn, chẳng hạn như lần này sau khi bay hai vòng trên biển Kara, chúng tôi quay về Đất mới, nhưng suýt nữa thì không tìm ra nó. Sau kiểm tra thấy còn nhiên liệu, chúng tôi bình tĩnh cho máy bay lượn những vòng nhỏ trong màn sương mù dày đặc bên trên Đất mới. Chúng tôi quả là đã gặp vận may, nếu như không có cơn gió mạnh đẩy dạt đám sương mù dày đặc ấy đi, tạo thành một khe sáng nhỏ, thì e rằng tôi đã không thể hoàn thành quyển sách này. Chúng tôi vội vàng cho máy bay men theo khe hở ấy và tranh thủ hạ cánh.
Rõ ràng tất cả những điều bất hạnh đã xảy ra đó là kết quả của cơn giận dữ của Chúa trời với chúng tôi. Có một lần, đứng về phía chúng tôi mà nói thì thật là chẳng có gì sai trái cả. Nhưng Chúa lại chơi khăm chúng tôi, bày ra trước mắt chúng tôi không phải một hoặc hai mà đến những năm mặt trời. Đấy là những ông “mặt trời giả” mà trong văn học đã từng được miêu tả. Nhưng khi nhìn thấy chúng cứ treo lơ lửng mãi ở trên đầu, chúng tôi bất giác nhớ đến những câu chuyện mang nặng màu sắc tôn giáo cổ xưa.
Một lần khác, vào dịp chúng tôi đi thuyền độc mộc ra đảo, thấy có đến hàng triệu hải âu Bắc cực với màu lông đen trắng nổi bật, đỗ dày đặc trên bờ đảo dài có đến hơn một ki-lô-mét. Trông xa như ở đó được rắc lên một lớp muối dày. Đám hải âu đập cánh, gọi nhau lao nhao. Có những chú bị trượt chân ngã chúi xuống, lại có những chú lấn huých xung quanh để tranh một chỗ đứng trên mặt đá thoai thoải. Trong mớ âm thanh hỗn loạn đó vẫn có thể nghe rõ những tiếng kêu nổi bật, cũng tựa như trong một cái chợ huyên náo, vang cao lên tiếng gào chửi của những bà lắm điều. Trước cảnh tượng ồn ào, hỗn tạp đó chỉ có thể nhìn thoáng qua, hoặc tốt hơn hết là lánh xa nó ra. Nhưng không biết cậu báo vụ viên của chúng tôi đã đọc được ở đâu một câu chuyện nói về một hải âu đầu đàn, và xúi quẩy hơn nữa là cậu ta vừa phát hiện có hai hòn đảo lớn như nhau nằm kề bên nhau bị bầy hải âu chiếm cứ. Cậu ta nã một phát súng, giết chết con hải âu đầu đàn. Vì phát súng chết tiệt ấy mà chúng tôi phải chịu đựng một đòn trừng phạt thật khốn khổ. Thật chúng tôi chẳng còn nhìn thấy trời đất gì nữa! Hàng nghìn hàng vạn con hải âu la ó ầm ĩ, bay rời khỏi đảo và ào ào lao về phía chiếc thuyền nhỏ của chúng tôi. Một trận tiếng đập cánh nghe dữ dội như có một cơn bão từ trên trời ập xuống đầu chúng tôi. Sau vụ này, chúng tôi phải bỏ ra một ngày một đêm ròng rã để kỳ cọ con thuyền và tắm giặt, thậm chí trong một túi áo đã cài kín nắp, tôi cũng tìm thấy phân hải âu.
Nói chung lại hai tuần lễ ở trên vùng Đất mới là hai tuần hết sức gian truân. Tuy trong thâm tâm tôi biết rằng cần phải đi tìm chiến hạm của địch ở một vùng biển xa hơn về phía đông. Nhưng rồi lần cất cánh nào tôi cũng nuôi hy vọng là có thể tìm thấy nó ở ngay trong vùng này. Chúng tôi quần đi đảo lại trên mặt biển không biết đến bao nhiêu lượt, mãi đến khi nhiên liệu sắp cạn và cậu hoa tiêu hỏi tôi, giọng lạnh lùng: “Về chứ?” Chúng tôi mới quay trở về nhà. “Nhà” của chúng tôi là hai dãy núi hoang to lớn, hiểm trở, một nằm về phía tây, một nằm về phía đông, cùng một thung lũng đầy tuyết và băng.
Ngày kết thúc cuộc sống trên Đất mới cuối cùng đã đến với chúng tôi. Về giây phút tuyệt diệu này, cũng cần kể rõ một chút.
Lúc ấy, tôi đứng trong hầm máy bay. Trên nóc hầm treo lủng lẳng những con chim đã bị bắn chết. Trên bốn bức tường treo những bộ da hải cẩu khô cứng. Hai đứa trẻ mặc những chiếc áo da kín cổ mà chúng vẫn thường mặc, đi chơi la cà trên bờ biển, trông như hai con đà điểu. Mẹ của hai đứa trẻ thấp bé như một cô gái, bố chúng cũng gầy nhỏ như vậy. Một cái đầu nhỏ nhô ra ngoài chiếc áo da nai, chúng tôi nói chuyện với nhau khá thoải mái. Tôi còn nhớ, lúc đó chúng tôi nói với nhau về tình hình quốc tế. Tuy trong câu chuyện của mình, tôi đã dùng đến những tài liệu thu nhặt được trong một tờ báo “Sự thật” đã rất cũ, để chứng minh rằng bọn Đức đã đến lúc mạt vận, không sao tự cứu vãn nổi. Nhưng anh bạn của tôi đã coi đó là một tin mới toanh và anh ta định ngay trong ngày hôm đó đến kể cho một người bạn ở tương đối “gần” – chỉ cách khoảng hai trăm ki-lô-mét – nghe. Người vợ thấp nhỏ của anh ta tuy có vẻ không hiểu biết mấy về chuyện chính trị, cũng gật cái đầu có mớ tóc đen nhánh được cắt theo hình trăng non và luôn miệng nói xen vào.
- Vâng, vâng, đúng thế!
- Anh có muốn ra mặt trận không? – Tôi hỏi anh bạn địa phương.
- Muốn chứ!
- Anh không sợ à?
- Có gì mà đáng sợ kia chứ?
Vào giữa lúc này tôi chợt nhìn thấy cậu hoa tiêu đang chạy lại phía tôi. Cậu ta chạy lại từ chỗ đỗ của máy bay.
- Có lệnh chuyển địa điểm!
- Đi đâu?
- Đến thành phố Zapolyarye!
Rõ ràng là cậu ta vừa nói đến thành phố “Zapolyarye”. Điều chúng tôi đến Zapolyarye có nghĩa là đưa chúng tôi đến đúng nơi mà tôi vẫn nghĩ rằng cần phải đến đó để truy lùng hạm địch. Đấy là điều rất hợp lý, song tôi vẫn không khỏi ngạc nhiên, có lẽ vì đó chính là thành phố Zapolyarye của tôi!
- Không có lẽ!
Cậu hoa tiêu lại làm ra cái vẻ lạnh lùng, thản nhiên thường ngày kiểu Latvia của mình.
- Đồng chí ra lệnh kiểm tra máy bay chứ?
- Không cần.
- Bao giờ thì chúng ta cất cánh?
- Sau hai mươi phút nữa.