Đối với tôi, Hội đồng Giám định y khoa cũng là một thứ tòa án. Lần nào ở trước mặt cái tòa án này tôi cũng phải thú nhận rằng mình có tội. Vì tôi sinh ra không được là một chàng trai cao lớn đẫy đà, vai rộng ngực nở cằm vuông. Khi bị lột hết quần áo và đứng trình diện trước mặt hội đồng, tôi lại có cái ý nghĩ không lấy gì làm hào hứng ấy. Tôi co chân hạ thấp người xuống, nhắm mắt lại và đưa thẳng hai tay ra phía trước. Tôi cố sức giữ để hai tay không bị run. Sau đó kiểm tra sức hoạt động của cái chân bị thương rồi phải đứng từ thật xa để đọc những dòng chữ cái nhỏ li ti. Cuối cùng một bà bác sĩ tóc đã hoa râm đến nghe tim tôi, đồng thời dùng ngón tay hết gõ vào ngực lại gõ vào lưng tôi. Rõ ràng là trong ngực tôi có cái gì đó làm cho bà ta không hài lòng. Bà dừng lại, cau mày, rồi lại gõ một lượt nữa như thử đàn dương cầm. Sau đó bà ra lệnh:
- Thở mạnh!
Khi đến Hội đồng Giám định y khoa, điều làm tôi lo lắng hoàn toàn không phải là cái phổi. Tuy hồi bé tôi có bị cúm Tây Ban Nha và sau đó bị biến chứng, nhưng phổi vẫn rất tốt. Thế mà bây giờ, không biết tại sao cũng chính cái phổi ấy lại làm cho bà thiếu tá bác sĩ già nghi ngờ. Bà ta hết gõ vào ngực tôi, lại xoay người tôi qua lại như cái máy; tuồng như bà muốn chứng minh rằng tôi đã bị ốm, đã bị ốm… Và không thể nào tiếp tục bay được nữa.
Tôi giấu cái ý nghĩ đáng sợ rằng không thể tiếp tục bay được nữa vào góc kín nhất của tâm hồn. Tôi giấu kín nó và dùng những sự việc hàng ngày để che lấp nó. Song cái ý nghĩ ấy vẫn không chịu chết, nó cũng chẳng chịu rời đi chỗ khác, mà cứ bám chặt vào một chỗ nào đó bên cạnh nỗi nhớ thương Katya để giày vò tôi.
Nhưng lúc này đây, khi tôi đứng trần trước Hội đồng Giám định y khoa, tất cả các vết thương trên chân và trên lưng đều để lộ ra ngoài thì cái ý nghĩ trên kia cũng càng lộ ra rõ rệt không tài nào giấu giếm nổi, dù đối với tôi hay đối với người khác. Hình như một nữ bác sĩ đã đọc được cái ý nghĩ ấy từ trong đáy mắt của tôi, nên tuy bà cầm bút lên, bà lại lưỡng lự khi viết những lời kết luận về sức khỏe của tôi. Cuối cùng bà phải đưa tấm phiếu khám cho chủ tịch hội đồng. Vị bác sĩ to béo đeo kính lão liền cầm búa nhỏ gõ vào các khớp xương và xương vai của tôi. Tiếng búa gõ vang lên lúc cao lúc thấp, như đang cất tiếng hỏi:
- Anh bị bệnh phổi rồi phải không? Bệnh rồi phải không? Anh không thể tiếp tục bay được nữa phải không?
- Bình tĩnh, đồng chí đại úy, – vị bác sĩ già nói. Ông ngước mắt nhìn tôi và đeo ống nghe vào tai. – Chỉ cần điều trị thêm ít lâu nữa thì rồi sẽ tốt cả thôi.
Ông nghe tim tôi một lúc rồi ghi một số ký hiệu lên phiếu khám. Xong ông nói với tôi, giọng rất thân mật.
- Mọi việc rồi sẽ tốt cả thôi.
Nhưng ông lại cho tôi nghỉ hẳn nửa năm. Tôi biết rất rõ rằng trong những năm như năm 1942 ấy mà Hội đồng Giám định y khoa lại quyết định cho một chỉ huy bộ đội chiến đấu nghỉ dài hạn như thế, thì đủ biết tình trạng sức khỏe của tôi như thế nào rồi.
Khi tôi trở về quân y viện, sắc mặt hình như không được bình thường. Người nằm bên cạnh tôi là một đồng chí ở lục quân, tuy hai chân anh không còn nhưng sau mỗi lần anh tắm xong và được khiêng từ trong nhà tắm ra, sắc mặt anh hồng hào đến nỗi khiến ai cũng phát ngạc nhiên. Lúc này, anh ta bỏ quyển sách đang cầm trên tay xuống, ngước nhìn tôi và chẳng hỏi han gì cả. Sau đó một lúc, tưởng như không ghìm được, anh ta hỏi tôi:
- Này, thế nào?
Rõ ràng là trong lời kết luận, các bác sĩ không hề viết rằng tôi đã bị tàn phế, nhưng không hiểu sao tôi đã trả lời với anh ta đúng như thế. Bữa cơm trưa hôm ấy tôi đã cố gắng ăn hết, nhưng chẳng thấy ngon chút nào. Tuy lúc này tôi rất muốn nằm và vùi đầu vào gối, nhưng tôi lại đi ra ngoài. Trong lời kết luận không có chữ ấy thì người ta nghĩ ngợi đến nó làm gì? Mỗi lần nghĩ đến tình hình sức khỏe của mình, tôi lại cảm thấy đau khổ và khó chịu như phải nhúng đầu vào trong vũng bùn bẩn.
Lẽ ra lúc ấy tôi phải nói khó với họ, nói khó với người bác sĩ già đã dùng búa gõ vào các khớp xương của tôi và trước sau chỉ nói mỗi một câu rằng tôi không thể tiếp tục bay được nữa. Hay tôi cần phải yêu cầu họ chuyển tôi sang cho Hội đồng Giám định y khoa của quân đội giám định lại nhỉ?
Tôi đi theo con đường dốc đến bờ sông Kama. Tôi huýt sáo mồm nhưng cố thật khẽ để không ai nghe thấy. Ở đây, trên bức tường của trường Hàng không lớn nhất thành phố, tôi lại một lần nữa đọc những dòng chữ chạm trên mặt đá: “Nhà khoa học, nhà phát minh vô tuyến điện Nga thiên tài Popov đã từng học ở đây”.
Tôi bước khập khiễng từng bước lên bờ sông vừa cao vừa dốc, dòng sông Kama đẹp đẽ bày ra trước mắt tôi. Lúc này thủy triều đang xuống, màu nước nhờ nhợ, chẳng ra xanh cũng chẳng ra vàng. Đằng kia là bến tàu, là chiếc ca-nô kéo theo đằng sau chiếc xà-lan to kềnh. Tiếng còi tàu ồn ã cùng với tiếng người lao xao lan trên mặt nước, ra tận nơi xa…
“Rất tiếc là anh không thể bay từ đây đến Leningrad được. Nếu không thì tôi đã có thể giúp anh”.
Không sao, rồi mọi việc sẽ tốt lành cả. Hãy chuồn lên máy bay thôi, chẳng cần thủ tục phê chuẩn gì cả! Bây giờ thì mày sẽ phải chuyển từ ghế của người lái xuống ghế hành khách rồi. Ghế ngồi êm lắm, hãy ngả người ra và nghỉ ngơi cho thật khỏe!
Hình như tôi đã buột miệng nói ra những lời đó, vì một nhóm “học sinh công nghệ” đang đứng trên bờ sông – họ mặc những bộ quần áo và đội những chiếc mũ rộng thùng thình – bỗng nhìn tôi cười rộ lên và bám theo sau tôi một đoạn đường. Việc đó khiến tôi chợt nhớ đến cảnh tôi cùng Katya về Ensk sau khi tôi từ Tây Ban Nha trở về. Có một đám trẻ con Ensk bám theo sau lưng tôi và bắt chước mọi động tác của tôi. Khi tôi dừng lại và vào quầy hàng mua thuốc lá, chúng cũng dừng lại và vào mua cùng một loại thuốc lá ấy. Tôi muốn bơi, liền tiến ra bờ sông, để Katya ở lại trong vườn hoa nhà thờ, tôi cởi áo quần và nhảy xuống nước. Bọn chúng cũng đến một chỗ cách tôi không xa, cởi áo quần và nhảy xuống nước. Lúc ấy tôi là một phi công vừa chiến đấu từ Tây Ban Nha về, trên ngực đỏ rực những chiếc huân chương cờ đỏ. Còn bây giờ?
Những ngón tay của tôi run lên, nhưng tôi vẫn cố vấn xong điếu thuốc và châm lửa hút. Tôi đứng trơ ra hồi lâu trên bờ sông, nhìn cuộc sống nhiều vẻ và hoàn toàn xa lạ đối với tôi đang diễn ra trên mặt sông kia. Một chiếc tàu khách màu xám chạy lướt qua. Tôi đọc được tên của nó “Lyapidevsky” và nghĩ bụng: “Tại sao mình không là Lyapidevsky nhỉ?” Lát sau, một chiếc tàu khác không lớn lắm lại chạy qua, tên của chiếc tàu này là “Kamanin”, tôi lại nghĩ bụng: “Anh chàng xấu số ơi, anh cũng không được là Kamanin đâu!” Chiếc tàu “Mazuruk” đang cập vào một bến xa, tôi bất giác bật cười và nghĩ, nếu tất cả các chiếc tàu này đều mang tên các phi công nổi tiếng thì có lẽ tôi sẽ tự than thân trách phận đến hết đêm mất.
Dù sao đi nữa thì bây giờ cũng không có ai ngăn nổi tôi đáp máy bay về Leningrad để tìm Katya hoặc để biết rõ rằng nàng đã vĩnh viễn rời khỏi tôi.
Tôi chầu chực chờ máy bay đã đến ba tuần lễ. Không rõ vì tôi đã quen với bệnh của mình hay vì niềm hy vọng đã len vào tim và nói với tôi những lời êm ái, rằng mọi việc rồi sẽ trôi qua êm đẹp, mà bây giờ đây tôi đã dần dần bình tĩnh trở lại và bắt đầu sống với những tình cảm và ý nghĩ quen thuộc trước đây của mình.
Lúc này đây mọi ý nghĩ của tôi đều dồn vào Katya. Khi nghe đài phát thanh phát đi khúc nhạc Katya hằng ưa thích: “Bản tình ca của Nina”, tôi lại nhớ nàng. Khi xem các thương binh biểu diễn, tôi lại cũng nhớ đến nàng. Trước đây chúng tôi ít đi xem hát với nhau quá. Trong phòng bệnh rộng lớn, mọi người đều đã ngủ say, chỉ có tiếng thở, tiếng rên cùng tiếng nói mê. Lúc này tôi lại nhớ đến Katya.
Cuối cùng Anya Ilina đã gọi điện đến bệnh viện báo cho tôi biết là máy bay đã tới. Chị giới thiệu tôi làm quen với đồng chí phi công. Anh ta là một thiếu tá cao to được Bộ tư lệnh Mặt trận Leningrad cử bay đến thành phố này. Anh vui vẻ nhận đưa tôi về Leningrad.