Chúng tôi xuất kích lúc hai giờ đêm và đến lúc bốn giờ rưỡi đã đánh chìm chiếc pháo hạm của bọn Đức. Đúng là chúng tôi không được tận mắt nhìn thấy cảnh chìm của nó. Nhưng đích thực là sau khi ăn quả ngư lôi của chúng tôi, như lời của các đồng chí hải quân thường nói, nó bắt đầu “độn thủy”, nghĩa là nó chựng ngay lại và lập tức bị mất hút trong đám khói hơi nước mù mịt.
Nói gọn lại thì toàn bộ câu chuyện này xảy ra đại thể như vậy. Khi còn chạy, chiếc hạm ấy đã chạy với cái vẻ hết sức ung dung bình thản, khiến xảy ra một cuộc tranh luận nhỏ giữa tôi với cậu hoa tiêu. Chúng tôi tranh cãi với nhau nó có phải là hạm tàu của hạm đội miền Bắc chúng ta không. Sau khi khẳng định là không phải, chúng tôi liền rời ra khỏi chiến hạm, theo thói quen của cậu hoa tiêu. Sau đó vòng gấp lại, đâm bổ về phía mục tiêu.
Rất tiếc là tôi không thể kể ra đây được những động tác khá phức tạp mà tôi đã phải dùng đến để cố gắng phóng ngư lôi thật chính xác vào mục tiêu. Đường bay của chúng tôi gần như một con số 8 tròn trĩnh. Trên đường bay đó, tại điểm giao tôi đã phóng đạn hai lần, lần đầu không đạt kết quả. Sau đó chúng tôi bắt đầu “bò” ra xa, nói như thế thực không sai chút nào, vì bọn Đức nào có chịu ngồi không bó tay chờ chết.
Lần thứ nhất lao vào mục tiêu, cậu phụ trách phóng đạn thét lên:
- Có khói trong khoang lái!
Lần thứ hai lao vào mục tiêu, tôi nghe ba tiếng va chạm rất mạnh. Nhưng lúc đó tôi đang cắn chặt răng, lao thẳng vào chiến hạm của quân giặc, nên không có thì giờ nghĩ đến những thứ khác. Còn bây giờ thì tôi hoàn toàn có đủ thời gian để chứng minh rằng lúc đó máy bay của chúng tôi đã bị bắn hỏng. Xăng và dầu nhờn chảy tung tóe ra ngoài. Nếu cậu hoa tiêu không nhanh tay sử dụng một phương pháp đặc biệt, thì tôi đã bị thiêu cháy từ lâu rồi. Khi máy bay đang ở trên đầu mục tiêu, chiếc mô-tơ bên phải bỗng tự dưng tăng vọt tốc độ lên đến mức kinh khủng.
Tất nhiên là chúng tôi có mang theo một số xuồng cấp cứu phòng khi rơi xuống biển. Lúc này hoàn toàn đã có thể ra lệnh cho cả tổ bay nhảy dù. Chúng tôi đã từng tập dượt nhảy dù trong tình huống này trên mặt hồ yên tĩnh gần vùng Arkhangelsk. Lúc ấy chúng tôi đã trải qua những giờ phút rét cóng người khi vừa chui từ dưới nước lên. Nhưng ở đây, ở phía dưới chúng tôi kia, không phải là mặt nước hồ yên tĩnh mà là một lớp băng dày, nhác trông đã thấy rợn người.
Tôi không định kể ra đây tất cả mọi chi tiết đã xảy ra trong chuyến bay mà các đồng chí trong tổ bay đã báo cáo, bởi nó rất nhiều, nhiều hơn cả những điều tôi muốn nghe. Tôi còn nhớ, sau khi báo cáo cho tôi những tin tức đáng buồn, cậu hoa tiêu hỏi tôi:
- Sanya, chúng ta vẫn bay tiếp chứ?
Không bay tiếp sao được. Chúng tôi chui vào một đám mây lớn. Tôi nhìn thấy cái bóng in màu sặc sỡ của thân máy bay xuống tầng mây phía dưới. Hiềm một nỗi là máy bay đang mỗi lúc một tự xuống thấp. Về phần tôi, quả thực là không phạm sai lầm gì trong cương vị chỉ huy của mình. Đột nhiên máy bay nghiêng hẳn sang một bên. Nếu đúng là trên đời này có thần chết, thì rõ ràng là chúng tôi đã nhìn thấy bộ mặt của nó qua đôi cánh của chiếc máy bay trong lúc nó đang đâm sầm xuống mặt bể.
… Chính tôi cũng không rõ mọi việc xảy ra như thế nào, nhưng cuối cùng thì tôi đã đưa máy bay thoát ra khỏi vòng nguy hiểm. Để giảm nhẹ trọng lượng máy bay, tôi ra lệnh ném giá đỡ của súng máy. Mười phút sau, bản thân chiếc súng máy cũng bị quẳng xuống biển.
- Sanya, chúng ta vẫn bay tiếp chứ?
Tất nhiên phải bay tiếp! Tôi hỏi cậu hoa tiêu còn cách bờ biển bao xa. Cậu ta trả lời là không còn xa nữa, chỉ cần bay khoảng hai mươi sáu phút nữa thôi. Nhưng rõ ràng là cậu ta nói dối để tôi được yên tâm, chứ tôi biết ít ra cũng phải bay đến ba mươi phút nữa mới đến bờ.
Trong đời mình, đây không phải là lần đầu tiên tôi sốt ruột đếm từng phút thời gian. Đã từng có những lần, tôi ghìm nỗi bất an trong lòng, tuyệt vọng và căm giận đếm từng phút một trôi qua. Có những lúc tôi cảm thấy chúng lăn đi nặng nề, chậm chạp như những tảng đá khổng lồ nghiền qua trái tim, tôi đau đớn chờ đợi, chờ đợi cái giây khắc trôi qua của những tảng đá thời gian.
Lần này tôi không khoanh tay ngồi im. Như một kẻ cuồng nhiệt, tôi hăm hở xô đẩy, thúc giục lão già thời gian lao nhanh về phía trước. Và cũng bởi sự cuồng nhiệt đầy xúc động đó, trong lòng tôi thậm chí như dâng đầy một khoái cảm mãnh liệt và đáng sợ.
- Sanya, chúng ta có thể bay tiếp được nữa không?
- Tất nhiên là có thể!
Mà thực, chúng tôi đã bay được đến bờ. Khi cách bờ khoảng một cây số rưỡi, chúng tôi liền cho máy bay xuống thấp để hạ cánh, vội vã đến mức không kịp nhìn vào bờ nữa. Kể cũng lạ, chúng tôi không bị chết chìm dưới đáy biển, mà vừa khéo, hạ cánh trên một bãi cát sát mặt nước. Một đợt sóng lớn chồm vào, phủ ướt chúng tôi từ đầu đến chân. Trong bản tin chiến sự sắp tới của Cục thông tin chắc sẽ đưa tin: “Một máy bay của ta đã không trở về căn cứ”. Nhưng những đợt sóng đang dồn dập phủ lên đầu chúng tôi đây, cùng những nỗi đau đớn căng thẳng mà chúng tôi đã phải chịu đựng trong suốt một tiếng đồng hồ trước khi đưa được máy bay đến chỗ này, nếu đem so sánh với mẩu tin ngắn ngủi kia thì nó còn có nội dung phong phú hơn nhiều lắm!
Tại sao tôi lại đoán rằng đây là vịnh Middendorff, và từ đó quả quyết rằng chúng tôi đã hạ cánh xuống một vùng cách rất xa dân cư? Chúng tôi cũng không rõ. Khi còn bay trên mặt biển, cậu hoa tiêu không có thì giờ và tâm trí để tính toán tất cả mọi thứ. Điều duy nhất mà cậu ta quan tâm là đưa máy bay đến một bờ biển nào đó.
Đến bây giờ vì tôi ra lệnh phải cố định máy bay lại, nên cậu ấy cũng chưa có thì giờ tính toán lại. Chúng tôi làm việc cật lực, cho đến khi lần lượt gục xuống trên mặt cát, giữa những tảng đá bị ánh nắng mặt trời sưởi nóng. Chúng tôi nằm im lặng nhìn lên bầu trời trong xanh mênh mông không một gợn mây, không một vết bẩn. Mỗi chúng tôi đều nghĩ về những chuyện riêng của mình, mà chuyện riêng của từng người thì đều được quyết định bởi một cảm giác chung “chiến thắng!”.
Chúng tôi nằm im và kiệt sức, đến nỗi không buồn phủi những đám cát dính trên mặt, nhưng biết rằng chúng đang rơi dần xuống sau khi đã được mặt trời hong khô. Thế là chiến thắng rồi. Chiếc tẩu thuốc đeo lủng lẳng trên ngực cậu hoa tiêu đã tắt ngấm từ lâu, đột nhiên cậu ta ngáp rõ to, chiếc tẩu lăn sang một bên rơi xuống mặt cát. Thế là chiến thắng rồi. Ngoài việc nằm im ngắm nghía bầu trời xanh thẳm hết sức uy nghi và cảm giác lớp đá sạn phía dưới cánh tay ấm dần lên, thực không còn muốn gì nữa. Thế là chiến thắng rồi.
Tất cả đều là thắng lợi, ngay cả cái đói giờ đây cũng là một thắng lợi. Số bánh mì bà Anna Stepanovna đã gói cho tôi mang theo ăn dọc đường đang để trên máy bay, nhưng tôi không sao tự ra lệnh cho mình đứng dậy đi lấy được…
Công việc kiểm tra máy bay của chúng tôi không có gì đáng nói nhiều. Cậu bắn súng máy báo cáo rằng trong khoang ngồi có khói. Rõ ràng đó là nguyên nhân về sự có mặt của viên đạn bắn lên từ hạm địch. Nếu không tính khoảng vài trăm vết đạn mà chiếc máy bay này đang mang trên mình thì diện mạo bên ngoài của nó còn đẹp đẽ hơn nhiều so với những chiếc mà trước đây tôi đã từng phải cưỡng bức hạ cánh. Nhưng nó có một khuyết tật cơ bản là không thể cất cánh được nữa, và với số dụng cụ đồ nghề trong tay, chúng tôi không thể hồi phục được động cơ của nó.
Chúng tôi đã chén một bữa ra trò: chầu thứ nhất có sữa bột, kẹo sô-cô-la và canh nấu từ sữa khô. Chầu thứ hai cũng ăn canh, nhưng lần này chỉ là canh suông. Trong lúc ăn mọi người quyết định:
1. Cố định máy bay ở nguyên vị trí của nó. Vì nó đang tụt dần vào chỗ cát lún, mà chúng tôi thì không làm sao có đủ sức kéo nó qua mặt bờ biển vừa cao vừa dốc.
2. Cậu bắn súng máy ở lại trông coi máy bay.
3. Đi tìm người đến giúp.
Tôi quên chưa nói đến việc này: trong lúc chúng tôi đang vật vã bay trên mặt biển, cậu phụ trách điện đài nhìn thấy có một đoạn bờ khác có một cái gì giống như là nhà hay một cái giá cao làm bằng gỗ. Nhưng khi máy bay của chúng tôi vào đến bờ thì cái vật ấy bị che khuất, không nhìn thấy nữa. Cũng có thể đó là dấu hiệu hàng hải, một vật kiến trúc rất hiếm khách qua lại. Vì vậy chúng tôi đến đó cũng không hy vọng gì lắm, nhưng may ra không phải thế thì sao?
Nhưng cũng có thể chẳng đi đâu cả. Sau khi ăn cơm, chọn một chỗ kín gió, nằm giữa các tảng đá mà nghỉ ngơi, vừa ngắm nghía những tảng băng màu xanh trong vắt vật vờ trôi qua, vừa lắng nghe tiếng sóng biển vỗ đập rền rền qua các tảng băng. Rất tiếc là máy thu thanh đã bị hỏng, mặc cho cậu phụ trách điện đài loay hoay sửa chữa, nó vẫn lặng câm như một hòn đá cứng.
Nói chung lại là dù sao cũng cần phải đi tìm. Nhưng đi về hướng nào? Rõ ràng là nên đi về hướng có cái dấu hiệu hàng hải kia, vì nó có thể là ngọn hải đăng thắp bằng điện; cũng có thể là đài tín hiệu báo sương mù hoặc một thứ gì đó tương tự như thế.
- Nhưng trước hết cần phải biết rõ là chúng ta hiện đang ở đâu? – Tôi hỏi cậu hoa tiêu.
Có đến mười lăm phút sau cậu ta mới trả lời câu hỏi của tôi. Đương nhiên là cậu ta chỉ cho biết tọa độ, nhưng không phải cái tọa độ mà tôi đã trả lời cho Ledkov khi ông hỏi tôi về vị trí lưu lại của đoàn thám hiểm Tatarinov.
Có điều là tọa độ mà cậu hoa tiêu chỉ ra rất gần với cái điểm mà tôi đã có lần chỉ ra trên bản đồ của đồng chí Ledkov, khiến tôi khi nghe xong bất giác quay nhìn ra xung quanh. Liệu có thể tìm thấy ông thuyền trưởng ở quanh đâu đây, ngay phía sau những tảng đá to tướng kia không?…