Thuyền Trưởng Và Đại Úy

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 297 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 14 Tôi Đi Tìm Katya
Chương 14 Tôi Đi Tìm Katya

❊ ❊ ❊

Thế là tôi đã phải nằm lì dưới mặt đất đến hơn sáu tháng trời nay! Làm sao có thể diễn đạt được cảm xúc của tôi khi rời mặt đất bay lên bầu trời? Mọi thứ vẫn không khác xưa. Chỉ có điều là khi tôi nghĩ rằng đây là lần đầu tiên mình phải đi máy bay với tư cách là một hành khách thì tôi bỗng cảm thấy buồn khổ vô cùng. Qua nhiều năm bay, tôi có cảm giác ở trên không dễ chịu hơn ở mặt đất. Tôi nhìn qua cửa sổ máy bay với những ý nghĩ hết sức vui vẻ. Bên dưới là những cánh đồng màu xám; những quãng sông lấp lánh quanh co cùng những cánh rừng xanh tốt. Tôi khoan khoái đi vào buồng lái, tuy ở đây không được rộng rãi, song tôi cảm thấy hết sức quen thuộc và thoải mái. Tôi hồi hộp chờ xem anh bạn phi công của tôi sẽ cho máy bay tránh cơn dông như thế nào. Chúng tôi gặp cơn dông này ở trên bầu trời Cherepovets. Cơn dông này tạo ra một cảnh tượng đẹp vô cùng, các tầng mây sáng rực lên, mang những màu sắc lộng lẫy như cảnh trang trí trong cung điện và những ánh chớp liên tiếp lao đến xé tung chúng tôi. Tôi bất giác nhớ đến những ngày đầu tiên tôi mới “đặt chân” lên bầu trời. Đấy là những chuyến bay không đơn giản nhẹ nhàng chút nào.

… Tôi vô tình bắt gặp chiếc ô-tô đến Berngardovka để chở báo “Sự thật”. Tôi xin đi nhờ đến phố Liteynyi. Từ đây trở đi chỉ có thể đi bộ, hoặc phải chờ chiếc tàu điện số Ba là chiếc tàu điện duy nhất còn chạy trên phố Petrogradskaya. Nhưng những hành khách đang đứng chờ tàu nói rằng: “Nếu chờ, có khi phải mất hàng tiếng đồng hồ”. Một đồng chí thiếu tá cứ nhất định giữ tôi lại chờ tàu vì thấy tôi mang một cái ba-lô nặng trĩu. Đấy là ba-lô đựng thực phẩm tôi mang đến cho Katya. Lúc này trong đầu tôi chỉ có một ý nghĩ, rằng cuối cùng tôi và Katya đã cùng ở trong một thành phố. Giờ phút này nàng đang làm gì. Ngóng chờ tôi hay nằm liệt trên giường bệnh, hay đã từ giã cõi đời từ lâu rồi? Tôi không sao biết được, Những ý nghĩ đè nặng lên ngực tôi làm tôi tức thở và không thể nào có đủ bình tĩnh đứng chờ tàu được.

Tôi đi như chạy trên con đường hẹp dọc theo vườn hoa. Tôi hiểu rõ những gì tôi đang nhìn thấy: những khẩu cao xạ được ngụy trang đặt trong vườn hoa nằm giữa quảng trường Marsov, một màu xanh nhạt khác thường bao phủ khắp nơi mà từ xưa đến nay chưa bao giờ có như thế ở Leningrad. Cả thành phố được quét dọn rất sạch sẽ, trước khi đến đây tôi có đọc một mẩu tin nói rằng vào mùa thu năm 1942 đã huy động hơn ba mươi vạn người dân Leningrad dọn sạch thành phố. Nhưng tất cả những gì tôi đã nhìn thấy kia lại cũng chỉ tập trung vào một điểm: hiện nay Katya ở đâu và tôi sẽ tìm được nàng không? Tôi thấy mặt kính trong các khung cửa sổ đều bị vỡ nát, các tòa nhà đứng im lìm và như buồn bã nhìn xuống. Tôi chợt nghĩ, có lẽ mình không tìm được Katya mất. Và kìa trên tất cả các bức tường đều có vết đạn làm rạn nứt, thì chắc là tôi sẽ không tìm được Katya. Nhưng sau đó tôi lại cảm thấy là tôi sẽ tìm được Katya vì ngay cả trên quảng trường có đài kỷ niệm Suvorov cũng trồng đầy dưa và rau. Chúng xanh tốt mượt mà vô cùng, tuồng như điều kiện thiên nhiên ở đây là thích hợp nhất đối với chúng. Tôi đi ra phía bờ sông Neva, bất giác đưa mắt nhìn lên đỉnh tòa nhà lâu đài của Bộ Hải quân. Tôi không biết tả cái cảm giác của mình trong giờ phút này như thế nào. Cái đỉnh của tòa nhà Bộ Hải quân như được vẽ lên trên một bức tranh cũ kỹ, đã phai hết màu. Song nó không tách rời khỏi hình ảnh của Katya. Khi bắt đầu chiến tranh, chúng tôi đã phải xa nhau một cách đột ngột. Nhưng trong chuyến chia tay lần khác để tôi đi Tây Ban Nha, bây giờ tôi vẫn còn nhớ rất rõ. Lúc này đây tôi lại như nhìn thấy Katya, nàng đứng trong gian phòng ngoài sáng lờ mờ của bà Berenstein giữa những chiếc áo khoác lông và áo măng-tô. Phải làm gì bây giờ để mọi việc có thể lặp lại như trước đây? Để tôi lại có thể ôm nàng vào lòng và nàng lại có thể hỏi tôi: “Sanya, anh đấy ư? Có phải là anh thật đấy không?”

Từ xa tôi đã nhìn thấy ngôi nhà của Berenstein. Ngôi nhà vẫn nằm nguyên ở chỗ cũ và có điều lạ là tôi cảm thấy nó đẹp hơn trước rất nhiều. Các cửa sổ đều còn nguyên lành, phía mặt chính của ngôi nhà rất tráng lệ, đẹp đẽ, màu nước sơn mới tinh lấp lánh dưới ánh nắng mặt trời. Nhưng càng đến gần tôi càng không yên tâm trước cái vẻ đẹp thần bí của nó. Tôi bước thêm lên mười bước, mười lăm bước, rồi hai mươi bước nữa. Như có một bàn tay nào đó chộp mạnh lấy trái tim tôi, giữ chặt hồi lâu rồi bỏ ra. Tim tôi lồng lên thình thình… Ngôi nhà thực ra không còn nữa. Những cái vừa rồi tôi nhìn thấy chỉ là hình vẽ trên một bức tranh ghép rất lớn mà thôi.

Giữa những ngày hè dài đằng đẵng này, trong tai tôi luôn vọng lên tiếng đại bác từ xa dội đến lúc to, lúc nhỏ, tựa như tiếng va chạm đinh tai của một tảng đá lớn bị kéo đi.

Tôi đi tìm Katya suốt cả ngày.

Tôi gặp một thiếu phụ mặt hình tam giác, nước da xanh mướt ở bên cạnh một ngôi nhà đổ nát, chị bày tôi đi tìm gặp bác sĩ Ovanesyan, ủy viên Xô Viết quận. Một ông già người Armenia hiền lành, râu không cạo và tóc bạc phơ ngồi trong phòng làm việc trước kia là của rạp chiếu bóng “Elit” (bây giờ là nơi đóng trụ sở của cơ quan Phòng không khu phố và Bộ tư lệnh Phòng chống chất độc hóa học). Tôi hỏi ông có biết Ekaterina Ivanovna Tatarinova Grigorieva không, ông trả lời rằng tất nhiên là có biết và thậm chí hồi đầu chiến tranh ông còn mời cô làm y tá giúp việc cho ông nữa.

- Kết quả thế nào ạ?

- Cô ấy không đồng ý, mà lại đi tham gia đào chiến hào, – bác sĩ nói. – Rất tiếc là từ đó về sau tôi không gặp cô ta đâu nữa.

- Bác có quen bà Rozaliya Naumovna không ạ?

Ông nhìn tôi bằng đôi mắt nhân từ của người già, khẽ cắn môi rồi nói:

- Anh là người thế nào với bà Rozaliya Naumovna?

- Chỉ là người quen thôi ạ.

- À.

Ông im lặng một lúc lâu.

- Chị ấy là một người đàn bà kiệt xuất, – ông thở dài nói. – Chúng tôi đưa chị ấy đến bệnh viện, nhưng không kịp, chị ấy đã hy sinh rồi…

Tôi quay trở về góc sân của ngôi nhà đổ nát. Mặt chính của nó đã hoàn toàn sụp đổ, nhưng phía nhìn ra góc sân này vẫn còn nguyên. Chính tôi cũng không biết vì cớ gì mà lúc ấy tôi đã bước theo dãy cầu thang đầy vôi vữa và gạch vụn lên tầng hai. Từ đây trở lên, có nhiều thanh sắt tủa ra ngăn ngang lối, chỉ từ tầng ba trở lên mới có vẻ sạch sẽ thông suốt hơn.

Cô em gái yêu quý của tôi đã từng sống trong ngôi nhà này. Chúng tôi đã từng chúc mừng nhân ngày lễ cưới của nó, cũng ngay trong ngôi nhà này. Hồi ấy tôi còn là sinh viên. Trường Hàng không, mặc quần áo màu xanh công nhân, luôn đắm chìm trong niềm hạnh phúc của những ước vọng sẽ được tham gia vào những phát hiện lớn và hầu như ngày nghỉ nào tôi cũng có mặt ở đây. Lần nào về Leningrad, tôi và Katya cũng đều trú ngụ ở ngôi nhà này, và bất cứ lúc nào, trong những ngày sống chung với nhau, chúng tôi cũng là đôi bạn gần gũi, thân thiết nhất.

Trong thời gian tôi chiến đấu ở Tây Ban Nha, Katya đã sống trong ngôi nhà này hơn một năm trời. Trong thời gian bị bao vây, nàng lại đã có lúc sống ở đây, nàng chịu đựng đói rét, cố gắng công tác, giúp đỡ mọi người, nàng phân phát cho mọi người tấm lòng thanh khiết và ánh sáng của sức mạnh tâm hồn mình. Bây giờ nàng ở đâu? Nỗi lo lắng siết chặt lấy tôi. Tôi cắn chặt răng, cố không để bị run.

Giữa lúc ấy, tôi nghe có tiếng gọi của trẻ em. Đó là một chú bé khoảng mười hai tuổi, nước da đen bủng vừa hiện ra giữa khe hở của bức tường vỡ ngay trên đầu tôi.

- Đồng chí chỉ huy, đồng chí tìm ai đấy ạ?

- Em ở đây à?

- Vâng.

- Một mình?

- Sao lại một mình ạ, em ở cùng với mẹ em chứ.

- Mẹ em có nhà không?

- Có ạ.

Em bé chỉ lối cho tôi đi, một mảnh gỗ hẹp được lót trên bức tường để làm lối đi. Mấy phút sau tôi bắt đầu nói chuyện với mẹ em, một người đàn bà có đôi mắt sưng và trông dáng rất mệt mỏi. Bà ta vừa nói, tôi đã nhận ra ngay là người Tatar. Bà ta vốn là công nhân quét dọn ở số nhà 79 và dĩ nhiên là bà rất quen thuộc Rozaliya Naumovna và Katya.

- Khi nhà số 9 bị sập, cô ấy liền đi đào đất cứu sập, – bà ta nói về Katya, và chú bé nói tiếng Nga rất sõi chen vào giải thích rằng “nhà số 9” chính là cửa hàng thực phẩm số chín. – Cô ấy đã cứu được một người quen có bộ tóc đỏ, về sau người này sống ở nhà cô ấy.

- Chị ấy đã cứu được một người quen tóc đỏ, – chú bé nhanh nhẩu xen vào giải thích. – Về sau người này sống trong nhà chị ấy.

- Một bà già thứ hai bị chết. Khakim đã đi chôn bà ấy.

- Bà già thứ hai ấy là chị của bà Rozaliya Naumovna, – chú bé giải thích, – còn Khakim là em. Sau khi bà ấy chết, mọi người đã đưa bà ấy đến nghĩa trang công cộng ở Smolenskoye và chôn ở đấy. Anh gì tóc đỏ cũng đến đấy. Chính anh ấy đã nhờ chúng em. Anh ấy cũng là bộ đội, là thiếu tá.

Bây giờ đã đến lúc phải hỏi thăm tình hình của Katya. Tôi cảm thấy rất đáng sợ, nhưng cuối cùng tôi cũng đã hỏi. Người đàn bà lắc đầu có vẻ giận dữ, bà nói rằng chính bà trong thời gian qua đã phải nằm viện ròng rã ba tháng trời. Lúc ấy bà đã tìm người đến nhà trông nhà hộ nhưng chẳng tìm được ai cả. Khi bà ta trở về thì ngôi nhà của bà Rozaliya Naumovna đã trống hoang trống hoác.

- Có lẽ nên hỏi thăm Hợp tác xã Quản lý nhà đất xem, – bà ta ngừng lại suy nghĩ một lúc rồi nói tiếp. – Nhưng người của Hợp tác xã đều chết cả rồi. Hay là cô ấy đã đi đâu rồi chăng? Cái anh chàng bộ đội được cô ấy cứu mang theo người một ba-lô rất lớn, trong đó đựng đầy bánh mì. Lúc nào anh ta cũng kè kè cái ba-lô bên lưng, không chịu đưa cho tôi cầm. Tôi bảo anh ta: “Anh là con người ích kỷ, bần tiện. Chúng tôi đã cứu sống anh. Anh không nên chỉ nghĩ có bánh mì, mà phải nghĩ đến chuyện báo đáp nữa chứ. Anh cần phải đọc kinh cầu nguyện đi!”

Tất cả tình hình mà tôi biết được chỉ có thế. Khi ngôi nhà của Rozaliya Naumovna bị đánh phá, Katya không còn ở đấy nữa. Tôi còn nói chuyện với mấy phụ nữ khác, bà nào cũng cảm động chảy nước mắt khi nhắc lại việc Katya đã giúp đỡ các bà như thế nào. Khakim gọi đám bạn của nó đến, đứa nào cũng trách cái anh chàng tóc đỏ nào đó đã hứa sẽ trả “công chôn cất” người chết ba trăm gam bánh mì, nhưng sau đó gã lại nuốt lời hứa, chỉ trả có hai trăm gam cho mỗi đứa.

Có trời mà biết được cái gã tóc đỏ mang hàm thiếu tá ấy là ai. Petya ư? Nhưng Petya không phải là thiếu tá? Vả lại không thể nào tưởng tượng được rằng Petya lại có thể ăn quỵt một trăm gam bánh mì của lũ trẻ đang bị đói kia. Thôi, mặc xác hắn ta là ai! Dù sao thì người ấy cũng đã giúp bà Rozaliya Naumovna chôn cất bà chị xấu số chu đáo. Chưa biết chừng trong những ngày gian nan này, anh ta cũng đã từng giúp đỡ Katya? Trong buổi đưa đám ma, Katya cũng ở bên cạnh anh ta. Katya đã đi bộ từ nhà đến nghĩa trang công cộng, như thế đủ biết sức khỏe của nàng không đến nỗi tồi lắm. Và từ đó trở đi, không ai nhìn thấy nàng nữa, không biết nàng đã chết hay còn sống.

Lúc này đã quá năm giờ, đầu nhức buốt khó chịu, tôi mệt mỏi đi về phía học viện Quân y. Cả học viện đã rút về khu an toàn từ ngày đầu chiến tranh, chỉ để lại bộ phận bệnh viện trực thuộc, và giờ đây cái bệnh viện trực thuộc ấy đã trở thành bệnh viện hậu phương. Khoa Răng Hàm Mặt, nơi Katya làm việc cũng để lại. Tôi được dẫn vào văn phòng. Một bà đánh máy chữ từa tựa giống dì Dasha nói rằng lúc ấy tình trạng sức khỏe của Katya rất kém, nên bác sĩ Trofimova đã giúp cô rời khỏi Leningrad.

- Đi đâu kia ạ?

- Cái đó thì tôi chịu, không biết.

- Bác sĩ Trofimova có còn ở Leningrad không ạ?

- Chị ấy ra mặt trận rồi, – người đàn bà đánh máy chữ đáp. – Từ đó đến nay tôi không biết một chút tin tức gì về hai người.

ồ chôn Hitler”. Đội lao động này hầu như toàn là phụ nữ: cô đánh máy, cô sửa bông, cô làm biên tập. Điều làm tôi ngạc nhiên là hầu hết các đội viên đều ăn mặc rất tươm tất. Tôi tò mò hỏi một cô biên tập khá xinh đẹp có làn da bánh mật tại s
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Veniamin Kaverin

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.