Vài ngày sau, tôi tìm suốt mà không thấy báo đài đưa tin tức gì về ngài cựu thị trưởng Howard Delafonte. Nếu mớ anh đào đen của tôi chính là nguyên nhân giết chết trái tim đen tối ghê tởm của ông ta, sẽ không ai đưa tin về chuyện đó. Rất có thể là vậy. Tôi quyết định bắt xe buýt đến thị trấn Cress End, nơi ông ta sống. Thị trấn này tuy có lớn hơn khu Xương nhưng vẫn chỉ là một thị trấn nhỏ so với nhiều nơi khác. Tôi tìm thấy địa chỉ của ông ta được viết nguệch ngoạc bằng mực đen trong cuốn sổ để ở ngăn kéo tủ của mẹ. Tôi tự hỏi không biết mẹ tôi ghi lại để làm gì? Phải chăng mẹ từng có ý định đến nhà người đàn ông này và làm vỡ lở mọi chuyện ngay trước mặt gia đình ông ta không. Tôi sẽ đến nhà ông ta, nơi các con ông ta đã lớn lên. Từ trạm dừng xe buýt, tôi đi bộ khoảng hơn ba cây số nữa thì đến nơi. Đứng bên đường dưới một tán cây cằn cỗi, tôi nhìn sang dinh thự nhà Delafonte - ngôi nhà sơn trắng có cửa chớp màu mận chín. Thảm cỏ trước nhà được chăm sóc rất cẩn thận, mấy bụi cây xanh rờn được cắt tỉa thành khóm hình bầu dục, đường vào nhà được lát sỏi trắng mịn. Tự nhiên tôi thắc mắc không biết có phải giới chính trị gia thích trang trí nhà kiểu này cho giống với Nhà Trắng không nữa. Trong tâm trí tôi chợt hiện lên hình ảnh những đứa con của bố chạy nhảy nô đùa trên thảm cỏ và khung cửa sổ trước nhà lấp lánh đồ trang trí Giáng sinh. Hình ảnh về một cuộc sống hoàn hảo điển hình.
Tôi đã đứng chôn chân ở góc này lâu đến nỗi ngón chân tê rần. Đúng lúc đó, bà chủ nhà Delafonte xuất hiện ở cửa trước và đi ra ngoài. Đã ba giờ kém mười lăm. Bà ấy mở thùng thư, hơi cúi đầu xuống để nhìn vào bên trong. Tôi kinh ngạc vô cùng. Người phụ nữ ấy so với người mẹ xinh đẹp của tôi đúng là một trời một vực - dáng người béo tròn, đẫy đà, mái tóc xơ cứng màu nâu đậm như sắt gỉ. Tôi bật cười khi nhìn chiếc áo len bà ấy đang mặc, từ trước đến nay tôi chưa từng thấy chiếc áo len nào xấu như thế. Nếu bà ấy thích những thứ xấu xí, có thể bà ấy cũng sẽ thích tôi. Đúng lúc định quay vào nhà, bà ấy chợt nhìn thấy tôi bên đường. Tôi vẫn đứng như trời trồng tại chỗ. Bà ấy cẩn trọng nhìn trái nhìn phải để băng qua làn xe cộ nườm nượp qua lại. Nụ cười ân cần làm bừng sáng cả gương mặt chất phác, hiền lành của bà ấy.
“Chào.” Bà ấy mở lời. “Cháu ở gần đây à?”
Tôi lắc đầu. Người phụ nữ tò mò nhìn tôi từ đầu đến chân, nhưng không phải kiểu nhìn khinh khỉnh của những kẻ giàu có khi đánh giá người khác, mà là kiểu nhìn rất dễ thương như đang có ý muốn hỏi thăm để giúp đỡ vậy.
“Cháu ổn chứ, cô gái? Trông cháu thất thần như vừa gặp ma ấy.” Phải chăng tôi đã gặp ma thật? Là bóng ma từ quá khứ của thị trưởng Delafonte.
“Cháu không sao.” Tôi đáp. “Chỉ đang hơi lạc lối một chút.” Có đúng vậy không?
“Lạc lối trên đường đời, hay lạc lối theo nghĩa đen vậy?” Bà ấy hỏi.
Tôi chỉ mỉm cười.
“Ồ vậy...” Người phụ nữ hướng người về con đường chính tôi đã băng qua để đến đây và nói “Đi hướng này sẽ ra đến đường quốc lộ. Cháu cũng sẽ tìm được nhà ga Greyhound và bến xe buýt.” Bà ấy quay sang hướng đối diện. “Tuy cô yêu thích sự sôi động của Seattle hơn và thị trấn này cũng xa xôi thật, nhưng ở đây vẫn có vài nhà hàng, bưu điện và các cửa hàng bày bán mấy thứ vớ vẩn ta chẳng cần đến, mấy thứ linh tinh ấy.” Bà ấy quay lại đối mặt với tôi, cất lời hỏi, “Cháu có cần tiền không? Cháu biết cách về nhà chứ?”
Tôi gật đầu, cảm thấy nước mắt mặn chát và nóng hổi đang dâng đầy khóe mắt, chực chờ rơi xuống. Sao người phụ nữ này lại tử tế đến vậy.
“Cháu hỏi cô câu này được không?” Tôi lên tiếng. Bà ấy ngưng bài giới thiệu về thị trấn Cress End lại và nháy mắt với tôi. Trên áo bà có dính bột mì. Không biết người phụ nữ dễ mến này đang nướng bánh gì.
“Được, cháu hỏi đi.” Bà ấy đáp.
“Cô có hạnh phúc không?”
Bà ấy mím môi chặt đến nỗi môi trắng bợt ra. “Ồ, câu hỏi lạ thật đấy. Lâu rồi chưa có ai hỏi cô câu đó...”
Người phụ nữ nhìn thẳng vào thinh không, cặp mắt nheo lại trong khi ngẫm nghĩ câu trả lời. “Hiện tại cô hạnh phúc hơn trước kia rất nhiều. Tuy không phải niềm hạnh phúc mà ngày còn trẻ cô vẫn hằng ao ước, nhưng bây giờ cô vẫn đang sống và không ai phá vỡ được ý chí sống của cô.”
Rồi bà ấy nhìn thẳng vào tôi, nói tiếp, “Cháu phải quyết tâm để sống hạnh phúc. Dù cuộc đời cháu có khó khăn thế nào, hãy cứ chấp nhận những điều đã xảy đến, vứt bỏ những quan niệm cứng nhắc cố hữu và vẽ nên con đường đến với hạnh phúc mới để theo đuổi.”
Đó là điều kỳ diệu nhất tôi được nghe từ một người khác. Một lời khuyên tuyệt vời. Nỗi hổ thẹn vì những gì bố mẹ tôi đã gây ra với người phụ nữ này khiến nước mắt lăn dài trên gò má tôi. Tôi gật đầu với bà ấy và quay người rời đi. Nếu được là con gái của bà ấy, tôi sẽ đối xử thật tốt với bà.
Tôi vừa đi qua được nửa dãy nhà thì nghe có tiếng bà ấy gọi với từ phía sau, “Tạm biệt, Margo. Hãy sống thật tốt nhé!”
Tôi không dừng chân, cũng không hề quay lại, dù cả người tôi đang rạo rực vì lời chúc phúc bất ngờ ấy. Trong lòng tôi trào dâng niềm khao khát được làm con của người phụ nữ tốt bụng ấy - người đã dành thời gian trò chuyện cùng đứa con hoang của chồng mình - đứa trẻ có thể chính là lý do khiến cuộc hôn nhân của bà ấy tan vỡ. Đến mẹ tôi còn không công nhận tôi, nhưng bà ấy - dù có quyền khinh ghét tôi - lại trò chuyện và khuyên nhủ tôi một cách tử tế đáng kinh ngạc.
Điểm dừng chân cuối cùng của tôi là quán rượu do bố tôi làm chủ. Tôi muốn xem ông ta có ở đó không, nếu không thì cũng sẽ có người khác cho tôi biết điều gì đó về ông ta. Vừa bước vào cửa, tôi đã thấy một thanh niên đang lau ly, cốc sau quầy rượu. Anh mắt anh ta ngước lên rồi rời đi rất nhanh như lời tuyên bố từ chối phục vụ tôi.
“Đến sáu giờ quán mới mở cửa.” Anh ta nói. “Mà trông cô vẫn còn quá trẻ để được vào đây.”
“Tôi đến tìm người.” Tôi lên tiếng. “Ông Delafonte...”
Đột nhiên anh ta ngẩng đầu lên, ngay lúc đó tôi nhận ra tôi đang đối mặt với anh trai mình. Anh ta như được đúc ra từ cùng một khuôn với người mẹ, có hơi giống Howard ở phần vai và khuôn miệng trễ xuống.
“Cô tìm ông ta làm gì?” Anh ta cất tiếng hỏi bằng chất giọng trầm đặc liến thoắng.
“Đó là việc của tôi.” Tôi đáp. “Ông ta có ở đây không?”
“Không. Ông ta hiện đang đi vắng...”
Tôi ngẩng đầu, thay đổi tư thế ngồi để chuyển trọng tâm cơ thể sang chân kia. Nỗi phấn khích trào dâng trong lòng. Ngay lúc này, tôi muốn hất chiếc ly khỏi tay anh ta và hét lên: Biến đi!
“Ông ta ốm sao?”
Anh ta đặt chiếc ly xuống và lau tay vào một chiếc khăn. “Cô là ai?”
Tôi không thể ngăn mình cười khẩy một cái. Thực ra tôi cũng cố ngăn mình lại, nhưng rốt cuộc thì ai quan tâm chứ?
“Con hoang của ông ta.”
Ngay lập tức, Paul - tên anh trai cùng cha khác mẹ của tôi - sững người lại. Và rồi đột nhiên anh ta lại lôi ly ra lau chùi.
“Ồ”, anh ta nói. Tôi cảm thấy thực sự băn khoăn, liệu có phải cả gia đình này đều đã biết đến sự tồn tại của tôi.
“Cô muốn tiền?” Anh ta hỏi.
“Không.”
“Vậy cô muốn gì? Một cuộc đoàn tụ? Chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra đâu.”
“Tôi muốn biết ông ta đã chết chưa.”
Chiếc ly tuột khỏi tay Paul. Nhưng anh ta kịp bắt lấy trước khi chiếc ly rơi xuống sàn. Anh ta đi vòng ra khỏi quầy rượu, đến chỗ tôi.
“Tên cô là gì?” Paul hỏi.
Tôi mỉm cười. “Gửi lời chào của tôi đến ông ta nhé. Rất vui được gặp anh, Paul.”
Paul dừng lại ngay chỗ tôi đang đứng. Tôi nhìn anh ta một lần nữa trước khi đi ra cửa.
Nhiệm vụ đã thất bại, nhưng ít nhất tôi cũng khiến ông ta ốm đến nỗi phải nghỉ làm.
Khi tôi về đến căn nhà “hố đen sự sống”, chiếc hộp trong bếp lò đã biến mất. Tôi chỉ còn biết bất lực ngồi bệt xuống sàn nhà, gục đầu vào giữa hai đầu gối. Nghỉ làm cái đầu ông ta.